Hôm nay,  

Cây hoa hồng

26/03/202311:09:00(Xem: 3439)

Truyện dịch

stowe

Tượng bán thân nữ văn hào Harriet Beecher Stowe, tại Sảnh Vinh danh Vĩ nhân Mỹ.

 

Được biết đến nhiều nhất về một tiểu thuyết về chế độ nô lệ –Uncle Tom’s Cabin (Túp Lều của Chú Tom), xuất bản năm 1852 – tác giả Harriet Beecher Stowe, nhà văn người Mỹ gốc Âu tích cực ủng hộ chủ nghĩa bãi nô. Tác phẩm này công kích sự tàn bạo của chế độ nô lệ; tác phẩm đến với hàng triệu người trong dạng tiểu thuyết và kịch nghệ, gây ảnh hưởng lớn ở Vương quốc Anh, làm sáng tỏ các yếu tố chính trị trong thập niên 1850 về vấn đề nô lệ đối với hàng triệu người, cũng như củng cố phong trào bãi nô ở miền Bắc, nhưng lại khiến miền Nam phẫn nộ. Tổng thống Abraham Lincoln tóm tắt ảnh hưởng của tác phẩm này khi tiếp kiến Stowe, đã nói, "Vậy ra bà chính là người phụ nữ nhỏ bé đã viết cuốn sách gây ra cuộc chiến vĩ đại này!"  Bà cũng đã viết nhiều truyện ngắn. 

Câu chuyện được giới thiệu sau đây được trích từ tập truyện mang tên Flowers on The Snow (Những đóa hoa trên tuyết)

 

*

 

Cây hoa hồng mộc mạc đơn sơ ấy đang ngự trong một chiếc bình trong suốt màu xanh lá cây như chiếc lá mùa xuân, và bao quanh là giá đỡ bằng gỗ mun xinh đẹp, được đặt trước cửa sổ phòng khách. Nụ hoa hồng thật bình dị, ở giữa bức màn bằng lụa là sang trọng với vải rìa mịn như tơ, và quanh đó là những vật quý hiếm đắt tiền do bàn tay người chủ nhà giàu có trang trí, nhưng cành bông hồng đơn giản là vật đẹp nhất giữa tất cả những thứ quyền quý cao sang ấy.

 

Thật thuần khiết, trinh nguyên, với những cánh hoa màu trắng, hơi nhuộm một màu son nhẹ, tràng hoa tròn, phần trên hoa hơi nghiêng, như thể sẵn sàng hòa vào thân cây!

 

Ôi! Thật là một sản phẩm quá hoàn hảo từ bàn tay con người tác tạo nên!

 

Nhưng tia nắng xuyên qua những tấm rèm này đang chiếu sáng một nét đẹp tuyệt trần hơn cả hoa hồng. Nằm trên chiếc ghế trường kỷ, trong một góc tối và đang say sưa đọc sách, một mỹ nhân với vẻ đẹp tươi mát sánh ngang với bông hoa xinh xắn kia. Gương mặt sáng hồng, vầng trán thông minh, diện mạo xinh đẹp này biểu hiện suy nghĩ sâu sắc nhất, đôi hàng mi dài, đôi môi tỏ nét nghiêm túc, nhưng dịu dàng và nhẫn nhục, toàn bộ nét hoàn mỹ ấy, đó là một ước mơ về cái đẹp thật lý tưởng.

 

– Florence! Florence! – Một tiếng gọi vui vẻ du dương như tiếng nhạc vang lên, rồi lập lại, có vẻ nóng lòng.

 

Bạn hãy quay đầu lại đi, bạn sẽ nhìn thấy một cô bé tươi trẻ, hoạt bát, điển hình cho sức sống của con trẻ với đôi mắt linh hoạt, đôi chân nhảy nhót, lướt nhẹ trên thảm, và một nụ cười với vô số lúm đồng tiền như thể hai mươi nụ cười đang tụ lại cùng lần trong một nụ cười.

 

– Florence này! – Cô bé tinh nghịch nói, –  Hãy để cuốn sách hay tuyệt đầy cả những ý nghĩ của nhà hiền triết ấy qua một bên đi, và hãy nói chuyện với một con bé chán ngắt tội nghiệp này chị ạ. Em đang suy nghĩ không biết nàng sẽ làm gì với cây hồng khi mà chị rời khỏi nơi này, bởi vì đó là quyết định của chị; thật là hoài phí khi cây hoa ấy lại được giao lại không đúng người như em. Em rất thích nhiều loại hoa, nhưng mà phải là hoa được trình bày đẹp đẽ nghệ thuật thành bó hoa để mang đến những buổi dạ hội cơ, chứ nói đến việc chăm sóc cẩn thận thì em không thể có năng khiếu đó đâu chị ạ.

 

– Đừng lo âu về vấn đề ấy, Catherine yêu quý ạ. – Florence trả lời với nụ cười tươi tắn. – Chị không có ý để em thực hành tài năng của mình đâu: chị đã có một nơi an toàn cho cây hoa quý báu của chị rồi.

 

– Ồ, vậy chắc chị đã đoán được em muốn nói ai rồi phải không? Bà Marshall đã gặp chị rồi sao; hôm qua bà đã đến, và em đã cho bà biết rằng chị sẽ rất buồn khi phải rời xa vật báu của chị, và bà nói là sẽ rất vui thích mang cây hoa vào trong nhà kín của bà. Cây hoa đang rất sung mãn, bao nhiêu là nụ sắp bung nở ra rồi! Và em đã nói thêm rằng chị sẽ rất an tâm khi giao hoa cho bà; và em biết chị cũng rất thích bà Marshall.

 

– Rất tiếc, Catherine, nhưng chị đã muốn làm khác đi, em ạ.

 

– Ủa, vậy chỉ muốn nói đến ai vậy? Ở đây chị đâu có nhiều bạn thân đâu.

 

– Bởi vì đôi khi tính khí của chị hơi khác thường một chút em ạ

 

– Nói cho em biết ai vậy chị.

 

– A, em biết rồi mà, đó là cô bé có gương mặt trắng xinh đó, người mà thường giúp chúng ta những việc vặt.

 

– Vậy sao? Cô bé Mary Stephens ư? Thật là điên rồ! Florence à, đây lại thêm một ý tưởng già nua trước tuổi của chị đó: may áo búp bê cho trẻ em nghèo khổ, đan nón và vớ cho tất cả bọn trẻ bẩn thỉu trong làng. Em nghĩ là chị thường đến thăm những nơi dơ bẩn, những con đường hôi hám ở phía sau nhà ấy nhiều hơn là đến đường Chestnut, ở đó biết bao nhiêu người chờ đợi chị; rồi còn chưa hết sao, chị lại còn đem tặng viên ngọc quý thiên nhiên này cho một người thợ may trong khi mà một người bạn thân ngang hàng cùng lứa với chị sẽ rất hân hoan đánh giá thật cao việc ấy. Thế em hỏi chị những bọn người ấy có nhu cầu gì về hoa kia chứ?

 

– Họ cũng cần hoa như chị thôi em ạ. – Florence ôn tồn trả lời.

 

– Em có để ý rằng không lúc nào cô bé đến đây mà không liếc nhìn một cách thèm thuồng vào các nụ mầm hàm tiếu hay sao? Em có nhớ cô bé đã hỏi một cách rất nhã nhặn thương tâm rằng bé có thể đưa mẹ đến để xem cây hoa của chị bởi vì mẹ của bé rất yêu hoa không?

 

– Này, hãy suy nghĩ đi, Florence, một bông hoa quý hiếm trên một cái bàn, giữa nào là thịt, trứng, bột bèo, bị giam hãm không có khí trời trong căn phòng chật hẹp  ấy, nơi mà bà Stephens giặt giũ, lau chùi, nấu nướng, rồi còn bao nhiêu việc khác nữa...!

 

– Kate à! Nếu như chị phải ở trong một căn phòng chung chật hẹp, rồi làm đủ thứ việc lau chùi rửa dọn như em nói, nếu như chị phải làm việc tất bật trong nhiều giây phút suốt một ngày trời của chị, cảnh vật duy nhất là bức tường gạch, một căn phòng bức bí, thì một nụ hoa như thế sẽ là một niềm vui vô biên đối với chị.

 

– Florence ơi, chị thật là đa cảm; những người nghèo họ không có thì giờ đâu! Hơn nữa, em không nghĩ là nụ hoa sẽ sống lâu ở nhà họ, đây là một loại hoa cần chăm sóc đặc biệt, và phải có môi trường phù hợp nữa.

 

– Chuyện đó thì không đúng đâu em, một bông hoa không cần biết đến người chủ là giàu hay nghèo, và ánh dương chiếu vào phòng của bà Stephens cho dù qua khung cửa sổ rách nát đến đâu thì cũng toả sáng và ấm cúng như tia nắng xuyên qua cửa sổ của chúng ta đây thôi. Thượng đế rất quang minh, không phân biệt bất cứ người nào em ạ. Rồi em thấy hoa cũng sẽ xinh tươi như khi ở trong nhà chúng ta thôi.

 

– Em nghĩ thật là kỳ lạ, nếu muốn tặng cho người nghèo, thì hãy nghĩ đến những thứ mà họ rất cần như thức ăn, áo quần, chị thấy không?

 

– Có thể, nhưng khi đã tặng họ những thứ như thế rồi, tại sao ta không thêm một chút gì đó thật thú vị? Chị biết có những người bần cùng trước đó vẫn có những tình cảm về thiên nhiên, nhưng khi họ không còn ngay cả những thứ tối thiểu cho cuộc sống thì những suy nghĩ thanh cao ấy cũng thui chột mất đi. Như bà Stephens, mỗi khi nhìn thấy những đồ vật xinh xắn, như hoa, chim muông, nghe được nốt nhạc lãng mạn, bà cũng xao xuyến như chị thôi, nhưng vì không có phương tiện nên bà dành chấp nhận tất cả những thứ xoàng xĩnh xấu xí.

 

– Em có nhớ bà ấy rạng rỡ như thế nào khi chị tặng cho con của bà cái nón len viền giải ruy băng thật đẹp, và bà ấy đã cực nhọc nhiều ngày để may một cái áo xinh xắn cho ngày rửa tội của bé không? Chị nghĩ rằng khi nhận món quà xinh ấy, bà ấy sẽ mãn nguyện hơn khi được nhận một bao gạo hoặc bột, em à

 

– Chúa ơi, tất cả những điều này có thể là sự thật, nhưng em chưa bao giờ nghĩ đến điều đó, em chưa bao giờ nghĩ rằng những người làm việc cực nhọc như thế lại có thể có một chút ý tưởng về khiếu thưởng thức và nét đẹp chị ạ.

 

*

 

Trong một căn phòng rất nhỏ, ánh sáng chỉ lọt qua khung cửa sổ duy nhất, sàn lát gỗ không có thảm, trong góc là chiếc giường màu trắng, trên bàn có vài món thức ăn bày trên đĩa không đồng bộ; và trên bệ cửa sổ là cây anh đào đựng trong hộp nhỏ, là vật sáng sủa duy nhất.

 

Một người phụ nữ nhợt nhạt và ốm yếu đang ngả lưng trên một chiếc ghế dài cũ kỹ, mắt nhắm và đôi môi co lại vì đau đớn. Cô xoay mình trong vài phút, để tay lên mắt, rồi cô tiếp tục một cách uể oải công việc mà cô bắt đầu từ sáng. Cửa mở toang ra, và một cô bé mảnh mai khoảng mười hai tuổi bước vào, đôi mắt xanh thẫm thật hân hoan vì vui thích, trên tay là chậu đựng cành cây nhỏ mà họ hằng ao ước.

 

– Mẹ ơi, hãy xem nè! Một cái thì nở rồi, còn hai nụ sắp bung ra đây mẹ, rồi bao nhiêu là cành giâm đang nhô lên, thấy không mẹ! 

 

Gương mặt  bà mẹ rạng rỡ hẳn lên khi nhìn vào cây hoa, rồi lướt đến vẻ mặt của con gái mà từ rất lâu rồi bà chưa thấy ánh lên niềm vui ngập tràn như thế.

 

– Xin Thượng Đế ban ơn lành cho cô ấy! Bà mẹ vô tình thốt lên.

 

– Cô Florence phải không mẹ! Tất nhiên rồi mẹ ạ, con biết thế nào mẹ cũng nghĩ về cô ấy. Mẹ cảm thấy thật nhẹ nhàng sảng khoái khi nhìn đóa hoa phải không mẹ? Giờ đây thì mẹ không cần phải nhìn ngắm một cách thèm thuồng bao nhiêu là hoa hồng ở chợ nữa, vì cây hồng này đẹp tuyệt vời hơn hẳn tất cả những đóa hoa mà ta đã trông thấy từ xưa nay phải không mẹ? Bao nhiêu là nụ, rồi còn mùi thơm nữa! Bây giờ mình đặt nó ở đâu nhỉ?

 

Rồi cô bé vừa nhảy nhót vừa đặt cây hoa chỗ này, rồi thụt lùi để ngắm, rồi lại mang đặt nơi khác, cứ thể cho đến khi mẹ bé bảo rằng hoa chỉ sống và trở nên xinh đẹp khi có ánh mặt trời.

 

– Cô Florence thật dễ thương biết chừng nào phải không mẹ? Cô ấy đã tặng chúng ta bao nhiêu là quà, nhưng con nghĩ món quà này là đẹp nhất!

 

Rồi bà Stephens quên hẳn đi những lo âu và bệnh hoạn của mình khi nhìn thấy con gái hạnh phúc như thế.

 

Florence không thể nào ngờ rằng, khi cô tặng món quà này, một sợi chỉ vô hình được dệt từ đó để định mệnh của cô được hình thành.

 

*

 

Vào một buổi chiều mùa đông lạnh giá, một người kỵ sĩ cao lớn thanh lịch đến ngôi nhà của hai mẹ con cô bé để nhân bộ áo quần anh đã nhờ họ may sửa. Anh là một người từ nơi khác đến, được vài người quen giới thiệu công việc của bà Stephens. Anh ta đang chuẩn bị bước ra cửa, bỗng nhìn thấy cây hoa hồng và nhìn ngắm một cách thích thú.

 

– Cây hoa mới đẹp làm sao! – Anh buột miệng thốt lên.

 

– Dạ vâng thưa ông, cô bé Marie trả lời, đó là quà của một tiểu thư cũng xinh đẹp yêu kiều như cánh hoa cô tặng mẹ con cháu đó ạ.

 

– À vậy sao!

 

Người lạ mặt nói, vừa nhìn cô bé bằng đôi mắt đen sáng với vẻ mặt vui mừng và kinh ngạc.

 

– Và tại sao cô ấy lại tặng cho bé, hở cô bé nhỏ xinh?

 

– Bởi vì mẹ con cháu rất nghèo và mẹ cháu bị bệnh, và mẹ sẽ không thể mua được một bụi hoa hồng đẹp như vậy. Mẹ và cháu trước đây đã có một khu vườn, và cả mẹ và cháu đều rất yêu hoa; cô Florence biết được điều này, và cô ấy đã tặng bông hồng cho mẹ cháu.

 

– Florence ư? – Người thanh niên hỏi lại.

 

– Vâng, cô Florence l'Estrange, một cô gái rất xinh đẹp. Người ta bảo cô ấy không phải là người ở thành phố này; tuy nhiên, cô ấy nói tiếng Anh giống như những người phụ nữ khác, nhưng giọng nói nhẹ nhàng hơn.

 

– Bây giờ cô ấy còn sống ở đây không? ở thành phố này? – Ông ấy tiếp tục hỏi.

– Thưa không ạ, cô ấy đã đi nơi khác được vài tháng, bà góa phụ trả lời, bà vừa nhận thấy nét mặt đăm chiêu thất vọng của vị khách.

 

Nhưng rồi bà nói thêm:

 

– Ông có thể biết được tin tức về cô ấy đây ạ. Địa chỉ nhà dì của cô ấy là ... số 10 đường...

 

Và sau đó, Florence nhận được một lá thư, khi nhìn thấy nét chữ viết, cô thật xao xuyến.

 

Trong những năm đầu của thời thơ ấu, khi cô cùng gia đình cư ngụ ở Pháp, cô đã quen thuộc với nét chữ này. Cô ấy đã yêu như một người phụ nữ như cô biết yêu – chỉ một lần. Nhưng quá nhiều trở ngại từ người thân, bạn bè, sự chia cách lâu dài, nhiều năm đau khổ đã trôi qua, đến nỗi cô tin rằng đại dương đã khép lại giữa cô và đôi tay yêu quý này; và đó là lý do tại sao khuôn mặt diễm kiều của cô lại mang những nét hằn vì buồn đau.

 

Nhưng bức thư này cho cô biết rằng anh vẫn ở gần đây, rằng anh đã tìm ra được cô và theo bước chân của cô, như người ta phát hiện ra lòng sông có nước trong suốt và tinh khiết lâu ngày đã bị cây xanh che khuất, khi anh dõi theo bao nhiêu việc từ thiện cô đã gieo trên mọi nẻo đường, và rằng cô là thiên thần của bình an và hạnh phúc.

 

… Và có lẽ đoạn kết của câu chuyện thần tiên này đã thật thơ mộng, phải không ạ?

 

– Harriet Beecher Stowe

Tháilan phỏng dịch

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Buổi sáng cuối cùng ở Chamonix im lặng lạ thường. Suốt đêm qua, tôi đã để cửa sỗ mở toang, nên khi giựt mình thức dậy, ánh sáng trong suốt của núi tràn đầy phòng. Tấm mền len và drap giường trắng lóa như được phủ lân tinh. Không một tiếng động nào từ dưới đường phố vọng lên. Chỉ có hơi lạnh. Tôi nằm co ro và nghĩ đến ly cà-phê đen. Mùi thơm sẽ bốc lên cùng hơi nóng, rồi tan dần vào không khí. Giống như ký ức. Đôi giày đóng đầy đất bùn và gậy trekking đã xếp gọn gàng trong bao duffle cùng với áo quần đi núi từ đêm hôm qua. Chúng nằm bên cửa, sẵn sàng lên đường. Bên ngoài cửa sổ, rặng núi Mont Blanc vẫn kia, vẫn vĩ đại, vẫn trùng điệp, vẫn lặng lẽ xa xăm. Tôi nghĩ đến 11 ngày vừa qua và cảm thấy buồn buồn, làm như có điều gì tôi đã đánh mất, hay đã để quên trên ngọn núi kia, ở đâu đó, trong quãng đường dài tôi đã đi.
Năm nào cũng vậy, tháng 7 tháng 8, mùa mưa, mùa lũ lụt lại về trừng phạt quê hương Việt Nam. Từ rất xa xôi, người Việt khắp nơi thấp thỏm buồn rầu và lo sợ cho cảnh ngập lụt, bão tố hoảng loạn ở nhà, không riêng chỉ miền Trung mà cả miền Nam cũng lụt, miền Bắc và Bắc trung phần bị càn quét dữ dội do bão Bualo, rồi kế đến là bão Matno. Miền Bắc và cả thủ đô Hà Nội mưa bão trước chưa kịp khô, lại ngập nước, đường phố hóa thành sông do vỡ đập nước Lạng Sơn, nước sông dâng cao đỉnh điểm, tại thành phố còn có một số tổ chức cứu trợ, nhưng kẹt là ở các tỉnh miền cao, nước lên quá mau, đa số dân cư phải leo vội lên trú trên những mái nhà cao hơn. Cũng tại xả nước các đập thủy điện nữa v.v…
Đợi, và đợi. Có đến khoảng gần một trăm người xếp hàng đợi. Mới có năm giờ sáng thôi! Trời Đà Lạt đổ sương xuống nghe ướt tóc, ướt vai. Phòng bán vé còn đóng kín cửa. Sáu giờ mới bán vé. Biết vậy rồi, nhưng đám đông người này vẫn đến sớm chờ đợi. Chẳng qua là số xe có giới hạn, mình đến sớm mới mong có xe đi, nếu không thì phải về và trở lại vào ngày mai. Người ta nhìn nhau, như ngầm nói qua đôi mắt rằng đến sớm chắc ăn hơn. Mà không chừng có người đã ngủ đêm trước phòng bán vé để được xếp hàng phía trên cùng.
Tháng 7 trời xanh cao, mùa lên hâm nóng. Mặt đất nung nhiệt ngấm ngầm địa chấn, như muốn cùng người rung vang lời ngân quá khứ. Tháng 7 gọi về hàng phượng đỏ thắm rung rinh chùm nở, thứ lung linh ảo mờ, gần gụi mà xa thẳm, “mù không lối vào...” (TCS). Vang vang trong gió, lời trẻ thơ láng giềng vọng lại đùa vui tiếng nước...
Nếu Thanksgiving ở bên Mỹ mang màu sắc rộn rã chuẩn bị cho mùa Giáng Sinh, thì Thanksgiving bên Canada lại rơi vào Tháng Mười dịu êm, có đủ màu sắc nâu vàng đỏ của lá cây chuyển màu cuối Thu, với màu cam của những trái pumpkins cho lễ hội Halloween . Những ngày này, gia đình tôi chộn rộn với những đợt “thu hoạch” cuối cùng, chuẩn bị dọn dẹp vườn tược sạch sẽ trước khi mùa lạnh đang đến. Theo ý nghĩa nguyên thủy của Thanksgiving là Tạ Ơn đất trời cho mùa màng bội thu, thì năm nay gia đình tôi cũng xin được Tạ Ơn. Mấy cây táo và plum trúng mùa trĩu quả, hái mấy lượt vẫn không hết. Những quả plum tím căng mọng ngọt ngào, vừa đem tặng bạn bè, hàng xóm, vừa để đông lạnh ăn dần, mà vẫn còn mấy rổ tươi đầy ắp. Mùa táo, nhiều gia đình Việt Nam thích đem ngâm chua ngọt, trong khi những người bản xứ làm mứt táo, hoặc sên táo làm apple pie, một trong những món bánh khoái khẩu của nhiều người trong bàn ăn Thanksgiving bên cạnh pumpkin pie .
Nhạc sĩ Hùng Lân mất vào ngày 17/9/1986 tại Sài Gòn. Hôm nay, ngày 17/9/2025 tôi nhớ tới ông. Tính ra đã 39 năm. Ba năm trước, tại nhà thờ Phanxicô Dakao đã có một lễ giỗ 36 năm ngày mất của ông. Linh mục Đỗ Xuân Quế, chủ tế lễ giỗ, đã nói trong thánh lễ: “‘Hôm nay là lễ giỗ thứ 36 của ông Phêrô Hoàng Văn Hương tức là nhạc sĩ Hùng Lân. Ông là người đáng cho chúng ta trân trọng và quý nhớ. Vậy chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện cho ông được vào nước Thiên Chúa. Nếu ông đã được vào rồi thì xin nhớ đến chúng ta là những người đang tiếp tục cuộc hành trình nơi dương thế đang hướng về Nước Trời.” Sau thánh lễ là chương trình tưởng niệm trong đó có tiết mục trình diễn nhạc của Hùng Lân, cả nhạc đạo lẫn nhạc đời. Người dẫn chương trình cho tiết mục này là nhạc sĩ Cao Huy Hoàng, đến từ Phan Thiết. Ông chia sẻ: “Nếu ngày ấy, thầy Hùng Lân qua đời, Chúa hỏi ‘nén bạc của ta đâu?’, thầy có lẽ không trả lời hoặc chưa trả lời kịp thì hôm nay, chúng ta có thể nhìn lại và thấy được rằng nén bạc của thầ
« Chưa gặp em tôi đã nghĩ rằng, có người con gái đẹp như trăng… khi gặp em rõ thấy một bà chằng! » … Chằng tinh, hay chằn tinh là một loài người hay cũng coi là một loài quỷ hung ác. Tùy vào hoàn cảnh, tùy vào người ta gặp, ta đối diện. Nay thế giới có nhiều loại chằn tinh, chằn ở trong mọi lãnh vực, chính trị, văn hoá, kinh tế, giáo dục và cả trong xã hội v.v…Do đấy, ta muốn tìm hiểu nguyên do chằn ở đâu ra. Hẳn là trong văn hóa Nam Bộ Việt Nam - Ấn Độ - Khmer…? Theo tác giả Huỳnh Thanh Bình, chằn là một loại sinh vật truyền kỳ, làm hộ pháp, canh giữ chùa, tháp, chánh điện phật giáo nam truyền và chiếm vị trí quan trọng trong văn hóa và tâm linh của người Khmer nam bộ, phổ biến trong kho tàng truyện kể dân gian và tuồng tích sân khấu của đa phần người Đông Nam Á.
Cả ông ta và tôi cùng cười xòa. Ui, mình đúng là đãng trí thứ thiệt. Phần Lan đã gia nhập Eurozone từ 1999 và dùng Euro ngay từ buổi đầu như những quốc gia thành viên khác. Ngày trước, nhắc đến những thủ đô bắc Âu, người ta thường nghĩ đến Oslo giàu có của Na Uy, Copenhagen trẻ trung của Đan Mạch. Giờ đây, Helsinki dần dà từng bước góp mặt vào danh sách những thủ đô được du khách ưa chuộng. Sức thu hút của thành phố ngày càng tăng. Từ 15 năm nay, Helsinki là một trong những thành phố tân tiến nhất Âu châu.
Bà xỏ chân vào đôi dép, lê lẹp xẹp vào buồng. Bà lấy ra một bịch nhựa trong đó đựng trăm thứ lặt vặt không ra hình thù gì. Bà nhìn trước, ngó sau như người ăn trộm. Chị mua ve chai đứng ở ngoài cửa bếp. Như một việc đã quá quen thuộc, chị đón lấy cái túi, móc vào cái cân xách. Trước kia chị phân loại giấy ra giấy, nhựa ra nhựa, nay thì hai bên đã thỏa thuận với nhau là có một cái giá trung bình cho toàn thể. Bà thì nhìn đăm đăm vào mớ hàng lặt vặt ấy như nhìn một thứ gì quý giá lắm. Mà không quý sao được, vì đó là kết quả của nhiều tuần bà lượm lặt và cất giữ.
Cho tới bây giờ, thỉnh thoảng trong giấc ngủ tôi vẫn nằm mơ tới chuyện thi Tú tài và giật mình tỉnh dậy, mừng húm mà mồ hôi vẫn đổ ra. Trong lần thi Tú Tài I, tôi đã thức đêm thức hôm học đến bị yếu phổi. Chữ “Tú Tài” nặng nhọc với tôi như vậy tuy nghĩa của nó là “đẹp đẽ, có khả năng, tài giỏi”.Ông Tú Xương có lẽ cay đắng với chữ “Tú Tài” không kém gì tôi. Ông vác lều chõng đi thi tất cả 8 lần, từ khoa Bính Tuất (1886) tới khoa Bính Ngọ (1906). Ba lần đầu ông đạp vỏ chuối, tới lần thứ tư, năm Giáp Ngọ (1894), ông mới vớ được cái Tú Tài nhưng là Tú Tài đậu vớt, chữ ngày đó gọi là “Tú Tài Thiên Thủ”. Ông chết với cái danh Tú Tài, chẳng bao giờ kiếm được cái “Cử Nhân” mặc dù vẫn cặm cụi đi thi.
*SONG THAO Tôi chừ chỉ chơi thể thao trên ghế sa-lông, ngồi coi người ta chơi. Thứ tôi coi người ta chơi là hockey, tennis và đôi khi bóng tròn. Mình không còn khả năng thì coi người ta chạy nhảy cũng là một cách chơi. Cách chơi biết mình biết ta. Các ông bạn tôi cũng chơi như tôi. Có điều mỗi người chơi theo ý thích riêng của mình. Ông Hoàng Xuân Sơn, ông Luân Hoán cũng na ná như tôi. Nhưng ông Luân Hoán hơi ngả về bóng tròn. Ông Hồ Đình Nghiêm máu mê hơn. Ông sa đà vào bóng tròn. Thời gian vừa qua, ông coi giò coi cẳng các nữ nhân tranh giải bóng tròn thế giới FIFA một cách mê mệt. Ngày ngày ông bá cáo bà con trên Facebook tường tận về từng cặp chân vàng mà trắng, cô nào đá hay, cô nào chụp banh giỏi, ông rành như có họ hàng thân thiết.
Bạn có thể xem bài này như truyện ngắn. Có thể gọi là nhiều truyện ngắn trong một truyện ngắn, hay là ghép từ nhiều mẩu truyện. Bạn cũng có thể đọc như tùy bút, hay bản tin, hay là vân vân... nghĩa là bất cứ những gì có chữ, có thể đọc lên, có thể nghe được như âm thanh. Đó là những gì tự nhiên hiện lên trong trí nhớ của tôi, những gì tôi bất chợt nghe bên tai khi ngồi bên sông, ven biển, góc rừng, hay khi nửa đêm nhìn ra hàng hiên.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.