Hôm nay,  

Lá thư gửi Mẹ

13/05/202321:23:00(Xem: 4428)
Tùy bút Mother's Day

vtduong


Mẹ ơi thôi đừng khóc nữa

Cho lòng già nặng sầu thương

Con đi say tình viễn xứ

Đâu có quên tình cố hương

(Lá Thư Gửi Mẹ, thơ Thái Thủy, nhạc Nguyễn Hiền).

 

***

 

Từ nghìn xưa cho tới nay, từ Đông sang Tây, hình bóng người mẹ vô cùng cao quý, thiêng liêng, sự hy sinh vô bờ bến trong tình mẫu tử, với trái tim đầy nhân ái, với tâm hồn cao cả đã in sâu trong lòng người con từ lúc sinh ra cho đến khi lìa đời. Hình bóng đó đã được thể hiện qua thơ, văn, nhạc và trong nhiều lãnh vực khác, không thể nào liệt kê hết trong bao nhiêu tác phẩm của nhân loại.
     Sống trên xứ người, mỗi năm vào dịp Mother’s Day (Ngày Lễ Mẹ) cũng là ngày đáng quý để nhắc nhở đến bậc sinh thành đã “mang nặng đẻ đau” nuôi nấng, dạy dỗ cho con nên người. (Ở Mỹ, ngoài hai ngày Mother’s Day vào Chủ Nhật, tuần lễ thứ hai của tháng 5 và Father’s Day vào Chủ Nhật, tuần lễ thứ ba của tháng 6. Ngoài ra còn có Grandparent’s Day / Ngày Ông Bà. Tổng Thống Jimmy Carter chỉ định Chủ Nhật đầu tiên của tháng 9 là Grandparent’s Day). Với thế hệ thứ hai của chúng ta chỉ nhớ hai ngày trên (Mother’s and Father’s Day) nhưng với thế hệ thứ ba thì chẳng biết gì về Grandparent’s Day.
     Trải qua thời kỳ chiến tranh và giai đoạn phải gánh chịu khó khăn, khổ cực, gia đình tôi may mắn cũng được hưởng chữ “thọ” nên khi các chị mất, con cái đã trưởng thành, trọn tình hiếu nghĩa khi tang lễ, lo mồ yên mả đẹp.
     Mẹ tôi mất năm 1990, hưởng đại thọ 90 tuổi. Gần ba thập niên sau, chị Hai (chị Cả) mất năm 2017, hưởng đại thọ 92 tuổi. Chị Bảy (người chị kế) mất năm 2018, hưởng thọ 78 tuổi). Chị Sáu vừa mất ngày 14/1/2023, hưởng đại thọ 87 tuổi). Nay chỉ còn chị Bốn đã 94 tuổi ở Hội An và chị dâu (vợ anh Năm) đã 90 tuổi, ở Đà Nẵng. (Trong gia đình thường gọi ngôi thứ các anh chị em).
     Với các cháu nội, ngoại đã một thời sống gần gũi với bà đã in đậm hình ảnh cao quý với bao đức tính cao cả nên sau nầy nói rằng mẹ các cháu (kể cả người chị dâu) là bản sao y hệt. Và, với truyền thống của người Việt từ thời xa xưa, hầu như con gái là bản sao chân dung của người mẹ. Qua thơ, văn, nhạc… với hình ảnh đó được đề cập rất nhiều.
     Thời học sinh nơi phố cổ Hội An, tôi đã đọc tập truyện Quê Mẹ của nhà văn Thanh Tịnh (trong tập truyện nầy có truyện ngắn Quê Mẹ và Tôi Đi Học) với Lời Tựa của Thạch Lam. Tập truyện Nhà Mẹ Lê của nhà văn Thạch Lam, ấn hành vào thời tiền chiến. Lòng Mẹ và Tôi Là Mẹ của nhà văn Lê Văn Trương… Những hình ảnh đó đã gợi lòng thương cảm trong tâm hồn tuổi thơ, vô cùng cảm động.
     Nhà văn Mỹ Zora Neale Hurston vào đầu thế kỷ XX đã nói: “Mẹ là người luôn khuyến khích những đứa con của mình hãy bay thật xa. Có thể chúng ta không thành công, nhưng ít nhất bà đã khiến chúng ta nhấc đôi chân của mình lên khỏi mặt đất”. Bà Hurston là văn sĩ người Mỹ nhưng tâm hồn giống như những bà mẹ Việt Nam, không muốn rời nơi chốn, cố hương nhưng mong muốn “những đứa con của mình hãy bay thật xa” để tạo dựng cuộc sống tốt đẹp hơn.
     Từ hồi còn học sinh, “nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò” cũng nghịch ngợm, phá phách, nghe nói, có người “méc” cho biết nhưng với tấm lòng bao dung, độ lượng nên không bị quở trách mà còn cho rằng những đứa trẻ nầy lớn lên thường có hiếu. Khi dấn thân vào quân ngũ, nay đây mai đó, không có dịp sống gần gũi với mẹ, thỉnh thoảng mới về thăm mẹ. Đúng vậy, nhà văn Pháp Balzac đã nói: “Trái tim mẹ là vực sâu muôn trượng mà ở dưới đó bạn sẽ luôn tìm thấy sự tha thứ”. Chân dung người mẹ là biểu tượng cao quý của sự hy sinh cao cả và lòng bao dung vô bờ bến.
     Sau tháng Tư năm 1975, tôi ở trong lao tù, mẹ ở nơi xa xôi, không được gặp nhau lần nào, có lẽ mẹ tôi đã khóc rất nhiều cho đứa con trong hoàn cảnh nghiệt ngã! Trong giây phút lâm chung, mẹ tôi mê man, các anh chị bên cạnh, không có tôi, sức mạnh vô hình thiêng liêng phù hộ mẹ tôi mở mắt và hỏi: “Nó đi Mỹ chưa?” Anh chị đành nói dối “Nó đi rồi”, mẹ tôi nhắm mắt, yên tâm vĩnh biệt trần gian! Khi tôi về phục tang trước khi đi Mỹ, nghe những lời cuối cùng, nước mắt lưng tròng! Đây là điều bất hạnh và ân hận trong cuộc đời. Với người mẹ, không nghĩ đến sự sống, chết của bản thân mà suốt đời chỉ quan tâm đến con cái.
     Còn tôi, trong tháng ngày đen tối, không có điều kiện để báo hiếu công ơn dưỡng dục với bậc sinh thành. Không có cái tội nào dày vò canh cánh trong lòng bằng cái tội nghèo cho bản thân và với những người thân! Trong hoàn cảnh đó, chỉ mong có cơ hội “cất cánh bay xa” mong có dịp đến đáp. Nhưng rồi, chỉ còn trong tâm tưởng với hình bóng cao quý nơi cõi thiên thu!
     Với hàng trăm, hàng nghìn câu nói, danh ngôn về người mẹ, nếu chọn lọc và gom lại mới thể hiện được chân dung người mẹ.
     Cảm ơn đất nước Hoa Kỳ với Mother’s Day, nhân đây mới có cơ hội để viết Lá Thư Gửi Mẹ nơi vĩnh hằng.

 

– Vương Trùng Dương

(Little Saigon, Mother’s Day, 2023)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hai tên đeo băng đỏ đưa tôi đến một căn nhà nằm trên đường Tôn Thất Thuyết. Nay mới biết là cơ sở kinh tài của Việt Cộng. Vào bên trong, tôi thấy có một số người bị bắt trước ngồi trên băng ghế đặt ở góc một phòng lớn rộng rãi. Họ ngước mắt nhìn tôi có vẻ ái ngại. Tôi biết những người ngồi đó là thành phần đặc biệt nằm trong danh sách tìm bắt của chúng. Nhìn họ, tôi thấy mấy người quen quen. Hình như họ là viên chức Chính Phủ trong tỉnh. Tôi được đưa đến ngồi cạnh họ. Tất cả đều im lặng, không ai nói với ai lời nào ngay cả khi bất chợt nhìn thấy tôi. Có lẽ im lặng để che đậy cái lý lịch của mình, làm như không quen biết nhau, nếu có khai láo cũng không liên lụy đến người khác.
Trong cuộc đời, ắt hẳn bạn đã nhiều lần bước trên lối mòn giữa một cánh đồng cỏ hay trong một khu rừng? Thoạt đầu, lối mòn ấy cũng đầy hoa hoang cỏ dại như chung quanh, nhưng những bước chân người dẫm lên qua ngày tháng đã tạo thành một con đường bằng phẳng. Ký ức chúng ta cũng tương tự như lối mòn ấy. Những trải nghiệm với cảm xúc mạnh mẽ trong quá khứ được nhớ đi nhớ lại như những bước chân đi trên lối mòn góp phần hình thành ký ức, và cả con người chúng ta. Người Mỹ gọi loại ký ức này là “core memory” mà ta có thể dịch ra Việt ngữ là ký ức cốt lõi. Với tôi, ký ức cốt lõi ấy là những gì xẩy ra cho tôi và gia đình trong quãng thời gian kể từ khi thị xã Ban Mê Thuột thất thủ ngày 12 tháng Ba năm 1975, kéo theo sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam chưa đến bẩy tuần sau đó. Tôi vẫn nhớ, và nhớ rất rõ.
Vốn là một quân nhân, sau khi triệt thoái từ miền Trung về Saigon, tôi được bổ xung cho một đơn vị pháo binh đang hành quân ở vùng Củ Chi, Tỉnh Tây Ninh, yểm trợ sư đoàn 25 Bộ BinhB. Khoảng ba tuần trước khi mất nước tôi bị thương ở chân. Nằm trong quân y viện Tây Ninh vài ngày, bác sĩ cho về nhà dưỡng thương một tháng ở Saigon.
Ngày xưa, thông thường, chồng của cô giáo được gọi là thầy, cũng như vợ của thầy giáo được gọi là cô. Cho dù người chồng hoặc vợ không làm việc trong ngành giáo dục. Nhưng trường hợp cô giáo tôi, cô Đỗ Thị Nghiên, trường Nữ Tiểu Học Quảng Ngãi thì khác. Chồng của cô, thầy Nguyễn Cao Can, là giáo sư dạy trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi. Cô Đỗ Thị Nghiên dạy lớp Bốn, trường Nữ Tiểu Học. Trong mắt nhìn của tôi, của con bé mười tuổi thuở ấy, cô Nghiên là một cô giáo rất đặc biệt. Cô nói giọng bắc, giọng nói trầm bổng, du dương. Tóc cô ngắn, ôm tròn khuôn mặt. Da cô trắng nõn nà. Có lần ngoài giờ học, trên đường phố của thị xã Quảng Ngãi, tôi thấy hai vợ chồng thầy Can, cô Nghiên đèo nhau trên xe gắn máy. Cô mặc jupe, mang kính mát, ngồi một bên, tréo chân, khép nép dựa vai thầy. Ấn tượng để lại trong trí của con bé tiểu học là hình ảnh của đôi vợ chồng sang trọng, thanh lịch, tân thời, cùng mang thiên chức cao cả: dạy dỗ lũ trẻ con nên người.
Tháng Tư này tròn 50 năm biến cố tang thương của miền Nam Việt Nam, những người Việt hải ngoại, đời họ và thế hệ con cháu đã trưởng thành và thành công trên xứ người về mọi mặt học vấn cũng như công ăn việc làm. Họ đang hưởng đời sống ấm no tự do hạnh phúc đúng nghĩa không cần ai phải tuyên truyền nhồi sọ. Nhưng trong lòng họ vẫn còn bao nhiêu kỷ niệm thân thương nơi chốn quê nhà.
Có một buổi trưa, hai đứa đang thưởng thức bò bía, đậu đỏ bánh lọt ở chùa Xá Lợi, góc Bà Huyện Thanh Quan và Ngô Thời Nhiệm (?), thì gặp một "cái bang". Đầu đội khăn rằn, đeo mắt kiếng cận nặng, cổ quấn vài ba chiếc khăn đủ màu và ông còn dẫn theo hai con chó, vừa đi vừa múa tay múa chân như người say rượu. Chừng như ông không cần thấy ai, chung quanh chỉ có ông và hai con chó. Người đàn ông "cái bang" đó là nhà thơ, nhà văn, nhà biên khảo nổi tiếng của Việt Nam: Bùi Giáng. Hai con chó vừa đi vừa sủa vang, khiến một số nữ sinh Gia Long đang đứng quanh xe bò bía, vội vã chạy né qua bên kia đường. T
Một ngày nọ, ngài gặp một bà mẹ, bà ôm một đứa con vừa mất vừa đi vừa khóc lóc thảm thiết, ai cũng mũi lòng thương, thông cảm vì mất con là nỗi đau khổ nhứt trong cuộc đời… người ta mách bảo là bà nên gặp Sa Môn Cồ Đàm, bà sung sướng bế con đã mất đi ngay và gặp phật, xin phật dùng phép thần thông cứu sống con bà. Xung quanh phật, các tì kheo đang ngồi cầu nguyện cho chúng sanh được giải thoát và cũng cầu nguyện cho các chúng sanh còn tại thế sẽ may mắn mà gặp được giáo pháp của Như Lai. Rồi người mẹ đau khổ cũng được gặp phật.
Cuối tháng Ba, những cơn gió nóng tràn về thành phố. Một hai trận mưa lạc loài đến sớm rồi thôi. Không khí ngột ngạt. Mùi đất nồng khó chịu. Như một cô gái uể oải trong cơn bệnh, thành phố trông mệt mỏi, rạc rời. Đoan đi vào Câu lạc bộ của trường. Bình thường, cứ đến thứ Sáu là không khí chuẩn bị cho chiều văn nghệ thứ Bảy lại nhộn nhịp. Nhưng hôm nay, như có một cái gì kéo mọi thứ chùng xuống. Chị Thuận, người phụ trách Câu lạc bộ, mỉm cười khi thấy Đoan, nhưng là một nụ cười kém tươi. Chị vẫn câu chào hỏi thường lệ: “Em uống gì không?” “Dạ, chị cho em nước chanh.” Chị Thuận pha ly nước chanh đặc biệt, nóng, ít đường, mang đến để trước mặt Đoan, và kéo ghế ngồi xuống bên Đoan. Hình như không có gì để bắt chuyện, chị Thuận nhìn ra sân, nói nhỏ:
Tôi khép cánh cửa phòng ngủ, rón rén bước ra, sợ gây tiếng động làm thằng cháu nội lại giật mình thức giấc; thằng bé đã mười tháng tuổi, biết làm đủ thứ trò như con khỉ con, chiếc mũi bé xíu của nó chun lại, đôi môi dầy cong lên, mỗi khi bà nội bảo nó làm xấu, thật dễ thương, canh nó hơi mệt vì phải chơi cho nó đừng chán, lèo nhèo, nhưng chơi nhiều thì sức bà nội có hạn, làm sao chạy theo nó cả ngày được!
Những cái mặt hướng về phía trước. Những cái đầu hơi cúi, những cái lưng hơi còng có lẽ bởi sức nặng của chiếc ba lô đeo sau lưng, hay tại - nói một cách màu mè, văn vẻ, đầy giả dối là - gánh nặng của đời sống. Trước mặt tối đen. Bên phải là những cánh cửa cuộn bằng tôn đóng kín. Những cánh cửa lạnh lùng, vô cảm; lầm lì từ khước, âm thầm xua đuổi. Dưới chân là nền xi măng. Cứng và lạnh. Không thể là nơi tạm dừng chân, nghỉ mệt. Sâu vào phía sát vách là nền lót những viên gạch vuông. Không một cọng rác. Không một bóng chó hoang, mèo lạc. Không cả những hình hài vô gia cư bó gối vẩn vơ nhìn nhân gian qua lại.
Đức hạnh cao quý thể hiện thành tâm vô phân biệt. Tâm vô phân biệt tạo thành một sự bình đẳng tuyệt đối trong giáo pháp của đức phật. Giáo pháp thâm sâu vi diệu của Như Lai thì không phải ai cũng hiểu hết, cũng ngộ được điều đó đa phần các vị đại trí thấu đạt. Còn lòng từ bi của phật thì lan tỏa vô phân biệt như ánh sáng mặt trời soi sáng khắp nơi nơi, như mưa rơi tắm mát đại ngàn. Những lời giảng dậy trên đây được dẫn chứng nhiều và rõ nhứt là ở phật giáo Tây Tạng.
Anh Hai của tôi, sau chuyến vượt biên thất bại, bị giam ở nhà tù Bình Đại Bến Tre chín tháng, khi trở lại trường Phan Thanh Giản, Cần Thơ mới biết đã bị cắt hộ khẩu, mất việc làm, bèn quay về Sài Gòn sống tạm với gia đình, chờ cơ hội vượt biên tiếp theo. Một hôm, anh bị cơn sốt rét tái phát hành hạ, (hậu quả của những ngày trong trại giam), cần phải đến bệnh viện chữa trị, nhưng hộ khẩu không có, anh bèn mượn cái Sổ Sức Khỏe của thằng cháu (con bà chị họ ở kế bên nhà), để đi khám bệnh


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.