Hôm nay,  

Lấy vợ thời bao cấp

13/04/202319:13:00(Xem: 4067)
Truyện

alley-in-saigon

Chiều nay có cuộc họp sau giờ dạy, Cầm về nhà muộn hơn mọi ngày. Vừa mệt vừa đói bụng ngồi vào bàn ăn thấy món thịt kho trứng bên đĩa rau lang luộc chấm nước mắm tỏi ớt ngon lành chàng chưa kịp khen thì mẹ chàng đã khoe:
     – Thịt Lan bán đấy. Con bé để ý đến con, thích con, nên nó luôn lấy lòng mẹ, cắt miếng thịt ngon cho mẹ lại cân đầy đủ nữa cơ.
     Cầm chẳng quan tâm đến tình cảm của Lan mà hỏi:
     – Thế thường thì cô ấy cân thiếu hở mẹ?
     Bà mẹ hiểu ý con trai muốn châm chọc, bà lườm con một cái và bênh Lan:
     – Nghề gì ăn nấy. Ai lấy nó là không sợ thiếu protein suy dinh dưỡng thời buổi bao cấp này.
     – Thời buổi bao cấp khốn khó mà còn ăn bớt ăn xén tí thịt của người mua, con thấy nó làm sao ấy.
     – Con cứ sĩ diện cứ thanh cao đi, nghề dạy học của con mỗi tháng được mua nửa ký thịt chẳng bõ gì. Mẹ phải kho mặn lên cả nhà mình 4 đầu người mới đủ ăn cả ngày.
     Cầm nghĩ đến nửa ký thịt tiêu chuẩn, mỗi tháng môt chị giáo viên trường tình nguyện đi xếp hàng mua mang về cho cả khối chứ chẳng dễ dàng gì chàng đi mua được. Ngồi bên con bà mẹ ngọt ngào rủ rê:
     – Mẹ chọn con Lan rồi, chỗ hàng xóm quen biết nhau, vừa xinh vừa nhanh nhẹn đảm đang, con suy nghĩ nhanh lên kẻo người khác rước mất, mấy cô thương nghiệp là đắt giá lắm đấy.
     Bà mẹ lại kể công cho Lan:
     – Hôm 28 Tết vừa rồi nghe tin quầy thực phẩm có bán giò lụa, mỗi hộ một ký, mẹ đến nơi thấy người ta chen sấp chen ngửa nhau cãi cọ í ới mà ngao ngán chịu thua dù biết rằng giò nóng hổi mới ra lò là ngon và rẻ hơn nhiều so với chợ đen. May quá mẹ thấy con Lan cũng đang phục vụ ở đấy, thế là mẹ nhờ nó mua giùm cây giò một ký, nó mang ra cho mẹ những 2 cây giò bảo là mẹ mua 1 ký, còn 1 ký nó biếu tặng gia đình mình ăn Tết.
     Chàng cằn nhằn:
     – Mẹ kể điệp khúc này mấy lần rồi, con thuộc lòng rồi. Nhưng mẹ nhận quà của Lan làm gì!
     Bấy lâu nay Cầm đã âm thầm có cảm tình với cô giáo Hương dạy cùng môn toán cùng trường, chàng luôn tìm cách nói chuyện với nàng, săn sóc ân cần nàng. Nhưng chưa thấy hi vọng gì thì nghe tin Hương sắp lấy chồng, là anh trưởng phòng vật tư nào đó. Hương đi lấy chồng đám giáo viên còn lại chẳng còn ai sáng giá, người thì đã chồng con, người thì xấu, người thì già quá lứa nên Cầm chẳng màng tới đồng nghiệp nữa. Chàng đang buồn tình. Đối với cô Lan hàng xóm tuy chàng chưa có cảm tình ngày nào nhưng cũng không hề ghét nàng chút nào.  Khi Cầm còn là sinh viên sư phạm đã mấy lần Lan mang vở đến nhờ chàng chỉ dạy thêm môn toán, chàng đã chỉ tận tâm thế mà Lan vẫn thi rớt tốt nghiệp phổ thông. Lan nghỉ học và xin được vào thương nghiệp bán cửa hàng thực phẩm cho đến giờ.
     Có lần vì mẹ bận đi đâu đó, cô em gái thì đi học, buổi sáng Cầm đi chợ đến quầy thịt của Lan thấy người mua vừa xếp hàng vừa bu quanh chen lấn nhau, tiếng người mua ngọt ngào năn nỉ có, than thở cũng có:
     – Em ơi, làm ơn bán cho chị lạng thịt nạc về nấu cháo cho con đang ốm.
     – Cháu bán cho bác nửa ký thịt mông sấn này. Khổ quá, bác đợi hơn nửa tiếng rồi.
     Tiếng Lan sa sả mắng khách hàng và ra oai:
     – Cô bác giành giật chen lấn như chuẩn bị cướp cô hồn thế hả? Giữ gìn trật tự tôi sẽ giải quyết từng người.
     Không ngờ cô bé hàng xóm từng rụt rè e ngại lấp ló ở cửa nhà chàng mong gặp chàng để hỏi bài toán khó mà nay thành cô bán thịt của hợp tác xã chanh chua chảnh chọe đến thế. Chàng khó chịu tránh xa không thèm mua thịt nữa dù mẹ chàng đã dặn hôm nay phải mua nửa ký thịt. Mẹ chàng luôn hớn hở gán ghép:
     – Con lấy Lan là xứng đôi vừa lứa.
     – Xứng chỗ nào mẹ, con nhà giáo, Lan bán thịt heo?
     – Thì người nọ bổ sung người kia. Hai vợ chồng cùng nhà giáo thì ăn… bụi phấn hả? Mỗi năm có một ngày nhà giáo được mấy món quà còn toàn là hoa, rác cả nhà.
     Bà mẹ đưa ra các ưu điểm lấy Lan lợi hại thế nào, chẳng riêng gì mua thịt mà mua gạo mua bách hóa, v.v… cũng dễ dàng mau lẹ vì trong ngành thương nghiệp chúng quen biết nhờ cậy lẫn nhau. Cầm đã vặn vẹo:
     – Nhưng ngoài ngành thương nghiệp là mẹ bó tay nhé. Thí dụ như khi mẹ nộp sổ khám bệnh cũng phải đợi từ sáng đến trưa. Hay là mẹ kiếm nàng dâu ngành y tế đi?
     Bà mẹ cười tự tin:
     – Mấy cô y tá cũng phải ăn thịt, đi mua thịt. Con Lan ưu đãi bán cho họ miếng thịt ngon thì khi Lan đi khám bệnh cô ý tá cũng ưu tiên cho Lan vào sớm. Tóm lại mẹ chỉ giới thiệu tôi là mẹ Lan bán thịt heo chợ Hạnh Thông Tây là xong ngay.
     Bà mẹ cứ dỗ dành, Cầm thì đang thất tình cô Hương. Rồi Cầm cũng xuôi lòng nghe theo lời mẹ, cô Lan xinh đẹp chỉ mỗi tội bán thịt cho ai cũng cân non một tí. Cô Lan yêu chàng chắc sẽ nghe lời chàng, lấy nhau về chàng sẽ chỉ dạy cho Lan thành người tử tế buôn bán đàng hoàng.
 
***
 
Khi Cầm phát thiệp cưới bạn bè, chàng đã nhận được lời khen nồng nhiệt từ một anh đồng nghiệp:
     – Thời buổi này lấy vợ thương nghiệp là nhất, lương nhà giáo chúng mình thì ba cọc ba đồng.
     Một chị đồng nghiệp thì cụ thể hơn:
     – Vợ bán thịt heo tha hồ ăn thịt heo nhé.
     Chàng giật mình và cảm thấy ngượng ngùng. Họ “kinh nghiệm” quá, không biết anh nọ chị kia đã từng mua thịt heo của Lan và từng bị cân thiếu chưa?
     Cầm cưới Lan, mẹ chàng cưới về được một nàng dâu thương nghiệp giỏi giang. Mỗi tan buổi chợ Lan lại mang về nhà được ít ký thịt dư thừa kín đáo để trong chiếc giỏ xách bằng cói. Tùy từng hôm, hôm nào “khéo tay” thì những vài ba ký thịt, hôm nào xui “lỡ tay” cũng hơn một ký. Thịt nhà ăn không hết mẹ chồng còn phải làm ruốc chà bông để dành. Lần đầu tiên Cầm lựa lời khuyên vợ:
     – Em vừa vừa phải phải thôi mỗi ngày dư ra vài ký thịt thế… Tội chết.
     Vợ ngạc nhiên nhìn chồng:
     – Anh mới từ cung trăng rơi xuống đất hả? Anh cứ đi từ Nam ra Bắc, từ cửa hàng bách hóa, cửa hàng thực phẩm, cửa hàng ăn uống, xem có mua được cái gì muốn mua không? Chúng nó tuôn ra chợ đen hết, làm giàu đấy, em chỉ có một vài ký thịt mỗi ngày nhằm nhò gì.
     Chẳng cần phải đi đâu chàng đã biết rồi, dạo còn độc thân có lần thèm phở chàng vào cửa hàng ăn uống quốc doanh gọi một tô, cô mậu dịch viên mặt nặng mày nhẹ, chắc mới bị chồng chê hay bồ bỏ nên đang hận tình hận cả thế gian, bưng ra tô phở để trước mặt chàng và quay ngoắt đi. Chàng thấy trên bàn không có thứ gia vị gì, bàn bên cạnh cũng không. Chàng đành lên tiếng gọi xin chanh ớt dù biết thế nào cũng bị mắng, bà nhân viên đang đứng tán gẫu với một bà trong quầy thu ngân, quay ra bực bội cứ như bà ta và chàng có mối thù truyền kiếp:
     – Sao lúc nãy không nói? Chanh ớt hả? Đợi tí, phục vụ đang bận. Có tô phở rẻ tiền mà còn đòi hỏi! Khiếp!
     Tô nước lèo nhạt nhẽo, cô nhân viên còn nhạt nhẽo hơn và có cả sự tàn ác nữa, chàng ăn phở trả tiền nhưng bị các nhân viên nhà hàng quốc doanh quen thói cửa quyền đối xử như ban ơn ban phước. Vừa ăn bớt của dân vừa được quyền chửi dân. Với vài miếng thịt bò trên bát nước lèo toàn mùi vị bột ngọt cũng được gọi là tô phở. Chắc là tổ nấu nướng nhà bếp đã ăn bớt tiền mua xương thịt mới ra nông nỗi này.
     Thấy vợ đanh đá chàng xìu xìu lại:
     – Ngày xưa em dốt môn toán nhờ anh chỉ dạy mà em vẫn học dở thi rớt, bây giờ em tính toán giỏi đấy.
     Lan cười e lệ… dễ thương:
     – Anh khờ thế, em đâu cần học anh môn toán, em chỉ kiếm cớ gặp anh thôi.
     Và vợ ra lệnh:
     – Anh cứ lo dạy học trò những điều hay lẽ phải còn chuyện bán thịt ngoài chợ của em thì khác, anh đừng động chạm vào.
     Trong ngành giáo dục có khác gì, cũng ăn bớt, bóc lột. Một chuyện nhỏ là học sinh phải nộp “kế hoạch nhỏ” giấy vụn để nhà trường thu gom nộp cho nhà máy làm giấy, nhưng học sinh không dễ mua được cuốn vở giá nhà nước trong khi ngoài chợ đen mua bao nhiêu cũng có. “Chợ đen” không có nhà máy sản xuất giấy, không sản xuất tập vở, vậy sách vở ở đâu ra, ngoài chuyện người ta ăn cắp ăn bớt tuồn hàng ra ngoài.  Chàng đòi hỏi chi những điều tốt đẹp khi xã hội chung quanh bao kẻ thực dụng thời cơ.
     Khi Lan sinh đứa con đầu lòng, mẹ chàng trông cháu nội cho Lan bán hàng. Thằng bé hơn 1 tuổi mẹ chàng đã hầm xương hay luộc thịt nạc lấy nước nấu cháo cho cháu ăn. Mẹ chàng hả hê nói với chàng:
     – Mẹ nó không bán thịt liệu ngày nào cũng mua được thịt nấu cho nó như thế này không?
     Cầm chạnh nhớ đến hôm nào chàng đi chợ ai đó đã năn nỉ Lan bán cho chị ta lạng thịt về nấu cháo cho đứa con đang ốm. Chàng đành chịu thua bà mẹ và cả Lan vợ chàng. Hai người phụ nữ này luôn có lý.
 
***
 
Mấy năm sau, nhà nước thất bại với đường lối bao cấp, đã đổi mới cơ chế buôn bán, các tư nhân có thể bán những mặt hàng thịt cá rau củ hay nhu yếu phẩm. Lan thất nghiệp nhưng nàng đã nhanh chóng nhạy bén với thị trường mới, ra ngay một phản thịt heo, nghĩa là nàng vẫn bán thịt heo trong chợ Hạnh Thông Tây như ngày trước nhưng không bán cho hợp tác xã nhà nước mà chính mình làm chủ. Bây giờ tình thế đảo ngược, người bán hàng cần khách chứ khách không cần người bán nữa, vì còn những hàng khác để mua khi giá cả cũng như nhau. Cô Lan bán thịt hách dịch ngày nào hiền dịu lịch sự hẳn ra, ông đi qua bà đi lại cô đều mời chào đon đả:
     – Bác mua thịt ạ.
     – Chị ơi mua giúp em miếng thịt.
     Bao giờ cô cũng bán miếng thịt ngon cho khách hàng và cân đúng cân đủ. Không biết có ai còn nhớ mối “hận” xưa bị Lan mắng mỏ và cân non cân thiếu thịt không? Nhưng khách hàng luôn có người nọ người kia, kẻ cũ người mới, Lan vẫn mua may bán đắt rủng rỉnh kiếm tiền.
Có hôm bán đắt hàng chỉ còn mớ thịt vụn mang về nhà kho tiêu nhưng Cầm vui vẻ khen:
     – Những miếng thịt vụn này từ tay em buôn bán tảo tần, thực sự làm anh ngon miệng.
     Lan hiểu ý chồng, cười cười:
     – Đôi lúc em cũng… tiếc thời “vàng son” ăn thịt heo miễn phí. Dạo em bán hàng cho hợp tác xã chắc nhiều khách hàng đi chợ và những kẻ ghen ăn tức ở oán ghét em lắm. Nay em bán hàng do chính mình làm chủ vất vả hơn mà lòng mình lại yên vui thoải mái hơn.
     Lan âu yếm nhìn chồng và tiếp:
     – Đảm đang thế mới xứng với chồng giáo viên của em vừa đạt được danh hiệu giáo viên giỏi toán cấp quận chứ.

 

– Nguyễn Thị Thanh Dương

(March 22, 2023)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.
Buổi sáng cuối cùng ở Chamonix im lặng lạ thường. Suốt đêm qua, tôi đã để cửa sỗ mở toang, nên khi giựt mình thức dậy, ánh sáng trong suốt của núi tràn đầy phòng. Tấm mền len và drap giường trắng lóa như được phủ lân tinh. Không một tiếng động nào từ dưới đường phố vọng lên. Chỉ có hơi lạnh. Tôi nằm co ro và nghĩ đến ly cà-phê đen. Mùi thơm sẽ bốc lên cùng hơi nóng, rồi tan dần vào không khí. Giống như ký ức. Đôi giày đóng đầy đất bùn và gậy trekking đã xếp gọn gàng trong bao duffle cùng với áo quần đi núi từ đêm hôm qua. Chúng nằm bên cửa, sẵn sàng lên đường. Bên ngoài cửa sổ, rặng núi Mont Blanc vẫn kia, vẫn vĩ đại, vẫn trùng điệp, vẫn lặng lẽ xa xăm. Tôi nghĩ đến 11 ngày vừa qua và cảm thấy buồn buồn, làm như có điều gì tôi đã đánh mất, hay đã để quên trên ngọn núi kia, ở đâu đó, trong quãng đường dài tôi đã đi.
Năm nào cũng vậy, tháng 7 tháng 8, mùa mưa, mùa lũ lụt lại về trừng phạt quê hương Việt Nam. Từ rất xa xôi, người Việt khắp nơi thấp thỏm buồn rầu và lo sợ cho cảnh ngập lụt, bão tố hoảng loạn ở nhà, không riêng chỉ miền Trung mà cả miền Nam cũng lụt, miền Bắc và Bắc trung phần bị càn quét dữ dội do bão Bualo, rồi kế đến là bão Matno. Miền Bắc và cả thủ đô Hà Nội mưa bão trước chưa kịp khô, lại ngập nước, đường phố hóa thành sông do vỡ đập nước Lạng Sơn, nước sông dâng cao đỉnh điểm, tại thành phố còn có một số tổ chức cứu trợ, nhưng kẹt là ở các tỉnh miền cao, nước lên quá mau, đa số dân cư phải leo vội lên trú trên những mái nhà cao hơn. Cũng tại xả nước các đập thủy điện nữa v.v…


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.