Hôm nay,  

Cùng Tử

09/05/202318:41:00(Xem: 3646)
Truyện

lonely monk

Quá nửa đời người rong ruổi giữa dòng đời, một ngày kia y soi kiếng chợt nhận thấy những sợi tóc bạc xuất hiện lẫn lộn trong mớ tóc đen. Y giật mình lẩm bẩm: “Rồi, sứ giả của quỷ vô thường đã gởi tin nhắn”. Y nhổ bỏ những sợi tóc bạc ấy đi vì không muốn những người bạn làm chung chế giễu, tiếc thay chỉ vài tuần sau thì những sợi tóc bạc khác lại xuất hiện, thế này thì đã đến lúc rồi, nhổ hay không nhổ cũng thế thôi. Cái thân bất tịnh mấy mươi năm nay thiện ác lẫn lộn, sự vô thường can thiệp tận từng sát na nhưng không để ý, không nhận thấy; giờ thì nó phô bày rõ bản lai diện mục rồi. Vô thường thì không có ai có thể biết nó đến lúc nào, có thể vài mươi năm nữa, có thể năm sau, thậm chí tháng sau hoặc ngày mai… Vì nó là vô thường nên nó cũng không thể biết khi nào đến hoặc đi. Chỉ có những bậc giác ngộ như Phật hay Arahanta thì mới tường tận được.
     Ngày trước, khi học phật đọc thiền sử tòng lâm y từng mê mẩn tậm thần, từng có một giấc mơ đẹp hơn cả chuyện cổ tích. Y hâm mộ vô cùng chuyện các thiền sư: Nào là Bồ Đề Đạt Ma cửu niên diện bích, thiền sư Nghĩa Huyền đấm Bách Trượng, Lâm Tế với chiêu đả cẩu hát bổng, Thiền sư Hoài Hải xem trăng, thiền sư Thạch Đầu đối đáp, thiền sư Shoju đốt cẩm nang thiền của chư tổ, thiền sư Gasan quát sư phụ, thiền sư Ryuokan xin lỗi tên trộm vì không làm sao cho y mặt trăng… hành trạng các vị như thể “khùng điên”, ngôn các ngài như thô tháo vô nghĩa. Người sơ cơ, kẻ vô duyên thì chẳng thể nào hiểu hay ngộ được, tất nhiên y cũng chẳng hiểu gì nhưng lòng yêu thích không sao tả được. Y cũng từng nuôi mộng xuất gia tu học, muốn nhập tòng lâm làm đệ tử các ngài, cái không khí thiền lâm thạch thất sơn đầu sao mà như thật như mơ.
     Y đọc qua kinh Lăng Nghiêm cũng thích lắm, nhất là những mẩu chuyện làm chứng cứ mang đậm dấu ấn và văn hóa Trung Hoa. Rồi đọc kinh Pháp Hoa, thấy những hình ảnh: Dược thảo, tháp Đa Bảo bay lên hư không...lòng liên tưởng đến những chuyện hoạt kê trong Tây Du Ký, nhưng thích nhất vẫn là hình ảnh tay cùng tử con ông trưởng giả. Y liên tưởng và thấy mình cũng giống ở chỗ hèn kém và bạc nhược. Y nghĩ y cũng như hầu hết mọi người trên thế gian này đều là những tay cùng tử cả. Chỉ có những vị cắt ái từ thân ly gia đoạn dục mới là những gã cùng tử đã quay về nhà và đã nhận ra hạt châu giấu trong chéo áo, dám nhận gia tài của ông trưởng giả trao cho. Y biết mình hèn kém, ngu muội, bạc nhược chưa dám quay về chứ đừng nói chi đến chuyện dám nhận gia tài.
     Thời gian qua mau, những năm sau y lại nghe pháp của ngài Ajahn Chan, Ajahn Brahm, sư Toại Khoanh, Giới Đức...Những lời pháp, bài pháp gần với Phật giáo sơ kỳ, rất thực tế, rất sâu sát và sắc bén. Những bài pháp ấy giúp y tỉnh mộng và biết mình nên làm gì.
     Thuở còn mơ mộng xuất gia, y cứ như người ngủ giữa ban ngày, tưởng tượng ra đủ thứ, lòng đinh ninh: Mình sẽ giữ giới, sẽ tinh tấn, sẽ trở nên sống phạm hạnh, sẽ ra tay chấn tác thanh quy, dựng lại những gì hư hỏng, thanh tẩy thiền môn, sẽ trục hết những kẻ “mượn đạo tạo đời”… Bởi vì y thấy Phật môn bây giờ nặng về hình thức, phô trương màu sắc mà không có thực chất. Khắp nơi đua  nhau xây chùa lớn, dựng tượng to, đúc chuông bự mà chẳng chịu xây người dựng đức. Nơi nơi chấp tướng mà biến hoại sự hành, xem nhẹ giới luật. Rất nhiều vị xuất gia mà lại đua chen với đời, tranh danh văn lợi dưỡng. Gã cùng tử ôm giấc mộng cuồng ngu cao vọng.
     Ngày nay y thấy chùa to Phật lớn khắp nơi nhưng chỉ để bán vé tham quan, phục vụ du lịch tâm linh. Người ta đến chụp hình quay clip tự sướng để đăng lên mạng xã hội. Có rất nhiều người đi chùa nhưng chẳng biết Phật dạy gì, nói gì… Họ đến chùa đốt một nắm nhang to tướng, vái búa xua, nhét vài đồng vào thùng phước sương rồi xin xem, bói quẻ, cầu lộc cầu tài...Thật đáng buồn thay, thât đúng là cả một bọn cùng tử, ai cũng có viên minh châu trong chéo áo nhưng chẳng biết, lại đi cầu những thứ vặt vãnh tầm thường; điều đáng nói là không thể cầu được, phước đức tự làm chứ chẳng có ai ban phát. Y vốn là một gã cùng tử nhưng thấy đám cùng tử kia còn cùng hơn, còn hèn mọn hơn cùng tử trong kinh.
     Y cuồng mê xuất gia tu học rồi làm hòa thượng để chấn tác lại chốn già lam, sẽ tách già lam ra khỏi những thế lực chính trị, lược bỏ những yếu tố Tàu trong thiền môn, ngăn chặn sự xâm nhập và điều khiển của thế lực chính trị thế tục. Những tác động của các thế lục chính trị đã làm xiêu lệch tông môn, biến tướng thiền lâm. Không ít người trong chốn già lam đã trở thành công cụ phục vụ chính trị, không ít người của thế lực chính trị cài cắm vào trong già lam. Ngày hôm nay trong một khoảnh khắc tỉnh thức, y biết mình đã vượt quá phận mình, đã mơ giấc mơ hoang tưởng. Y vẫn là một gã cùng tử chưa biết ngày nào quay về , thân mình chưa xong mà lại lo chuyện thiên hạ, nực cười cho: ”ốc không lo cho ốc, ốc lo đầu cốc mọc rêu”. Gã cùng tử lang thang trên đường đời, vất vả đường mưu sinh, chẳng biết đường đi về, không có đường tiến lui, dậm chân tại chỗ trên đường đạo, dang dở đường thăng đọa…. May là giờ này y nhận ra được cái thực tế nhất và cái có khả năng nhất là giữ phận của một Phật tử sơ cơ, giữ những giới cơ bản một cách tốt nhất mà mình có thể.
     Việc thịnh-suy của quốc gia hay thanh-trọc trong già lam cũng là lẽ vô thường, thịnh suy liên lỉ có phút giây nào ngừng, ngay cả chánh pháp của Thích Ca mâu Ni Phật cũng sẽ có lúc diệt (khi mà có một vị Phật mới xuất hiện). Thế gian này xưa nay cũng đã có bao nhiêu quốc gia mới hình thành và bao nhiêu quốc gia đã diệt vong. Vô thường là thế, không có hạn kỳ hẹn thời, vô thường có thể dài dằng dặc nhưng cũng có thể trong một khoảnh khắc sát na. Gã cùng tử nhổ sợi tóc bạc, cầm sợi tóc bạc ngắm nghía thấy trong ấy có cả đất nước gió lửa đang chuyển động, lại thấy gương mặt của sứ giả vô thường. Trong đầu y văng vẳng lời từ tận cùng sâu của tâm thức: ”rồi cái thân này sẽ hoại, cùng tử ơi! Ngươi đã chuẩn bị tư lương gì chưa? Cái ngươi mang theo sau khi thân hoại mệnh chung không phải là của cải, tiền bạc, gái đẹp trai xinh…. Mà là những nghiệp lành, dữ đã tạo và đang tạo”.

 

–Tiểu Lục Thần Phong

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cây Phượng Vĩ Hoa Vàng có tên khoa học là Delonix regia var plavida thuộc họ Fabaceae có nguồn gốc từ Myanmar được sư trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng mang về Việt Nam, đầu tiên được trồng ở Huế một số cây dọc theo con đường ở phố Ngô Quyền, ngã ba Phan Bội Châu, Lê Lợi... đã thu hút nhiều du khách đến ngắm cảnh và chụp hình. Hoa phượng vĩ vàng có tuổi đời lên đến 5, 6 chục năm, cây nhỏ hơn hoa phượng đỏ, ít lá và hoa có màu vàng tươi bắt mắt, thường nở từ tháng giêng, tháng hai và nở rộ và khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, nên còn gọi là loài hoa “ chào mùa hè”. Hoa nở rụng tạo thành một “thảm hoa vàng” trên đường đi, gây nhiều ấn tượng cho những ai đi dạo trên những con đường này. Năm 2005, Công ty công viên cây xanh Sài Gòn mang về trồng một số nơi ở Sài Gòn nhưng chưa được nhiều.
Mùa hè quê tôi không có hoa phượng rơi, mà bắt đầu một mùa nước nổi. Nước lên cao, mênh mông ngập khắp cánh đồng và cả khoảng sân nhà mẹ. Những cơn gió trở mùa mát dịu dàng bao đêm dài mộng tưởng. Ngày sẽ lên, đời ập tới cho dù chúng ta có chờ đợi hay lãng quên. Mẹ tôi báo tin, “Tháng tới là đám cưới con Lệ. Cũng mừng cho con nhỏ, gia đình chồng giàu có. Chỉ tội là nó phải theo chồng đi xa”. Tôi nghe tin, thấy lòng trống trải vô cùng. Một khoảng trống mênh mông, cứ tràn ngập mỗi ngày một lớn. Tôi biết mình đã yêu chị thiết tha...
Trước giờ thi, một cô học trò láu táu, “Thầy bao nhiêu tuổi hả thày?” Câu hỏi từ cặp môi đỏ chót và cái nháy mắt từ cặp lông mi lướt thướt làm cả lớp cười ồ. Hồi ấy tôi vừa mới ba mươi, và tôi là ông thầy giáo bị hỏi câu ấy ngay trong lớp học, cái lớp học có quá nửa số học sinh là nữ, và tôi bị hỏi khi đang giúp học trò ôn bài thi cuối khóa. Quá bất ngờ, ông thầy sựng lại một giây, rồi thong thả trả lời, “Cái này đâu có trong đề thi.” “Em hỏi là tại vì hồi đêm em nằm chiêm bao thấy thày,” cặp môi cong chậm rãi giải thích. Cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô học trò gật gù như chờ cho mọi người theo kịp rồi mới tiếp, “Vì vậy em cần biết tuổi thày để mua số đề.”
Năm 2015, Milana đã ba mươi tuổi, đang làm việc trong một công ty Network ở California. Mẹ nàng tỏ ra lo lắng tại sao tuổi này mà không chịu lấy chồng, mà cũng ít thấy có bạn trai; bà e rằng phụ nữ sau ba mươi lăm tuổi khó sanh nở. Nhưng nàng có lý do riêng không nói được với ai...
Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.
Tả sao cho hết cảnh cổng lớn đồ sộ. Từ chân lên đến đỉnh, tràn ngập mặt nạ treo kín mít. Đủ loại mặt nạ tượng trưng cho thiện ác, xấu đẹp, đúng sai. Có cả mặt nạ Chúa, Phật, thánh thần, hiền nhân, ác tặc, vân vân. Dọc bên dưới là những thùng lớn chứa vô số mặt nạ theo kiểu treo bên trên. Người nào đi vào, tự động lựa cho mình một loại mặt nạ hợp với tính tình, mang lên, rồi mới được tiếp tục đi. Mỗi người có hai mặt nạ, một thật đã thói quen thành giả và một giả thật chồng lên.
Chúng tôi cùng cười vui vẻ tìm đường ra khỏi cổng chùa Thiên Trù tức “chùa Ngoài” để rồi tiếp tục cuộc hành trình vào chùa Hương Tích tức “chùa Trong”...
Anh nhớ rõ buổi sáng hôm đó, anh đang chăm chú theo dõi viết bài bài thi Dictée Francaise do thầy Trương Thành Khuê đọc, bỗng nhiên ngửi thấy mùi cứt, cả lớp ngẩng đầu nhìn qua bệ cửa sổ thấy có 4 người tù đẩy một chiếc xe có hai thùng phân của nhà lao Phan Rang, theo sau là môt tên lính mang súng và tay cầm roi da. Cả thầy Khuê và các bạn đều nhìn ra cha của anh, một trong 4 người tù ấy. Anh cúi xuống và tiếp tục viêt bài thi. Cuối giờ thi, nước mắt anh hoen ố bài Dictée. Thấy vậy thầy Khuê lấy tờ giấy chậm (buvard), chậm khô bài thi Dictée. Cha của anh cũng là giáo viên, có thời ông là bạn láng giềng thân thiết của thầy Khuê. Đến lúc ra về, các bạn Long Địch Trạnh, Trần Nhât Tân, Trần Văn Thì... đang đứng đợi anh bên ngoài véranda, các bạn đến an ủi và vổ về khích lệ khuyên anh cứ tiếp tục thi.
Hai đứa cùng lớp từ tiểu học. Nhà Quỳnh Lâm ở gần sân vận động. Nhà tôi ở đường Quang Trung, gần trường Chấn Hưng. Hai đứa đến trường Nữ Tiểu Học từ hai hướng khác nhau. Vậy mà vẫn cứ đi vòng, để cùng đến lớp. Hai đứa vẫn thường tắm chung trước khi rời nhà. Quỳnh Lâm mặc mấy áo đầm kiểu trong báo Thằng Bờm, Thiếu Nhi. Ba tôi bảo thủ, cho tôi diện những kiểu đầm xưa lắc, xưa lơ. Có năm, kiểu áo đầm xoáy, tay cụt rất thịnh hành. Chị Thanh Tâm xin Mạ ra tiệm Ly Ly may cho tôi một áo. Nhưng Ba bắt phải cải biên, tức là phải dài quá gối (đâu còn thuộc họ mini jupe nữa đâu), và tay phải dài che cùi chỏ.
Người con gái ngồi bất động như thế đã từ lâu lắm; dễ chừng có cả tiếng đồng hồ rồi. Trời biếc xanh, lác đác những khóm mây bông gòn trắng nõn, biển xanh thẫm phía trước, sóng dạt dào xô nhau vỗ vào ghềnh đá tung bọt trắng xóa dưới chân. Tất cả như cùng cuốn hút nàng vào cái bao la mịt mùng bí mật. Ở một góc nhìn từ bên sườn dốc đá, thấy nàng nhạt nhòa trong nắng như một phần của núi non đã hóa thạch từ ngàn năm trước. Người con gái, như tượng đá, mong hoài một điều không bao giờ xảy ra; một ước mơ không bao giờ thành sự thực; hay nàng đứng chờ trông một người đã mịt mù bóng chim tăm cá?
Ngày Hiền Phụ hay là Ngày Lễ Cha (Father’s Day) rơi vào ngày Chủ Nhật thứ 3, tháng 6 hàng năm tại Hoa Kỳ, được Tổng Thống Lyndon Johnson chính thức công nhận là ngày lễ quốc gia từ năm 1966, sau đó Tổng Thống Nixon ký thành luật, ban hành năm 1972. Theo lịch sử Hoa Ký, vào năm 1909, bà Sonora Smart Dodd lúc đó 27 tuổi, sau khi nghe diễn thuyết về ngày Lễ Mẹ tại đền Spokane tiểu bang Washington, bà nảy sinh ý muốn có một ngày đặc biệt để tôn vinh người cha, vì cha cũng xứng đáng được tôn vinh như mẹ. Tư tưởng này xuất phát từ lòng can đảm, sự hy sinh và tình thương dành cho các con của cha bà là ông William Smart. Vợ chết ngay khi sinh đứa con thứ 6 vào năm 1898, ông William Smart đã ở vậy, một mình nuôi 6 đứa con ở một nông trại miền Đông tiểu bang Washington Hoa Kỳ.
Tình yêu không phải là thứ ngôn ngữ nói ra, mà là ngôn ngữ để giữ kín! Tôi đã chôn kín hình ảnh đẹp nhất một đời người. Bây giờ người con gái năm xưa đang ở đâu, sống ra sao trong vạn nẽo đường trần hệ lụy. Có còn nhớ cơn mưa bong bóng chiều nào nơi hiên ngôi chùa nhỏ? Có còn tìm thấy những cơn mưa bong bóng bên đời? Hay tất cả đã phôi pha, đã trôi theo những giọt mưa bong bóng một thời đã mất?


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.