Hôm nay,  

Lá thư gửi Mẹ

13/05/202321:23:00(Xem: 4475)
Tùy bút Mother's Day

vtduong


Mẹ ơi thôi đừng khóc nữa

Cho lòng già nặng sầu thương

Con đi say tình viễn xứ

Đâu có quên tình cố hương

(Lá Thư Gửi Mẹ, thơ Thái Thủy, nhạc Nguyễn Hiền).

 

***

 

Từ nghìn xưa cho tới nay, từ Đông sang Tây, hình bóng người mẹ vô cùng cao quý, thiêng liêng, sự hy sinh vô bờ bến trong tình mẫu tử, với trái tim đầy nhân ái, với tâm hồn cao cả đã in sâu trong lòng người con từ lúc sinh ra cho đến khi lìa đời. Hình bóng đó đã được thể hiện qua thơ, văn, nhạc và trong nhiều lãnh vực khác, không thể nào liệt kê hết trong bao nhiêu tác phẩm của nhân loại.
     Sống trên xứ người, mỗi năm vào dịp Mother’s Day (Ngày Lễ Mẹ) cũng là ngày đáng quý để nhắc nhở đến bậc sinh thành đã “mang nặng đẻ đau” nuôi nấng, dạy dỗ cho con nên người. (Ở Mỹ, ngoài hai ngày Mother’s Day vào Chủ Nhật, tuần lễ thứ hai của tháng 5 và Father’s Day vào Chủ Nhật, tuần lễ thứ ba của tháng 6. Ngoài ra còn có Grandparent’s Day / Ngày Ông Bà. Tổng Thống Jimmy Carter chỉ định Chủ Nhật đầu tiên của tháng 9 là Grandparent’s Day). Với thế hệ thứ hai của chúng ta chỉ nhớ hai ngày trên (Mother’s and Father’s Day) nhưng với thế hệ thứ ba thì chẳng biết gì về Grandparent’s Day.
     Trải qua thời kỳ chiến tranh và giai đoạn phải gánh chịu khó khăn, khổ cực, gia đình tôi may mắn cũng được hưởng chữ “thọ” nên khi các chị mất, con cái đã trưởng thành, trọn tình hiếu nghĩa khi tang lễ, lo mồ yên mả đẹp.
     Mẹ tôi mất năm 1990, hưởng đại thọ 90 tuổi. Gần ba thập niên sau, chị Hai (chị Cả) mất năm 2017, hưởng đại thọ 92 tuổi. Chị Bảy (người chị kế) mất năm 2018, hưởng thọ 78 tuổi). Chị Sáu vừa mất ngày 14/1/2023, hưởng đại thọ 87 tuổi). Nay chỉ còn chị Bốn đã 94 tuổi ở Hội An và chị dâu (vợ anh Năm) đã 90 tuổi, ở Đà Nẵng. (Trong gia đình thường gọi ngôi thứ các anh chị em).
     Với các cháu nội, ngoại đã một thời sống gần gũi với bà đã in đậm hình ảnh cao quý với bao đức tính cao cả nên sau nầy nói rằng mẹ các cháu (kể cả người chị dâu) là bản sao y hệt. Và, với truyền thống của người Việt từ thời xa xưa, hầu như con gái là bản sao chân dung của người mẹ. Qua thơ, văn, nhạc… với hình ảnh đó được đề cập rất nhiều.
     Thời học sinh nơi phố cổ Hội An, tôi đã đọc tập truyện Quê Mẹ của nhà văn Thanh Tịnh (trong tập truyện nầy có truyện ngắn Quê Mẹ và Tôi Đi Học) với Lời Tựa của Thạch Lam. Tập truyện Nhà Mẹ Lê của nhà văn Thạch Lam, ấn hành vào thời tiền chiến. Lòng Mẹ và Tôi Là Mẹ của nhà văn Lê Văn Trương… Những hình ảnh đó đã gợi lòng thương cảm trong tâm hồn tuổi thơ, vô cùng cảm động.
     Nhà văn Mỹ Zora Neale Hurston vào đầu thế kỷ XX đã nói: “Mẹ là người luôn khuyến khích những đứa con của mình hãy bay thật xa. Có thể chúng ta không thành công, nhưng ít nhất bà đã khiến chúng ta nhấc đôi chân của mình lên khỏi mặt đất”. Bà Hurston là văn sĩ người Mỹ nhưng tâm hồn giống như những bà mẹ Việt Nam, không muốn rời nơi chốn, cố hương nhưng mong muốn “những đứa con của mình hãy bay thật xa” để tạo dựng cuộc sống tốt đẹp hơn.
     Từ hồi còn học sinh, “nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò” cũng nghịch ngợm, phá phách, nghe nói, có người “méc” cho biết nhưng với tấm lòng bao dung, độ lượng nên không bị quở trách mà còn cho rằng những đứa trẻ nầy lớn lên thường có hiếu. Khi dấn thân vào quân ngũ, nay đây mai đó, không có dịp sống gần gũi với mẹ, thỉnh thoảng mới về thăm mẹ. Đúng vậy, nhà văn Pháp Balzac đã nói: “Trái tim mẹ là vực sâu muôn trượng mà ở dưới đó bạn sẽ luôn tìm thấy sự tha thứ”. Chân dung người mẹ là biểu tượng cao quý của sự hy sinh cao cả và lòng bao dung vô bờ bến.
     Sau tháng Tư năm 1975, tôi ở trong lao tù, mẹ ở nơi xa xôi, không được gặp nhau lần nào, có lẽ mẹ tôi đã khóc rất nhiều cho đứa con trong hoàn cảnh nghiệt ngã! Trong giây phút lâm chung, mẹ tôi mê man, các anh chị bên cạnh, không có tôi, sức mạnh vô hình thiêng liêng phù hộ mẹ tôi mở mắt và hỏi: “Nó đi Mỹ chưa?” Anh chị đành nói dối “Nó đi rồi”, mẹ tôi nhắm mắt, yên tâm vĩnh biệt trần gian! Khi tôi về phục tang trước khi đi Mỹ, nghe những lời cuối cùng, nước mắt lưng tròng! Đây là điều bất hạnh và ân hận trong cuộc đời. Với người mẹ, không nghĩ đến sự sống, chết của bản thân mà suốt đời chỉ quan tâm đến con cái.
     Còn tôi, trong tháng ngày đen tối, không có điều kiện để báo hiếu công ơn dưỡng dục với bậc sinh thành. Không có cái tội nào dày vò canh cánh trong lòng bằng cái tội nghèo cho bản thân và với những người thân! Trong hoàn cảnh đó, chỉ mong có cơ hội “cất cánh bay xa” mong có dịp đến đáp. Nhưng rồi, chỉ còn trong tâm tưởng với hình bóng cao quý nơi cõi thiên thu!
     Với hàng trăm, hàng nghìn câu nói, danh ngôn về người mẹ, nếu chọn lọc và gom lại mới thể hiện được chân dung người mẹ.
     Cảm ơn đất nước Hoa Kỳ với Mother’s Day, nhân đây mới có cơ hội để viết Lá Thư Gửi Mẹ nơi vĩnh hằng.

 

– Vương Trùng Dương

(Little Saigon, Mother’s Day, 2023)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chuyến về quê của tôi chỉ là đi từ Nam ra Bắc, vì tôi là một cư dân của Sài An, tức là Sài Gòn, nói văn vẻ dựa hơi Tràng An một tí. Đối với tôi, thành phố hoa lệ một thời mà tôi đã sinh sống từ thuở thơ ấu đến ngày bạc tóc hôm nay vẫn mãi là Sài Gòn. Và chỉ là Sài Gòn thôi...
Hôm cô tự kết liễu đời mình, cô mặc chiếc áo lụa trắng ra chợ huyện như một thói quen. Ra chợ nhưng cô không mua thức ăn như mọi lần về nấu cho cô và gã bác sĩ bộ đội ăn tối. Đầu óc cô hoàn toàn trống rỗng như tờ giấy trắng tinh, hai chân cô như bị vô thức sai khiến, mắt cô nhìn nhưng chẳng hình ảnh nào đập vào trí óc, và các thứ âm thanh hỗn độn của một buổi họp chợ sáng nghe như những nhiễu âm không qua máy lọc...
Tương truyền đây là những lời thơ Nôm mà vua Quang Trung phê vào sớ tâu của dân làng Văn Chương. Tờ sớ khá dài, trong đó nêu lên sự hư hoại gãy đổ bia tiến sĩ ở văn miếu. Người dân đồ đoán văn miếu bị tàn phá là do quân Tây Sơn trong lúc đánh dẹp họ Trịnh đã gây ra vừa đưa thêm giả thuyết do Trịnh Khải cho người phá hoại để đổ vấy cho Tây Sơn. Điều đáng nói ở đây là khi nhận sớ, vua Quang Trung chẳng những không giận dữ mà còn đích thân dùng chữ Nôm để phê với thái độ cầu thị vô cùng đặc biệt của ngài...
Mấy người khác đều thay nhau thử bồng nhưng đứa trẻ nhất quyết không chịu và cứ một mực đòi sư Khánh Vân. Sư Khánh Vân gọi chú tiểu Công Sơn lại bế thử thì người ta lại ngạc nhiên thấy đứa nhỏ nín khóc chịu cho bồng. Mọi người đều cười...
Năm tôi lên mười, O Xưa đã trên ba mươi. Ở con đường Nam Giao, thành phố Huế, từ đầu dốc tới cuối dốc, O Xưa đi lên đi xuống hằng ngày giống như một cái bóng, vì hình như O không sống với người. O Xưa sống với ma, người chồng ma của O vô hình, ở đâu đó, trên cây, trong cỏ, trên lá, trong vòm trời, trong bóng mây, O kể lể vậy. Có thể nhìn thấy O Xưa vào buổi sáng, vào giờ công chức đi làm, học sinh đi học và các bà nội trợ Huế ngồi xúm xít bên gánh bún bò ngon nổi tiếng của mụ Dục, bên gánh cơm Hến của mụ Khế, gánh bánh canh từ Nam Phổ của mụ Cau. Buổi trưa, lúc O Xưa đi từ trên con dốc xuống, đầu đội nón thì mấy bà nội trợ đang ngồi lê đôi mách với nhau ở cái quán tre đầu một con hẻm.
Với tôi, tháng Hai là tháng mùa đông tàn phai, chuẩn bị tâm hồn phơi phới cho những ngày sắp tới. Các bạn tôi giãy nảy lên, xúm vào bảo tôi “nói thách” sớm quá, vì tháng Hai vẫn là mùa đông, nhiệt độ vẫn ở độ âm dưới zero, tuyết vẫn rơi bao la, vậy tàn đông cái nỗi gì!
Hôm thứ Ba vừa rồi, vợ chồng tôi đến ga NTG đón hai mẹ con người bạn vào chơi trên chuyến tàu Bắc-Nam SE7 dự kiến sẽ đến ga lúc 9h15 AM, Chúng tôi ngồi ở phòng đợi cùng với những hành khách đón tàu xuôi các ga phía Nam...
Tôi đạp xe về nhà với cõi lòng lâng lâng. Chẳng biết từ lúc nào tôi đã thương mến thầm anh Phượng hàng xóm, anh hơn tôi chừng 7, 8 tuổi, hát hay đàn giỏi, thỉnh thoảng buổi tối anh ngồi trước cửa nhà đàn hát, tiếng hát ngọt ngào của anh đã rót vào trái tim 16 tuổi trăng tròn của tôi những tình cảm bâng khuâng. Anh đi lính, xóm vắng anh, vắng cả những đêm khuya tiếng hát tiếng đàn...
Ở vùng quê người ta vẫn dùng một vài thứ lá như lá vối, lá "ngấy" (không phải lá ngái), lá bò bò, dây lá nhãn lồng (có nơi gọi lá mắm nêm) kiếm từ rừng rẫy về xắt ra, phơi khô trữ từng bao để nấu uống dần thay lá chè (trà). Nước các thứ lá ấy ai cũng dùng được, cả nhà sẽ uống suốt ngày...
Tôi sắp kể một chuyện thật ghê sợ, kể một cách không màu mè. Tôi chẳng mong đợi ai tin chuyện tôi kể cả. Quả vậy, có điên mới mong như vậy, vì chính những giác quan thật của tôi cũng phủ nhận sự hiển nhiên này. Phải.Tôi không điên và chắc chắn là tôi không nằm mơ. Nhưng ngày mai tôi không còn sống, và hôm nay tôi phải cất đi gánh nặng này trong tâm hồn. Mục đích trước mắt của tôi là trình bày một chuỗi các sự việc một cách rõ ràng, ngắn gọn, không bình luận. Bởi hậu quả của nó, những sự việc này đã làm tôi hoảng sợ, đã hành hạ tôi, đã hủy hoại tôi. Sau này có thể ai đó điềm tĩnh hơn, có đầu óc lập luận hơn tôi và không dễ bị kích động như tôi, sẽ hiểu được trường hợp của tôi không có gì khác hơn là luật nhân quả thông thường và rất tự nhiên.
Tuổi học trò là tuổi mang nhiều kỷ niệm khôn nguôi. Chúng ta nghĩ về thuở xa xưa đó như nghĩ về sân đá banh, suối Đốc Học, suối Mu-ri (Maury), thác Nhà Đèn, hồ Piscine, hồ Trung Tâm hay cột đèn ba ngọn, kể cả con chim, con dế, một thứ keo dính chặt trong trí nhớ học trò...
Trực thăng vừa đáp, cánh quạt thổi cát bụi tung mịt trời, cỏ tranh bên dưới ngã rạp, thân dập dềnh như sóng. Thăng nhảy xuống trước tiên, đảo mắt quan sát chung quanh rồi quay người lại giơ tay cho Chinh bám lấy để bước xuống. Cũng chiếc máy truyền tin cũ đeo sau lưng, nhưng hôm nay có vẻ nặng hơn vì gương mặt Chinh đanh lại chứ không nhìn Thăng cười và khẽ gật đầu như những lần đổ bộ trực thăng trước. Chinh mang máy cho Thăng đã ba năm, đeo hạ sĩ gần một năm. Thầy trò đã kề cận, cùng vào sinh ra tử không biết bao nhiêu lần, chưa bao giờ Chinh biểu lộ sợ hãi kể cả những lúc nguy khốn nhất, bị địch vây hãm phải mở đường máu để triệt thoái...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.