Hôm nay,  

Song Ngữ: Chẳng Phải Sướng Sao / Isn’t That So Happy?

22/04/202320:57:00(Xem: 5325)

blank

 

CHẲNG PHẢI SƯỚNG SAO

 

Tiểu Lục Thần Phong

 

Kim Thánh Thán là một văn nhân nổi tiếng vào cuối đời Minh đầu đời Thanh, trong gia tài văn chương của ông có một bài tản văn nổi tiếng mà người yêu thích văn chương xưa nay đều biết. Bài ấy viết về ba mươi ba cái sướng, liệt kê những việc rất quen thuộc của đời thường, những việc thậm chí tưởng như như rất tầm thường nhưng lại bất ngờ đem đến sự vui sướng hạnh phúc. Chúng ta vì bận bịu trong cuộc mưu sinh, vì mưu cầu những cái gì cao xa, đeo đuổi những việc lớn mà quên đi cái hạnh phúc thực tại “ Bây giờ và tại đây”. Trong những việc ông liệt kê có một việc như sau:

 

“ Nhà có món đồ cổ sứt bể không sao hàn gắn được, để thì thấy tiếc nhưng bực vì chẳng đượcc việc gì, bèn giao cho nhà bếp đựng mắn muối, thế chẳng phải sướng sao?”

 

Sướng, sướng thật đấy! Nhẹ cả người, món đồ cổ tuy có quý nhưng sứt mẻ rồi, cất giữ ngày đêm lâu nay đã mệt, giờ hư hỏng nhìn thì tiếc, giữ lại chẳng được gì, mỗi lần nhìn thấy lại thêm khó chịu trong lòng. Giao quách cho nhà bếp đựng mắn muối, hóa ra món đồ sứt mẻ cũng còn hữu dụng, đã thế dứt đi cái lòng tiếc bấy lâu nay, thật sướng làm sao.

 

Sự việc là thế, có thể hiểu và lý luận  nhiều kiểu nhưng theo cái nhìn Phật học thì đây chính là sự buông xả, buông bỏ, buông xuống ( let it go, let it down). Mọi người chúng ta ai ai cũng có một món “ Đồ cổ”đeo nặng trong tâm, giữ thì chẳng được việc gì mà bỏ thì tiếc, thật sự thì không phải chỉ một món “ Đồ cổ” như ông Kim đâu. Trong tâm chúng ta có rất nhiều món “Đồ cổ sứt bể” vô dụng lắm!  Thôi thì học theo họ Kim, đem cái vật ấy giao cho nhà bếp đựng mắm muối, chẳng còn lo hay tính toán quý hay tiện, sang hay hèn, cao hay thấp mà chi! Người đời chỉ vì cái “Vật cổ” vô lý ấy mà khổ, ngày nay mình học Phật, cứ bắt chước ông Kim làm một phát thử xem sao:

 

- Mặc kệ tông môn, pháp phái, truyền thừa, đàm luận, học thuyết đúng sai… Ta cứ một việc niệm Phật, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc kệ sự bài bác, chê bai cao thấp, không phải chánh pháp… ta cứ nhất tâm niệm Phật, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc kê sự phân tích, chia chẻ, triết thuyết… Ta cứ hết lòng niệm Phật, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc kệ Nam truyền, Bắc truyền, Tạng truyền… ta dốc chí niệm Phật, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc kệ thiền, tịnh, tạng, thông, biệt, viên… ta chỉ biết niệm Phật, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc kệ sắc với không, hữu với phi, tánh không bát nhã...Ta chỉ trụ vào câu Phật hiệu, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc kệ thanh trần hay thanh tịnh, tịnh hay uế âm… Ta chỉ niệm và nghe Phật hiệu, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc kệ cho hương phàm hay hương thánh, hương như ý hay bất như ý… Ta chỉ trụ vào danh hiệu Phật, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc cho vị đời hay vị xuất thế, vị ngọt bùi hay vị đắng cay… Ta chỉ trụ vào câu phật hiệu, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc cho xúc chạm thân với tâm, xúc thích hay xúc bất như ý… Ta vẫn trụ vào câu Phật hiệu, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc cho pháp trần vây lấy, pháp sanh diệt diễn ra… Ta chỉ trụ vào hồng danh Phật, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc cho tài tác oai tác quái, điều khiển người thế gian… Ta quay về niệm Phật, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc cho sắc dục lẫy lừng, sắc mê hoặc thế gian….Ta quay vào niệm Phật, há chẳng sướn g sao?

 

- Mặc cho danh thơm ca tụng, danh xấu ố chê bai, danh cao vọng cái tôi… Ta chỉ có hồng danh Phật, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc cho thực lôi cuốn, ăn uống làm đầu, miếng ngon đầu lưỡi…. Ta chỉ dùng miệng lưỡi niệm Phật, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc cho thùy miên theo thói thường hay quá độ… Ta chỉ chú tâm vào Phật hiệu, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc cho đời thị phi bất tận, hắc bạch bất phân… Ta cứ một lòng trụ trong hiệu Phật, há chẳng sướng sao?

 

- Mặc cho đông tây cách biệt, bắc nam bất đồng, cao thấp tương tranh…. Ta chỉ bình đẳng trong danh hiệu Phật, há chẳng sướng sao?

 

 

Là phật tử chắc mọi người ai cũng biết đến câu kinh nổi tiếng trong Kim Cang:” Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. Hàng Phật tử sơ cơ như chúng ta chưa thể, chưa làm được, thậm chí làm không nổi việc:” Ưng vô sở trụ” đâu!  Biết thì biết trên mặt văn tự, chữ nghĩa thế thôi, nhìn vào thực tế đời sống là biết ngay, hễ mất tí tiền, thua thiệt một chút vật chất là lập tức lồng lộn tranh đấu cho bằng hoặc cho hơn, ấy là tâm trụ vào vật chất chứ đâu có “ Vô sở trụ”. Hễ được khen một lời thì sướng rần rật, còn khi bị chê bai hay phê bình thì giận cành hông, tìm cách trả đũa, thanh minh, thậm chí ôm hận... rõ ràng tâm trụ vào danh chứ đâu có “ Vô sở trụ”. Sắc thì càng tệ hơn nữa, thấy sắc là bập vào ngay, tham luyến đắm đuối và không bao giờ thõa mãn, chính sắc dục và tham ái sắc dục là nhiên liệu bất tận của tái sanh luân hồi, sáu căn chấp chặt sáu trần là đầu mối của luân hồi, rõ ràng tâm trụ vào sắc chứ đâu có “ Vô sở trụ”. Ăn uống càng không phải nói nữa, phần lớn ai cũng tham ăn, muốn ăn ngon, ăn nhiều, ăn sang, ăn bổ dưỡng cho chí cường dương, chỉ vì chút ngon đầu lưỡi mà gây nên sự thống khổ và chết thảm của vạn vật muôn loài, kể cả côn trùng cũng ăn nốt. Ngủ nghỉ và chơi bời thì thế gian này hiếm có người bỏ qua được. Tóm lại cái tâm chúng ta trụ vào ngũ dục lục trần chứ làm gì có “ Vô sở trụ”. Mình là hạng sơ cơ mà nói chuyện “ Ưng vô sở trụ”thì chỉ là chót lưỡi đầu môi, là con vẹt dối người và dối cả chính mình.

 

Ngũ dục, lục trần chấp chặt, dính mắc, đắm sâu. Sáu căn chỉ thích những gì vừa ý và ghét những gì không vừa ý. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý cứ trụ vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp theo cảm tính, theo thói quen, theo tập quán chứ không hề nhận biết bản chất thật của sáu trần.

 

“Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” là việc của các bậc thượng thừa, hành giả tinh chuyên, các vị hòa thượng, cao tăng, đại đức… Hàng Phật tử sơ cơ như chúng ta thì vốn trụ ở ngũ dục lục trần, giờ học đạo, hiểu đạo thì tập tành để giảm bớt sự lệ thuộc vào ngũ dục và lục trần bằng cách rút nhè nhẹ, rút từng tí một để chuyển cái tâm mình trụ vào Phật hiệu, trụ vào hồng danh Phật. Đây là cách làm tương đối dễ dàng, nhẹ nhàng, vững vàng và an toàn. Ngày xưa trụ vào ngũ dục lục trần, giờ từng bước trụ vào câu Phật hiệu, trụ sâu hay cạn tùy thuộc vào khả năng của mỗi người. Trụ vào Phật hiệu có thể áp dụng cho tất cả mọi người,  mọi giới, thực hành được ở mọi nơi, mọi thời… thế thì niệm Phật há chẳng phải sướng sao!

 

Tiểu Lục Thần Phong

 

Ất Lăng thành, 2022

 

Source:

https://thuvienhoasen.org/a38381/chang-phai-suong-sao

 

.

---- o ----

 

 

Isn’t that so happy?

 

Author: Tiểu Lục Thần Phong

Translated by Nguyên Giác

 

 

Lời giới thiệu (Nguyên Giác): Trong bài viết này, tác giả Tiểu Lục Thần Phong kêu gọi nhất tâm niệm Phật. Đáng chú ý, trong bài viết, tác giả nhiều lần kêu gọi buông xả tất cả... Và tác giả cũng nhiều lần viết rằng chúng ta nên dùng niệm Phật để đoạn trừ ái dục từng chút một. Đặc biệt, tác giả viết rằng chúng ta nên vừa niệm Phật vừa xa lìa vạn pháp, xa lìa tất cả các tông phái Phật giáo, xa lìa cả Thiền tông và cả Tịnh độ. Như vậy, niệm Phật là một phương cách giúp hành giả vào sơ thiền. Kinh MN 64 ghi lời Đức Phật dạy rằng những ai vào sơ thiền và từ đó nhận ra vô thường trong vạn pháp sẽ đắc quả A-la-hán. Thêm nữa, kinh AN 4.123 ghi lời Đức Phật dạy rằng những ai vào sơ thiền thường trực sẽ được tái sinh vào cõi trời và sau đó sẽ đạt được Niết bàn. Khi bạn chú tâm vào một âm thanh, dù là tiếng chim kêu hay tiếng niệm Phật, không một chút gì của ba độc có thể khởi lên được. Theo cách này, niệm Phật có năng lực giải thoát. Cũng như trong Phật giáo Thái Lan, nhiều hành giả niệm chữ "Buddho." Cũng như một câu chuyện trong Thiền, một bà cụ chú tâm vào công án “Tùy tha khứ.”

 

Introduction by Nguyên Giác: In this essay, author Tiểu Lục Thần Phong calls for reciting the Buddha's name with one mind, whole heart, and full strength. Notably, in the article, the author many times calls to let go of everything... And he also writes many times that we should use recitation of the Buddha's name to get rid of craving bit by bit. Particularly, the author writes that we should chant the Buddha’s name while throwing away all things, casting away all the Buddhist sects, and dropping all the Zen and the Pure Land schools. Thus, chanting the Buddha's name is a way to help practitioners to enter the first immersion. The MN 64 Sutta records the Buddha's words that those who enter the first immersion and then realize the impermanence in all things will attain Arahantship. Moreover, the AN 4.123 Sutta records the Buddha's words that those who enter the first immersion constantly will be reborn in the heavenly world and later will attain Nirvana. When you focus on a sound, be it the chirping of a bird or the recitation of the Buddha's name, not a trace of the three poisons could arise. In this way, chanting the Buddha's name has a liberating power. Just like in Thai Buddhism, many practitioners chant the word "Buddho." Just like a story in Zen, an old lady focused on the koan “Drop all other things.”   

 

.

 

Jin Shengtan was a famous writer in the late Ming and early Qing dynasties. In his literary legacy, there is a famous prose that all lovers of literature know. That article was about thirty-three pleasures, listing the very familiar things of everyday life, the things that even seem to be very ordinary but suddenly bring joy and happiness. We are so busy in our lives. We are pursuing lofty things, pursuing great things, that we forget the real happiness of the Here and Now.

 

Among the things he listed, there was one thing like this: "The house has a broken antique that can't be repaired, so you feel sorry and angry because you can't do anything, so you give it to the kitchen to store salt and fish sauce. Isn’t that so happy?"

 

Happy, really happy! That's a relief. The antique is precious but chipped. It's been tiring to keep it for a long time. Now it's damaged. It's useless to keep it. Every time I see it, I feel more uncomfortable in my heart. Giving that chipped thing to the kitchen to store fish sauce and salt will make it useful again. That also will end my long-standing regret. Isn’t that so happy?

 

That's the way it is. It can be understood and reasoned in many ways. But from the point of view of Buddhism, this is letting go, letting go, letting go. We all have an "antique" that weighs heavily in our hearts. If we keep it, we will regret it. It's really not just one "antique" like Mr. Jin said. In our minds, there are many useless “broken antiques”! Well, then you should learn from Mr. Jin, give that thing to the kitchen to store fish sauce and salt. Thus, you no longer have to worry or figure out if it is precious or cheap, elegant or humble, high or low! So, this absurd 'antique' causes people to suffer. Today, we study Buddhism and just try to imitate Mr. Jin.

 

- Regardless of sects, lineages, discussions, and doctrines of right and wrong... we just recite the Buddha's name with one heart. Isn’t that so happy?

- Regardless of the rejection, high and low criticism, not the right Dharma... we just keep reciting Buddha's name with one heart. Isn’t that so happy?

- Regardless of the analysis, scrutiny, and philosophies... we keep reciting the Buddha's name wholeheartedly. Isn’t that so happy?

- Regardless of the Southern tradition, the Northern tradition, or the Tibetan tradition... we dedicate ourselves to reciting the Buddha's name. Isn't that happy?

- Regardless of Zen Buddhism, the Pure Land, the Tantra, or any other sects... we just recite the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of the form and emptiness, of the existence and non-existence, or of the essential emptiness of wisdom... we just recite the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of the sound which is pure or unpure, we just focus on the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of the smell which is worldly or saintly, pleasant or unpleasant... we just focus on the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of the taste which is secular or holy, sweet or bitter... we just focus on the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of whether the sensation that the body or mind feels is pleasure or displeasure... we just focus on the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of all things around us are impermanently changing, we just focus on the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of the power we would have to control humanity, we just go back to reciting the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of all the beautiful that are deluding the worldly, we just go back to reciting the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of the fame that praises us, or the notoriety that hurts us, we just go back to reciting the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of the good food and drink that savors us, we just use our tongues to chant the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of the good sleep that we would enjoy normally or excessively, we just focus on the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of the endless right or wrong arguments in life, we just focus on the Buddha's name. Isn't that so happy?

- Regardless of the East and West distance, the North and South difference, we just focus equally on the Buddha's name. Isn't that so happy?

 

As a Buddhist, everyone would know the famous verse in the Kim Cang Sutra: "When your mind does not cling to anything, the Nirvana mind will arise." Beginner Buddhists like us can not and have not the ability to fulfill the advice "Do not cling to anything." We understand the practice just in terms of words, not in the reality of life. When we lose money or a few material things, we get angry and try to earn back or even more; hence, we still cling to worldly things and still can not "cling to nothing."

Whenever we receive a word of praise, we feel very happy, and whenever we are criticized, we get angry, seek revenge, justify, or even hold a grudge. This shows we still cling to fame, unable to cling to nothing.

Beauty is the bigger pitfall. Seeing beautiful people, most of us would feel attached, infatuated, and never satisfied. Nevertheless, the desire for beauty and lust is the fuel for endless reincarnation. The six senses that cling to the six sense-objects are the source of samsara: in this way, we cling to the forms, and cannot follow the advice "Cling to nothing."

Food is also a danger. Most of us are gluttonous. We want to eat well, eat a lot, eat luxuriously, and eat nutritiously despite the deliciousness on the tips of our tongues causing suffering and tragic death of living things. We also eat insects.

Sleeping, resting, and playing are activities that trap most of us. In short, we cling to the five pleasures and six sense objects, and feel it's hard to cling to nothing. Most of us are beginner Buddhists, and see the advice of "Have the mind of clinging to nothing" is just impractical words. If we just repeat that motto like macaws, we would become liars, telling lies to others and to ourselves.

 

Grasping the five kinds of pleasures and the six sense objects, we dive deep into the ocean of samsara. The six senses only like what is pleasing and hate what is not. The eyes, ears, nose, tongue, body, and mind dwell on form, sound, smell, taste, touch, and dharmas according to sensations, and habits, but do not perceive the true nature of the six sense objects.

 

"Having the mind that clings to nothing" is the work of the superior persons, the professional practitioners, and the high-ranking monastics. Surrounded by the five kinds of pleasures and the six sense objects, beginner Buddhists like us who understand and practice the Dharma should gradually seclude from sensual pleasures and gently seclude from unwholesome states by focusing on the Buddha's name. This is a relatively easy, gentle, stable, and safe way to do it.

 

 

In the past, we dwelled on the five kinds of pleasures and the six sense objects. Now we step by step focus on the Buddha's name, deep or shallow depending on each person's ability. Focusing on the Buddha's name can be practiced by all people or all levels, at any time or any place. So, just chant the Buddha's name. Isn't that so happy?

 

Tiểu Lục Thần Phong

Atlanta City, 2022

.

Source:

https://thuvienhoasen.org/a38381/chang-phai-suong-sao   

 

.

.

.

 

 

.

+

 

 

 

 

 

.

 



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tháng 7 năm 1954, hiệp định Genève chia đôi đất nước Việt Nam, người Pháp thất bại ở mặt trận Điện Biên Phủ, trả lại chủ quyền miền Bắc cho việt cộng. Việt Minh kéo từ mạn ngược và khắp nơi chúng đã ẩn náu về tiếp thu thủ đô Hà Nội và sau đó, toàn thể các tỉnh thành phía Bắc cho vào tới vĩ tuyến 17. Chúng ta mất một nửa giang sơn. Pháp có 80 ngày chuyển giao Hà Nội, 100 ngày giao Hải Dương, 300 ngày trả Hải Phòng, rồi chấm dứt. Việt cộng nằm vùng trong miền Nam cũng tự do ra Bắc tập kết, dù rất ít, nhưng làn sóng người miền Bắc di cư vào Nam thì đông nườm nượp… như nước vỡ bờ, họ chạy trốn, họ sợ cộng sản, họ sợ cái chế độ tam vô đang rượt đuổi sau lưng. Họ ra đi lánh nạn, đa phần phải bỏ lại gia sãn của cải, mồ mả cha ông… họ ra đi nhanh, mau lẹ nhất là các thành phố Hà Nội Hải Phòng, các xứ họ đạo công giáo Bùi Chu, Phát Diệm… có người vội vã đến chỉ ôm theo một tấm ảnh đức mẹ Maria… họ rủ nhau cứ xuống Hải Phòng là có tàu há mồm, há mồm chờ sẵn, chờ họ lên tàu và chở họ vô miền Nam.
Hà Nội có mùa Thu, Ninh Thuận quê tôi ở đó chỉ có hai mùa nắng gió. Buổi sáng mai hôm ấy mẹ tôi âu yếm nắm lấy tay tôi dẫn tôi đi qua con đường làng Xóm Động, rồi đến con đường cái quan tráng nhựa. Mẹ tôi nắm lấy tay tôi dẫn tôi đi qua cầu "Ông Cọp", rồi cầu "Nước Đá" và đến tận cửa trường tiểu học Phan Rang. Tôi cúi đầu đi qua cổng trường có tấm biển lớn có hàng chữ Tây: "Indochine Francais- École Primaire De Phanrang"...Giữa sân trường có cột cờ với lá cờ ba màu của Pháp treo tận chót vót. Trường của tôi hình như vừa quét nước vôi và có cửa kiến, tôi thoáng nghe mùi cửa sổ mới sơn.
Trước năm 1975, ngày đó tôi còn là một cậu thiếu niên ham thích đọc tiểu thuyết trinh thám mạo hiểm của Người Thứ Tám với nhiều câu truyện phiêu lưu, hồi hộp của chàng điệp viên Z-28 đào hoa, đẹp trai Tống Văn Bình. Tôi còn nhớ chàng điệp viên tài giỏi, võ nghệ siêu quần của chúng ta được phái đi thi hành một nhiệm vụ tình báo tại Maldives, một đảo quốc mà khi chúng ta nhìn về phía chân trời, nơi Trời và Biển gặp nhau, vì chính chúng ta cũng đang sống trên mặt nước...
Khoảng gần ba giờ chiều tôi rời khách sạn Ninh Kiều, cuối đường Hai Bà Trưng, nhìn ra sông Cần Thơ. Trời hanh nóng và đứng gió. Giấc ngủ trưa dài sau bữa ăn nhẹ, khiến tôi tỉnh táo và phấn chấn hẳn lên. Hãy còn sớm, hai giờ nữa tôi mới có hẹn với gia đình người bạn thân ở nhà hàng Hoa Sứ. Thời gian đủ để tôi dạo chơi và ghé chợ Cần Thơ tìm mua một vài thứ đồ lưu niệm… Vài cơn gió nhẹ mang theo hơi nước từ dòng sông thổi dọc theo công viên thật dễ chịu. Bến Ninh Kiều ngày nay thật khang trang và đẹp. Đi dọc mé sông, từ đây tôi có thể nhìn thấy chiếc cầu treo Cần Thơ sừng sững, hiện đại. Phía trước khách sạn là nhà hàng nổi và không xa là chiếc du thuyền nhà hàng lộng lẫy về đêm. Du khách vừa ăn tối vừa dạo cảnh quanh sông và có cảchương trình văn nghệ thật đặc sắc của miền Tây sông nước
Nàng tỉ tê với nhỏ bạn về những cuộc “thảo luận” sôi nổi của vợ chồng nàng. Bằng mọi giá, nàng muốn giữ cho đứa con có tuổi thơ tươi đẹp, hạnh phúc. Bao năm qua, đã có lúc nàng buồn rầu nghĩ, mình như con gà đẻ trứng vàng. Chỉ được việc, nhờ biết đẻ trứng vàng. Nàng không dám đề cập đến chuyện tiền bạc, sợ làm chồng buồn, cho rằng nàng cậy sức mạnh kim tiền lấn áp chồng. Nàng rất may mắn trong cuộc sống ngoài xã hội. Chưa ra trường, nàng đã nhận được hợp đồng làm việc với một trong những hãng hàng đầu của nước Đức. Ngược lại, chồng nàng quá lận đận. Cả năm trời, anh chạy đôn, chạy đáo tìm việc, mà vẫn phải nằm nhà. Nàng tự nhủ, tài lộc trời ban, gia đình sống thoải mái, chứ tính toán chi mà mất hòa khí vợ chồng. Tháng tháng, nàng thanh toán nợ to, nợ nhỏ, hàng hàng lớp lớp chi phí tất yếu của xã hội văn minh.
Xíu tiếp tục cuộc hành trình bất tận của mình, đừng tưởng Xíu chơi hoang hay đi rông, phiêu bạt giang hồ vô tích sự. Chính sự lang bạt kỳ hồ của Xíu và anh em nhà Xíu đã đem lại mưa thuận gió hòa, đem lại nguồn sống cho loài người và vạn vật muôn loài. Lần này Xíu quay về lại góc Đông Nam Á châu, nơi có dòng sông thiêng liêng chảy qua.
Tôi không phải là thi sĩ, nhưng chắc cũng giống như những thi nhân của đất Việt, thường gửi gấm tâm tình u uất vào những vần thơ của mình. Những bài thơ viết xong, tôi cặm cụi chép vào nhật ký, xen vào những lời than thân trách phận, hờn mây khóc gió. Cuốn nhật ký, tôi cất kỹ trong ngăn kéo ở cái table de nuit cũ kỹ bên cạnh chiếc giường nhỏ trong phòng ngủ. Cũng may là má chưa lục ra đọc lần nào...
Cuối cùng, vợ tôi cũng đồng ý một cách vui vẻ cho tôi lấy vợ bé. Một hành động vượt ra ngoài quan niệm ái tình nghiêm túc của bà. Vợ bé tên Hà, do vợ lớn đặt. Tên khai sinh của Hà là Đỗ thị 451. Vợ lớn nói, số này hên, cộng lại là 10. Hà lai Ái Nhỉ Lan. Ở lứa tuổi gần ba mươi, chưa lấy chồng, không có con, một thân hình phước đức cho bất kỳ người đàn ông nào, sáu mươi bảy tuổi, như tôi.
Kế hoạch của anh ấy thật là hợp lý: anh ấy sẽ giấu tôi phía sau cốp xe Austin-Healey, một chiếc xe dạng rất thấp mà anh vừa mới mua bên Áo và đã tháo kính che gió ra. Chúng tôi chỉ cần đi qua bên dưới rào chắn, trong khi mấy tên cảnh sát nhân dân Vopo*2/ thì bận lo kiểm tra giấy tờ như thường lệ. Rolf đã tính toán nhiều lần, tính đi tính lại, anh lại còn xì bớt hơi các bánh xe: như thế cái xe sẽ không vượt quá 90 cms bề cao. Anh chỉ cần cúi đầu xuống, nhấn mạnh vào cần tăng tốc, thế là chúng tôi sẽ qua bên kia địa phận đất Mỹ! Một "bờ thành" nhỏ làm bằng gạch sẽ bảo vệ tôi khỏi những lằn đạn có thể xảy ra. Và rồi sau đó là tự do...
(Viết cho bằng hữu tháng tư 1954. Chúng tôi 300 thanh niên trình diện trại Ngọc Hà động viên vào Đà Lạt cùng hát bài ca Hà Nội ơi, năm 20 tuổi chưa từng biết yêu. Sau 21 năm chinh chiến, tháng tư 75 khóa Cương Quyết hát tiếp. Bao nhiêu mộng đẹp, tan ra thành khói, bay theo mây chiều. Ngày nay, tháng 7-2024 vào nursing home thăm bạn cùng khóa. Ba anh bạn đại tá lữ đoàn trưởng mũ xanh mũ đỏ cùng đại đội võ bị ra đánh trận Quảng Trị chỉ còn Ngô Văn Định. Ghé lại bên tai nghe Định hỏi nhỏ. /Bên ngoài còn mấy thằng,/ Còn liên lạc được 4 thằng. Ngoài 90 cả rồi.Tôi báo cáo./ Thằng Luyện mới đến thăm./ Định nói./ Luyện nhảy Bắc 21 năm biệt giam mà còn sống. Hay thật./ Tôi nói./ Bạn yên tâm. Ngoài này còn thằng nào chơi thằng đó./ OK bạn còn sống lo cho anh em.)
Năm Giáp Ngọ 1954 có thể gọi là năm đại diện cho tuổi thơ tôi. Chỉ trong một năm 1954 đã có quá nhiều biến cố xảy ra dồn dập trước mắt chú bé mười hai tuổi mà suốt trong đời chưa có thời điểm nào đặc biệt như vậy...
Dẫn nhập: chuyện này được viết khi sắp tròn nửa thế kỷ Sài gòn bị mất tên. Qua một phần đời của một vị Thầy dạy Toán, gắn liền với nhiều thăng trầm của lịch sử từ Việt Nam đến Mỹ, cùng nhìn lại những vết chân xưa với hy vọng các thế hệ kế tiếp học hỏi được nhiều điều để đưa được đất nước trở về vị trí "minh châu trời Đông"


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.