Hôm nay,  

Song Ngữ: Chẳng Phải Sướng Sao / Isn’t That So Happy?

22/04/202320:57:00(Xem: 7661)

blank

 

CHẲNG PHẢI SƯỚNG SAO

 

Tiểu Lục Thần Phong

 

Kim Thánh Thán là một văn nhân nổi tiếng vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, trong gia tài văn chương của ông có một bài tản văn nổi tiếng mà người yêu thích văn chương xưa nay đều biết. Bài ấy viết về ba mươi ba cái sướng, liệt kê những việc rất quen thuộc của đời thường, những việc thậm chí tưởng như như rất tầm thường nhưng lại bất ngờ đem đến sự vui sướng hạnh phúc. Chúng ta vì bận bịu trong cuộc mưu sinh, vì mưu cầu những cái gì cao xa, đeo đuổi những việc lớn mà quên đi cái hạnh phúc thực tại “ Bây giờ và tại đây”. Trong những việc ông liệt kê có một việc như sau:

 

“ Nhà có món đồ cổ sứt bể không sao hàn gắn được, để thì thấy tiếc nhưng bực vì chẳng đượcc việc gì, bèn giao cho nhà bếp đựng mắn muối, thế chẳng phải sướng sao?”

 

Sướng, sướng thật đấy! Nhẹ cả người, món đồ cổ tuy có quý nhưng sứt mẻ rồi, cất giữ ngày đêm lâu nay đã mệt, giờ hư hỏng nhìn thì tiếc, giữ lại chẳng được gì, mỗi lần nhìn thấy lại thêm khó chịu trong lòng. Giao quách cho nhà bếp đựng mắn muối, hóa ra món đồ sứt mẻ cũng còn hữu dụng, đã thế dứt đi cái lòng tiếc bấy lâu nay, thật sướng làm sao.

 

Sự việc là thế, có thể hiểu và lý luận  nhiều kiểu nhưng theo cái nhìn Phật học thì đây chính là sự buông xả, buông bỏ, buông xuống ( let it go, let it down). Mọi người chúng ta ai ai cũng có một món “ Đồ cổ”đeo nặng trong tâm, giữ thì chẳng được việc gì mà bỏ thì tiếc, thật sự thì không phải chỉ một món “ Đồ cổ” như ông Kim đâu. Trong tâm chúng ta có rất nhiều món “Đồ cổ sứt bể” vô dụng lắm!  Thôi thì học theo họ Kim, đem cái vật ấy giao cho nhà bếp đựng mắm muối, chẳng còn lo hay tính toán quý hay tiện, sang hay hèn, cao hay thấp mà chi! Người đời chỉ vì cái “Vật cổ” vô lý ấy mà khổ, ngày nay mình học Phật, cứ bắt chước ông Kim làm một phát thử xem sao:

 

- Mặc kệ tông môn, pháp phái, truyền thừa, đàm luận, học thuyết đúng sai… Ta cứ một việc niệm Phật, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc kệ sự bài bác, chê bai cao thấp, không phải chánh pháp… ta cứ nhất tâm niệm Phật, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc kê sự phân tích, chia chẻ, triết thuyết… Ta cứ hết lòng niệm Phật, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc kệ Nam truyền, Bắc truyền, Tạng truyền… ta dốc chí niệm Phật, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc kệ thiền, tịnh, tạng, thông, biệt, viên… ta chỉ biết niệm Phật, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc kệ sắc với không, hữu với phi, tánh không bát nhã...Ta chỉ trụ vào câu Phật hiệu, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc kệ thanh trần hay thanh tịnh, tịnh hay uế âm… Ta chỉ niệm và nghe Phật hiệu, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc kệ cho hương phàm hay hương thánh, hương như ý hay bất như ý… Ta chỉ trụ vào danh hiệu Phật, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc cho vị đời hay vị xuất thế, vị ngọt bùi hay vị đắng cay… Ta chỉ trụ vào câu phật hiệu, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc cho xúc chạm thân với tâm, xúc thích hay xúc bất như ý… Ta vẫn trụ vào câu Phật hiệu, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc cho pháp trần vây lấy, pháp sanh diệt diễn ra… Ta chỉ trụ vào hồng danh Phật, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc cho tài tác oai tác quái, điều khiển người thế gian… Ta quay về niệm Phật, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc cho sắc dục lẫy lừng, sắc mê hoặc thế gian….Ta quay vào niệm Phật, há chẳng sướn g sao?

 

- Mặc cho danh thơm ca tụng, danh xấu ố chê bai, danh cao vọng cái tôi… Ta chỉ có hồng danh Phật, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc cho thực lôi cuốn, ăn uống làm đầu, miếng ngon đầu lưỡi…. Ta chỉ dùng miệng lưỡi niệm Phật, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc cho thùy miên theo thói thường hay quá độ… Ta chỉ chú tâm vào Phật hiệu, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc cho đời thị phi bất tận, hắc bạch bất phân… Ta cứ một lòng trụ trong hiệu Phật, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc cho đông tây cách biệt, bắc nam bất đồng, cao thấp tương tranh…. Ta chỉ bình đẳng trong danh hiệu Phật, há chẳng sướng sao?

 

 

Là phật tử chắc mọi người ai cũng biết đến câu kinh nổi tiếng trong Kim Cang:” Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. Hàng Phật tử sơ cơ như chúng ta chưa thể, chưa làm được, thậm chí làm không nổi việc:” Ưng vô sở trụ” đâu!  Biết thì biết trên mặt văn tự, chữ nghĩa thế thôi, nhìn vào thực tế đời sống là biết ngay, hễ mất tí tiền, thua thiệt một chút vật chất là lập tức lồng lộn tranh đấu cho bằng hoặc cho hơn, ấy là tâm trụ vào vật chất chứ đâu có “ Vô sở trụ”. Hễ được khen một lời thì sướng rần rật, còn khi bị chê bai hay phê bình thì giận cành hông, tìm cách trả đũa, thanh minh, thậm chí ôm hận... rõ ràng tâm trụ vào danh chứ đâu có “ Vô sở trụ”. Sắc thì càng tệ hơn nữa, thấy sắc là bập vào ngay, tham luyến đắm đuối và không bao giờ thõa mãn, chính sắc dục và tham ái sắc dục là nhiên liệu bất tận của tái sanh luân hồi, sáu căn chấp chặt sáu trần là đầu mối của luân hồi, rõ ràng tâm trụ vào sắc chứ đâu có “ Vô sở trụ”. Ăn uống càng không phải nói nữa, phần lớn ai cũng tham ăn, muốn ăn ngon, ăn nhiều, ăn sang, ăn bổ dưỡng cho chí cường dương, chỉ vì chút ngon đầu lưỡi mà gây nên sự thống khổ và chết thảm của vạn vật muôn loài, kể cả côn trùng cũng ăn nốt. Ngủ nghỉ và chơi bời thì thế gian này hiếm có người bỏ qua được. Tóm lại cái tâm chúng ta trụ vào ngũ dục lục trần chứ làm gì có “ Vô sở trụ”. Mình là hạng sơ cơ mà nói chuyện “ Ưng vô sở trụ”thì chỉ là chót lưỡi đầu môi, là con vẹt dối người và dối cả chính mình.

 

Ngũ dục, lục trần chấp chặt, dính mắc, đắm sâu. Sáu căn chỉ thích những gì vừa ý và ghét những gì không vừa ý. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý cứ trụ vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp theo cảm tính, theo thói quen, theo tập quán chứ không hề nhận biết bản chất thật của sáu trần.

 

“Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” là việc của các bậc thượng thừa, hành giả tinh chuyên, các vị hòa thượng, cao tăng, đại đức… Hàng Phật tử sơ cơ như chúng ta thì vốn trụ ở ngũ dục lục trần, giờ học đạo, hiểu đạo thì tập tành để giảm bớt sự lệ thuộc vào ngũ dục và lục trần bằng cách rút nhè nhẹ, rút từng tí một để chuyển cái tâm mình trụ vào Phật hiệu, trụ vào hồng danh Phật. Đây là cách làm tương đối dễ dàng, nhẹ nhàng, vững vàng và an toàn. Ngày xưa trụ vào ngũ dục lục trần, giờ từng bước trụ vào câu Phật hiệu, trụ sâu hay cạn tùy thuộc vào khả năng của mỗi người. Trụ vào Phật hiệu có thể áp dụng cho tất cả mọi người,  mọi giới, thực hành được ở mọi nơi, mọi thời… thế thì niệm Phật há chẳng phải sướng sao!

 

Tiểu Lục Thần Phong

 

Ất Lăng thành, 2022

 

Source:

https://thuvienhoasen.org/a38381/chang-phai-suong-sao

 

.

---- o ----

 

 

Isn’t that so happy?

 

Author: Tiểu Lục Thần Phong

Translated by Nguyên Giác

 

 

Lời giới thiệu (Nguyên Giác): Trong bài viết này, tác giả Tiểu Lục Thần Phong kêu gọi nhất tâm niệm Phật. Đáng chú ý, trong bài viết, tác giả nhiều lần kêu gọi buông xả tất cả... Và tác giả cũng nhiều lần viết rằng chúng ta nên dùng niệm Phật để đoạn trừ ái dục từng chút một. Đặc biệt, tác giả viết rằng chúng ta nên vừa niệm Phật vừa xa lìa vạn pháp, xa lìa tất cả các tông phái Phật giáo, xa lìa cả Thiền tông và cả Tịnh độ. Như vậy, niệm Phật là một phương cách giúp hành giả vào sơ thiền. Kinh MN 64 ghi lời Đức Phật dạy rằng những ai vào sơ thiền và từ đó nhận ra vô thường trong vạn pháp sẽ đắc quả A-la-hán. Thêm nữa, kinh AN 4.123 ghi lời Đức Phật dạy rằng những ai vào sơ thiền thường trực sẽ được tái sinh vào cõi trời và sau đó sẽ đạt được Niết bàn. Khi bạn chú tâm vào một âm thanh, dù là tiếng chim kêu hay tiếng niệm Phật, không một chút gì của ba độc có thể khởi lên được. Theo cách này, niệm Phật có năng lực giải thoát. Cũng như trong Phật giáo Thái Lan, nhiều hành giả niệm chữ "Buddho." Cũng như một câu chuyện trong Thiền, một bà cụ chú tâm vào công án “Tùy tha khứ.”

 

Introduction by Nguyên Giác: In this essay, author Tiểu Lục Thần Phong calls for reciting the Buddha's name with one mind, whole heart, and full strength. Notably, in the article, the author many times calls to let go of everything... And he also writes many times that we should use recitation of the Buddha's name to get rid of craving bit by bit. Particularly, the author writes that we should chant the Buddha’s name while throwing away all things, casting away all the Buddhist sects, and dropping all the Zen and the Pure Land schools. Thus, chanting the Buddha's name is a way to help practitioners to enter the first immersion. The MN 64 Sutta records the Buddha's words that those who enter the first immersion and then realize the impermanence in all things will attain Arahantship. Moreover, the AN 4.123 Sutta records the Buddha's words that those who enter the first immersion constantly will be reborn in the heavenly world and later will attain Nirvana. When you focus on a sound, be it the chirping of a bird or the recitation of the Buddha's name, not a trace of the three poisons could arise. In this way, chanting the Buddha's name has a liberating power. Just like in Thai Buddhism, many practitioners chant the word "Buddho." Just like a story in Zen, an old lady focused on the koan “Drop all other things.”   

 

.

 

Jin Shengtan was a famous writer in the late Ming and early Qing dynasties. In his literary legacy, there is a famous prose that all lovers of literature know. That article was about thirty-three pleasures, listing the very familiar things of everyday life, the things that even seem to be very ordinary but suddenly bring joy and happiness. We are so busy in our lives. We are pursuing lofty things, pursuing great things, that we forget the real happiness of the Here and Now.

 

Among the things he listed, there was one thing like this: "The house has a broken antique that can't be repaired, so you feel sorry and angry because you can't do anything, so you give it to the kitchen to store salt and fish sauce. Isn’t that so happy?"

 

Happy, really happy! That's a relief. The antique is precious but chipped. It's been tiring to keep it for a long time. Now it's damaged. It's useless to keep it. Every time I see it, I feel more uncomfortable in my heart. Giving that chipped thing to the kitchen to store fish sauce and salt will make it useful again. That also will end my long-standing regret. Isn’t that so happy?

 

That's the way it is. It can be understood and reasoned in many ways. But from the point of view of Buddhism, this is letting go, letting go, letting go. We all have an "antique" that weighs heavily in our hearts. If we keep it, we will regret it. It's really not just one "antique" like Mr. Jin said. In our minds, there are many useless “broken antiques”! Well, then you should learn from Mr. Jin, give that thing to the kitchen to store fish sauce and salt. Thus, you no longer have to worry or figure out if it is precious or cheap, elegant or humble, high or low! So, this absurd 'antique' causes people to suffer. Today, we study Buddhism and just try to imitate Mr. Jin.

 

- Regardless of sects, lineages, discussions, and doctrines of right and wrong... we just recite the Buddha's name with one heart. Isn’t that so happy?

- Regardless of the rejection, high and low criticism, not the right Dharma... we just keep reciting Buddha's name with one heart. Isn’t that so happy?

- Regardless of the analysis, scrutiny, and philosophies... we keep reciting the Buddha's name wholeheartedly. Isn’t that so happy?

- Regardless of the Southern tradition, the Northern tradition, or the Tibetan tradition... we dedicate ourselves to reciting the Buddha's name. Isn't that happy?

- Regardless of Zen Buddhism, the Pure Land, the Tantra, or any other sects... we just recite the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of the form and emptiness, of the existence and non-existence, or of the essential emptiness of wisdom... we just recite the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of the sound which is pure or unpure, we just focus on the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of the smell which is worldly or saintly, pleasant or unpleasant... we just focus on the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of the taste which is secular or holy, sweet or bitter... we just focus on the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of whether the sensation that the body or mind feels is pleasure or displeasure... we just focus on the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of all things around us are impermanently changing, we just focus on the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of the power we would have to control humanity, we just go back to reciting the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of all the beautiful that are deluding the worldly, we just go back to reciting the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of the fame that praises us, or the notoriety that hurts us, we just go back to reciting the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of the good food and drink that savors us, we just use our tongues to chant the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of the good sleep that we would enjoy normally or excessively, we just focus on the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of the endless right or wrong arguments in life, we just focus on the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of the East and West distance, the North and South difference, we just focus equally on the Buddha's name. Isn't that so happy?

 

As a Buddhist, everyone would know the famous verse in the Kim Cang Sutra: "When your mind does not cling to anything, the Nirvana mind will arise." Beginner Buddhists like us can not and have not the ability to fulfill the advice "Do not cling to anything." We understand the practice just in terms of words, not in the reality of life. When we lose money or a few material things, we get angry and try to earn back or even more; hence, we still cling to worldly things and still can not "cling to nothing."

Whenever we receive a word of praise, we feel very happy, and whenever we are criticized, we get angry, seek revenge, justify, or even hold a grudge. This shows we still cling to fame, unable to cling to nothing.

Beauty is the bigger pitfall. Seeing beautiful people, most of us would feel attached, infatuated, and never satisfied. Nevertheless, the desire for beauty and lust is the fuel for endless reincarnation. The six senses that cling to the six sense-objects are the source of samsara: in this way, we cling to the forms, and cannot follow the advice "Cling to nothing."

Food is also a danger. Most of us are gluttonous. We want to eat well, eat a lot, eat luxuriously, and eat nutritiously despite the deliciousness on the tips of our tongues causing suffering and tragic death of living things. We also eat insects.

Sleeping, resting, and playing are activities that trap most of us. In short, we cling to the five pleasures and six sense objects, and feel it's hard to cling to nothing. Most of us are beginner Buddhists, and see the advice of "Have the mind of clinging to nothing" is just impractical words. If we just repeat that motto like macaws, we would become liars, telling lies to others and to ourselves.

 

Grasping the five kinds of pleasures and the six sense objects, we dive deep into the ocean of samsara. The six senses only like what is pleasing and hate what is not. The eyes, ears, nose, tongue, body, and mind dwell on form, sound, smell, taste, touch, and dharmas according to sensations, and habits, but do not perceive the true nature of the six sense objects.

 

"Having the mind that clings to nothing" is the work of the superior persons, the professional practitioners, and the high-ranking monastics. Surrounded by the five kinds of pleasures and the six sense objects, beginner Buddhists like us who understand and practice the Dharma should gradually seclude from sensual pleasures and gently seclude from unwholesome states by focusing on the Buddha's name. This is a relatively easy, gentle, stable, and safe way to do it.

 

 

In the past, we dwelled on the five kinds of pleasures and the six sense objects. Now we step by step focus on the Buddha's name, deep or shallow depending on each person's ability. Focusing on the Buddha's name can be practiced by all people or all levels, at any time or any place. So, just chant the Buddha's name. Isn't that so happy?

 

Tiểu Lục Thần Phong

Atlanta City, 2022

.

Source:

https://thuvienhoasen.org/a38381/chang-phai-suong-sao   

 

.

.

.

 

 

.

+

 

 

 

 

 

.

 



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ba chục năm trước, Bê đã bắt đầu sự nghiệp thể thao của Bê. Số là, Ba vừa học xong lớp chuyển nghiệp. Thời gian chuẩn bị thi cử, Ba dạy kèm cho một người bạn cùng lớp. Thi đậu, người bạn tạ ơn Ba một cặp vé Musik Konzert. Lúc đó, Bê ở trong bụng Mẹ đã hơn sáu tháng. Mẹ kể, Mẹ đang năm đầu ở đại học. Trời mùa đông, Mẹ đi học, mặc áo khoác dày cui. Bởi vậy, bạn học không ai biết Mẹ sắp sửa có em bé, chỉ ngỡ Mẹ hơi lên cân, zugenommen. Bác bạn của Ba có lẽ không dè vợ của bạn là bà bầu nên mới mời đi Rock Pop Konzert của ca sĩ Jennifer Rush.
Năm đó, 1999, miền Trung Việt Nam nhất là ở Huế đang chịu trận thiên tai bão lụt lịch sử lớn nhât từ trước cho đến thời điểm bấy giò. Trong hội chợ tết, người Việt ở đây San Jose vui Xuân nhưng không quên đồng bào ở quê nhà. Từng đoàn Hướng Đạo Sinh Việt Nam được phân phối nhiệm vụ cầm những thùng lạc quyên để quyên tiền cứu trợ. Đang lang thang trong hội chợ, hai em bé trong đồng phục Hướng Đạo chận tôi lại. Một trai một gái. Bé gái cao hơn bé trai non nữa cái đầu, chửng chạc nói “Chú ơi, ủng hộ đồng bào bảo lụt đi chú”. Trọn một câu tiếng Việt, tuy phát âm không trọn vẹn, nhưng khá rõ ràng. Tôi nhìn hai em, nhất là bé gái đang thắt cái nơ trên đầu cái nơ mầu đỏ! Tôi bỗng thấy lòng bâng khuâng man mác.
Qua sự giới thiệu của phụ huynh học sinh, chiều nay tôi có thêm học trò mới. Tuy tin tưởng vào người giới thiệu, nhưng tôi cũng có sự dè dặt thường lệ. Đây không phải là lớp dạy thêm bình thường, mà là lớp dạy kèm “Anh văn chui” tại nhà. Nếu bị bắt “tại trận”, tôi có thể bị đuổi việc (nhẹ) hoặc cả vào trại tù "miệt thứ" dài hạn như chơi. Tuy rất nguy hiểm, nhưng được sự “bảo mật” của học trò lẫn phụ huynh và nhất là khoản tiền thù lao rất hậu. Lương giáo viên cấp 3 lúc đó (1978-1979) mỗi tháng $70 đồng cộng nhu yếu phẩm, thì mỗi học sinh "dạy thêm" tôi nhận được $80/ tháng. Chỉ cần ba học trò là mỗi tháng tôi có thêm đến $240 đồng. Đối với giáo viên lúc đó không phải nhỏ! Cà phê cà pháo, cơm hàng cháo chợ cuối tháng vẫn dư tiền bỏ ống. Phần nữa, học trò lớp “Anh văn chui” của tôi thông thường chỉ vài ba tháng là “ra đi”, nên cũng thường xuyên thay đổi.
Vừa đi vừa ngắm lá vàng vừa suy nghĩ chuyện cũ mà đến nhà Sarah hồi nào hổng hay. Sarah mở cửa với nụ cười thật tươi, Lệ thấy ngay phòng khách những giỏ táo đầy ắp, Sarah giải thích: - Hễ cuối hè đầu thu là nhà tớ hái toàn bộ các trái táo ngoài vườn sau, một phần để sên mứt, phần sấy khô, và phần làm bánh táo nướng.
Nhà thơ Trần Mộng Tú gửi tới tôi bài “Mùa Hạ Đom Đóm và Dế Mèng” khi tôi muốn cùng các ông bạn đồng lứa tuổi trở về những ngày xưa thật xưa. Chị Tú hình như cũng cùng tâm trạng với các bạn không còn trẻ của tôi: “Tháng sáu, tôi đến chơi với anh tôi ở Virginia. Cái nóng rịn mồ hôi trên thái dương, và khó ngủ lắm, buổi tối, tôi với anh ra ngồi ở bực thềm, nói chuyện. Tôi bỗng thấy thỉnh thoảng có những chớp nho nhỏ như lân tinh sáng lóe lên rồi lại biến mất trong bụi cây thấp trước mặt, hỏi anh tôi, cái gì thế? “Đom Đóm” Tôi lặng người đi một lúc như nghe thấy ai nhắc tên một người bạn thân cũ, nó làm tôi xúc động. Xúc động một cách rất mơ hồ, chẳng có nguyên nhân gì cả, chỉ là cái tên của một loại côn trùng bé tí được gọi lên. Cái tên nhắc nhở một quê hương xa lắc, một dĩ vãng nằm dưới tấm chăn phủ dầy lớp bụi thời gian. Trong bóng tối, tôi ngắm những cái chấm lửa nhỏ nhoi, lóe lên rồi tắt ngóm với trái tim nôn nao trong ngực. Có đến cả hơn bốn mươi năm tôi không được nhìn thấy những đố
Tọa lạc trong vùng ngoại ô Saint Maur, kề bên là bờ sông Marne hàng hiên ngang cửa nhà chú, chú đổ đầy đất đen đất vụn phải đi mua từng bao ở siêu thị bán cây trồng đất mua chú đổ vào lưng một cái bac ciment rộng lớn chạy ngang hàng hiên nhà. Trong bac chú trồng đầy hoa vàng, hoa nở thì lớn bằng đồng 50 xu, có năm cánh y hệt mai vàng ở Việt Nam, lá xanh non to bằng bàn tay con nít 5, 3 tuổi. Lá cũng rất thưa, hoa rất đẹp, vàng trong như mai ngày tết. Khi nắng gắt, mầu vàng có đậm thêm tí chút, sáng hé nở, trưa ấm nở rộ. Chiều chiều hoa cúp lại ngủ, ngày mai sáng sớm lại mãn khai, thân cây hoa chỉ cao lắm là đến đầu em bé 5, 6 tuổi. Nên hoa và cây không che vướng tầm nhìn từ trong nhà ra ngoài trời. Chú Phương yêu quý những cây hoa đó lắm. Vun tưới thường xuyên. Hỏi tên hoa đó là hoa gì? Chú trả lời ngon ơ: Đó là hoa vông vang của Đỗ Tốn, Chúng tôi không nhớ và cũng không biết ông Đỗ Tốn là ai
Trong sự bồi hồi xúc động, tay bắt mặt mừng, họ được gặp lại để trò chuyện với những người họ hàng thân yêu, những bạn bè xa gần thân thiết, nhìn thấy tận mắt những làng xưa chốn cũ, nhớ lại những kỷ niệm êm đẹp từ thuở thơ ấu cho đến ngày tạm thời phải rời bỏ những nơi này ra đi, ôi biết bao nhiêu nỗi xúc động trộn lẫn niềm sung sướng vô biên, nói làm sao cho hết được.
Những yếu tố lôi cuốn du khách đi du lịch đến một đất nước bao gồm cảnh đẹp thiên nhiên, văn hóa, thành phố lớn với những lối kiến trúc độc đáo, cuộc sống sôi động, ẩm thực, hoạt động phiêu lưu, kỳ thú ngoài trời, những buổi hòa nhạc, thể thao, nghệ thuật, hay lễ hội, địa điểm hành hương tôn giáo, phương tiện giao thông, vấn đề an ninh và bình yên; trong văn hóa, yếu tố con người chiếm một phần rất lớn khiến du khách khi rời xa, vẫn lưu luyến muốn trở lại lần nữa.
Nếu quý vị độc giả nào đã đọc câu chuyện tình cảm éo le, oan trái tràn đầy nước mắt: "Thằng Cu Tí và Thằng Cu Tèo" và nếu quy vị nào chưa đọc, thì xin hãy mở Google.com sẽ thấy đế tài này thuật lại 2 vị cao niên về thăm VN để hưởng tuần lễ trăng thanh gió mát quê nhà, sau nhiều năm phải rời bỏ quê hương để sống tha hương ngàn trùng xa cách nơi đất khách quê người đi tìm sự tự do. Nay mới có dịp được quay trở về thăm quê cha đất tổ, đồng thời còn được thưởng thức những món ăn đặc sản quê hương
Tôi lắng nghe, ngạc nhiên nhiều hơn thương cảm. Một người như Tầm mà bị lường gạt về lãnh vực 'xương máu' của mình. Tôi có thể hiểu và cảm thông an ủi trong mọi hoàn cảnh đau buồn, thất vọng của người thân chung quanh. Nhưng tôi lại rất vụng về khi phải đề cập đến mọi giao cảm đối với những con số. Tôi không có duyên phận và chung đường với nó. Nên tôi chỉ biết yên lặng, chờ đợi.
Lúc xưa thật xưa, người Việt Nam ta có tục lệ bầy cỗ Trung Thu vào dịp tết trăng tròn tháng 8 âm lịch. Cỗ này thường để dành cho trẻ con, vừa vui Trung Thu, vừa ăn bánh vừa ngắm trăng tròn, sáng tỏ. Thường cỗ này gồm phần lớn là bánh Trung Thu, bánh dẻo bánh nướng và rất nhiều thứ trái cây, trái cây chánh là bưởi, bưởi hồng đào ngọt và tròn xoay như một vầng trăng. Ăn bưởi xong, có thể sâu hột trái bưởi, phơi khô đi sem sém, và có thể đốt hạt bưởi từng sâu như đốt nến, đèn cầy.
Tường Vi sinh ra lớn lên từ miền “quê hương em nghèo lắm ai ơi, mùa đông thiếu áo hè thời thiếu cơm”. Trước 1975, ba Vi có chức vụ lớn trong quân đội, làm việc tại Đà Nẵng cuối tuần mới ra Huế. Gia đình Vi ở bên kia bờ Sông Hương nằm trên đường Nguyễn Công Trứ, khu nhà vườn rộng mênh mông có bến sông sau, trước ngõ trồng hàng loạt hoa Tường Vi. Mẹ rất thích loại hoa này, nên đặt tên Vi giống loài hoa. Vi có bốn chị em gồm hai em trai (Vinh, Lộc) và gái út (Tường Như), Vi là chị đầu đàng. Năm 13 tuổi vì thi rớt nên phải học trường tư thục Bồ Đề đến năm lớp tám, ba Vi từ Đà Nẵng dẫn theo người thanh niên về Huế giới thiệu tên Sơn, ra Huế học đại học luật khoa, sẽ dạy kèm chị em, làm gia sư ăn ở trong nhà luôn. Vì tò mò hỏi mạ
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.