Hôm nay,  

Em Xẩm Tiều

07/09/202318:02:00(Xem: 3166)
Truyện

young-chinese

Cách đường lớn có mấy mươi mét mà con hẻm 69/3/17 này là cả một thế giới khác. Chùa Ông Bổn nằm ngay ngã ba giao nhau của mấy con hẻm luôn, từ đây tỏa ra và chạy quanh quẹo sâu vô trong những xóm nhỏ khác nữa. Những con hẻm ở đây cả ngày chẳng có nắng giọi, chỉ trừ lúc giữa trưa, những ngôi nhà cao tầng bao quanh ở mặt tiền che chắn hết nắng trời. Cái không khí mát dịu hơn bên ngoài nhưng cũng rất ủm thủm ẩm thấp.
    Hậu đến đây đã nhiều lần nhưng vẫn không làm sao nhớ nổi hết lối đi, cứ  mò mẩn men theo lối quen thuộc nhất là từ cầu Ba Li Kao mà vô, đi lớ ngớ là lạc đường cứ chạy vòng vèo mất thì giờ. Bạn của Hậu là Diệc Thành, một thằng bạn người Tiều chánh gốc, hai đứa chơi thân với nhau. Lần đầu Hậu biết xóm này là vì theo nó đi thăm bà cô họ của nó. Nó kêu bả là cô Phùng, người Việt mình kêu là Phượng, bà già Tiều răng rụng gần hết nên móm xọm, tóc cắt ngang vai, lúc nào cũng mặc bộ đồ xá xẩu truyền thống của người Tiều. Cô Phùng dễ thương, hiền lành nhưng phải cái tật nói liệu. Lần đầu gặp cô Phùng, bả xổ một tràng tiếng Tiều làm Hậu điếc luôn. Diệc Thành mới nói với bả:
    – Cô Phùng à, bạn con người Việt Nam, nó hổng biết tiếng Tiều đâu!
    – Ây da, vậy hả? mà sao nị làm bạn với nó được?
    – Cô Phùng, nhà nó ở gần nhà con mà, lâu rồi cô Phùng hổng tới nhà con nên quên hết.
Diệc Thành nói xong đem mấy món đồ ra đưa cho cô Phùng. Bà già nhìn thấy có vẻ thích thú, cười híp mắt:
    – Tó chè, tó chè! Ây da, ông Dậu tốt với Phùng quá!
    Cô Phùng cầm tay Diệc Thành lắc lắc rồi quay qua Hậu:
    – Xính xáng nị cành lồi hủ mé?
    Hậu hổng hiểu, nhìn Diệc Thành cầu cứu, Diệc Thành cười:
    – Cô Phùng hỏi mày ăn uống gì chưa đấy!
    Diệc Thành lại nhắc cô Phùng:
    – Cô Phùng à, bạn con hổng biết tiếng Tiều đâu!
    – Ây da, ngộ lại quên nữa rồi, xúi quẩy thiệt đa, ngộ già dồi nên trí óc nó hổng còn ngon lành nữa.
    Hậu vỗ vỗ bàn tay gầy guộc xương xẩu với làn da trắng thiếu nắng của cô Phùng:
    – Hổng có sao cô Phùng, con là bạn của Diệc Thành mà.
    – Ây da, dỉm tu tắc, ây da, sao cũng được mà!
    Cô Phùng hồi trẻ chắc đẹp lắm, giờ già rồi mà đường nét trên mặt vẫn còn rất rõ. Cô Phùng sống với cô con gái là cô Lìn trong căn nhà nhỏ và cũ xì, khói muội ám đen cả đồ vật, mọi thứ trong nhà cứ như đồ của hai thế kỷ trước. Căn nhà ẩm thấp tối tăm, ánh đèn neon nhợt nhạt bật cả ngày đêm, thời gian dường như đọng lại ở trong ngôi nhà này và cả những ngôi nhà khác ở trong mấy con hẻm quanh đây. Còn đang mãi ngắm nghía và suy tưởng lung tung, chợt cô Lìn từ nhà sau bước ra, cô Lìn mặc cái bộ đồ rộng rinh, mặt bôi phấn hồng hồng, miệng cười lỏn lẻn.
    – Ây da, Diệc Thành mới tới hả? vậy còn đây là ai?
    – Chế à, bạn của Diệc Thành
    – Ây da, đẹp chai quá chời luôn!
    Nói nhiêu tiếng Việt đó xong cô Lìn xổ toàn tiếng Tiều với Diệc Thành, Hậu đực mặt nghe chứ có hiểu gì đâu, chẳng qua Hậu biết chào hỏi chút chút thôi. Bất chợt cô Lìn nằm xoãi ra giữa nhà, tay chân co giật nhẹ, miệng méo xẹo, hai mắt nhắm nghiền. Hậu hoảng kinh ngỡ cô Lìn trúng gió hay mắc kinh phong. Cô Phùng và Diệc Thành thì thản nhiên như chẳng có gì xảy ra. Diệc Thành nói với Hậu:
    – Cậu lại ôm chế một cái đi!
    – Í, đâu có được, chế của mầy cũng là chế tao, sao làm vậy!
    – Không sao đâu, hổng có ý bậy bạ gì đâu. Mầy ôm một cái là làm phước đó! Chế mắc bệnh đàng dưới, thỉnh thoảng bị lên cơn nhất là những khi gặp trai đẹp. Những lúc ấy chỉ cần có đàn ông con trai ôm nhẹ một cái cho có mùi hơn đàn ông thì sẽ khỏi ngay.
    Hậu thấy thật khó xử nhưng người ta đang như vậy mà không giúp cũng không được nên miễn cưỡng bước lại ôm cô Lìn, quả thật cứ như phép màu, chỉ chốc lát là cô Lìn tỉnh lại cười nói huyên thuyên như thể chưa xảy ra chuyện gì.
    Ra khỏi nhà cô Phùng, Hậu nói với Diệc Thành ghé vô chùa Ông bỔn chơi, đi qua nhiều lần mà chưa bao giờ vô. Chùa nhỏ xíu chứ hổng lớn như miếu Nhị Phủ, trong ngoài chùa toàn tiếng Tàu. Hậu hổng đọc được, chánh điện có quá nhiều tượng. Hậu chỉ biết có mỗi tượng Quan Công và ông nhật bà nguyệt trên nóc, tiếng là chùa nhưng hổng thấy thờ Phật, chỉ thấy Ông Bổn và mấy vị thần người Tàu thôi. Chùa có năm bà già Tiều, giống hệt cô Phùng, tuổi cũng trạc vậy. Diệc Thành nói mấy bả cô đơn nên ở nhờ chùa và cũng là người chăm nom đèn đóm hoa quả, quét dọn chùa luôn. Thực Phẩm thì có mấy đại gia tộc Trần và những xì thẩu khác cung cấp.
 
***
 
Hậu lên Sài Gòn ở nhờ nhà Dì Tư để đi học, nhà Dì Tư là láng giềng thân với nhà Diệc Thành, hai đứa trạc tuổi nhau nên chơi thân luôn. Nhà Diệc Thành là đầu mối bỏ hạt keo PP, PE cho xưởng túi nylon của nhà Dì Tư, mỗi tuần Diệc Thành đến nhà Dì Tư để cộng sổ thâu tiền. Hai thằng gặp nhau, nói chuyện linh tinh hạp tánh và nó dạy cho Hậu những câu tiếng Tiều thông dụng hàng ngày. Những lúc rảnh nó ghé qua chở Hậu đi chơi. Hậu thích ngắm nghía phố phường nên nó chở Hậu đi khắp các ngỏ ngách của Chợ Lớn. Nhờ vậy mà Hậu khám phá ra một thế giới khác biệt với xã hội người Việt, một thế giới lắng đọng trầm tích ở đằng sau những con đường sầm uất ở bên ngoài. Một thế giới tĩnh lặng gần như thời gian ngừng trôi, rất khác với sự hào nhoáng của mặt tiền Đồng Khánh, Châu Văn Liêm, Lê Quang Sung, Hải Thượng Lãng Ông, Tuệ Tĩnh, Dương Công Trình...Những xóm nhỏ người Hoa vô cùng đông đúc, nhà cửa ken kín, những xóm người Hoa cứ như là những tiểu trấn bên Tàu từ thời xa xưa. Dưới quê của Hậu vốn khác với Sài Gòn, chưa bao giờ thấy những xóm toàn người Hoa như thế, đừng nói là dưới quê, ngay cả Sài Gòn trung tâm cũng khác hẳn với Chợ Lớn. Phải nói Chợ Lớn và những hẻm phía sau đường lớn là một thế giới khác biệt đã làm Hậu mê mẩn, ngoài ra những món ăn của người Tàu cũng kích thích Hậu, Hậu quất không chừa món nào từ mì xào, hủ tíu xào, bột chiên, tào phớ, chế mà phủ, lục tào xá, xá bấu, coón sại… món nào cũng ngon bá cháy luôn. Người Việt cũng biết làm mì xào nhưng không thể nào ngon bằng, cho dù có là nhà hàng sang trọng cũng không bằng dĩa mì xào lề đường ở Chợ Lớn. Ngon quá, ăn cỡ nào cũng không hết thèm nhưng ngon hơn như thế nào thì Hậu hổng biết tả.
    Một lần Diệc Thành chở Hậu về nhà nó chơi, gặp bữa cơm vậy là ăn luôn. Hậu thấy nồi cháo trắng đặc sệt to tướng trên bàn. Cháo trắng ăn với củ cải muối, xá bấu, Cải cà na, coón sại… ăn cháo trắng mà lại ăn bằng đũa. Hậu thấy lạ quá, Diệc Thần nói:
    – Người Tiều giàu hay nghèo cũng đều ăn cháo trắng, ăn hằng ngày, có người ăn cả ba buổi trong ngày.
    Vậy ra cháo trắng là món đặc sản quốc hồn quốc túy của người Tiều, dù ở đâu, dù đi đâu thì người Tiều cũng luôn ăn cháo trắng. Những xì thẩu của chợ lớn ăn không thiếu món ngon vật lạ gì trên đời nhưng trong bữa ăn vẫn có chén cháo trắng. Nhà Diệc Thần là một xì thẩu ở Chợ Lớn, cả nhà nói tiếng Tiều với nhau, chỉ nói tiếng Việt khi giao tiếp với người Việt. Ngoài A Dánh là ba và A Má là mẹ, Diệc Thần có cô em gái kề rất đẹp, đẹp như sách vở viết vậy, con nhỏ trắng phỉu, má hồng hồng, hổng biết ra đường ăn mặc sao chứ ở nhà cứ mặc mấy bộ đồ sặc sỡ bông hoa như mấy cô xẩm Tiều trong phim bộ Hồng Kông. Lần đầu gặp ẻm, Hậu thích ghê luôn vậy đó:
    – Nỉ hạo, nị đẹp quá, tui tên Hậu.
    – Nỉ hạo, anh là cháu dì Tư hãng túi nylon Hồng Ký phải không?
    Hậu hơi bất ngờ vì sự dạn dĩ và mau miệng của ẻm. Hậu cứ ngỡ ẻm bẻn lẽn, mắc cỡ như những cô gái ngoan ở nhà. Hậu trổ tài miệng lưỡi:
    – Diệc Thần là bạn anh, vậy mà nó xạo, nó nói em đẹp
    Đến lượt ẻm hơi bị thốn, vẻ mặt hơi chững lại nhưng vẫn tự tin:
    – Bộ em xấu hả?
    – Không phải vậy, phải nói là rất đẹp, đẹp bá cháy luôn, chỉ nói đẹp là xạo, là dìm hàng con người ta.
    Ẻm được khen nên thích chí cười nắc nẻ, vẻ mặt tươi như hoa và hồng hào như đánh phấn:
    – Con trai Diệt Nam dẻo miệng dễ sợ.
    Hậu và ẻm đang nói chuyện ngon lành thì Diệc Thần xía vô:
    – Hậu, mầy bán đứng tao để tán  Kíu Cúa em gái tao?
    – Hổng phải, tao chỉ đính chính thôi, mầy nói Kíu Cúa đẹp nhưng thật ra phải nói là rất đẹp mới đúng.
    Bấy giờ đang giấc xế, mọi người bắc ghế ngồi ngoài hiên chơi, trời nắng chang chang nhưng chẳng nhằm nhò gì. Có lẽ mọi người cũng quen với cái nắng Sài Gòn kể từ sanh ra rồi.  Hậu rủ:
    – Tụi mình xuống Nguyễn Tri Phương ăn bò bía nha?
    Gì chứ nói chuyện ăn hàng thì xưa nay chưa có ai từ chối bao giờ, Diệc Thần chở Kíu Cúa bằng chiếc Attila mới cáu, Hậu chạy song song bằng chiếc Future. Người ta nói con gái ăn ít giữ eo hoặc nói chữ “nữ thực như miêu”, điều này hình như hổng đúng với Kíu Cúa. Em quất thiệt tình luôn, những ngón tay thon dài túm cuốn bò bía quẹt tương rất điệu nghệ và tém sạch sẽ, nhìn Kíu Cúa ăn không thôi cũng đủ sướng như thể mình ăn. Bò bía, cóc, me, xoài ngâm...Kíu Cúa hổng chừa món nào, ấy vậy mà dáng em vẫn đẹp đúng nghĩa mình hạc xương mai, có lẽ tạng người của em nó thế. Hậu thích Kíu Cúa ra mặt, Kíu Cúa cũng biết nhưng cứ cười nói tỉnh bơ.
    Có lần dì Tư nói với Hậu:
    – Người Tiều họ hổng có lấy người Việt đâu!
    Có lẽ dì Tư thấy Hậu chơi với Diệc Thần, thích Kíu Cúa nên dì Tư nghĩ Hậu muốn tán Kíu Cúa. Hậu cũng biết sự khác biệt văn hóa và tập quán của hai dân tộc rất lớn, ấy là chưa nói đến những quan niệm, những luật lệ bất thành văn khác. Thật ra thì Hậu có thích Kíu Cúa nhưng không có ý định tán tỉnh gì, chỉ là đi chơi chung thế thôi. Hậu biết người Tiều quanh đây rất nhiều, họ ở Chợ Lớn đã nhiều đời. Họ chỉ lấy nhau trong cộng đồng của họ chứ chẳng lấy vợ hay lấy chồng người Việt, chí ít là trong sự thấy biết ít ỏi của mình. Hậu chưa thấy có mối tình trai Việt gái Tiều hay trai Tiều gái Việt ở đây. Không ít lần Hậu ghẹo Diệc Thần:
    – Nị gả Kíu Cúa cho ngộ đi, ngộ sẽ kêu nị là a ca.
    – Nị cứ kêu ngộ là  a ca  trước  cũng được! Sau này Kíu Cúa chịu thì ngộ gả cho.
    – Đâu có được! Phải có danh chánh trước thì ngôn mới thuận!
    – Nị tập kêu ngộ bằng a ca trước cho quen, mai kia có lấy  được Kíu Cúa thì kêu ngộ bằng a ca khỏi mắc cỡ.
    Kíu Cúa ngồi nghe hai đứa khịa, cười khanh khách, tiếng cười giòn và trong trẻo như con trẻ:
    – Bộ tui là cục đất hay sao mà ông thì đòi lấy, ông thì muốn gả?
    Hậu nhìn mặt Kíu Cúa cười:
    – Tại Kíu Cúa đẹp quá, hổng phải mình Hậu muốn lấy mà bất cứ người đàn ông nào trên đời cũng mơ được lấy.
    Diệc Thần xía vô:
    – Vậy từ giờ kêu ngộ bằng ca ca hén?
    – Còn lâu, chừng nào Kíu Cúa chịu là ngộ kêu liền.
    Kíu Cúa dẩu đôi môi đỏ mọng:
    – Chuyện của hai ông hén, mắc mớ gì tới tui! Với tui hổng có gả hay lấy gì hết trơn á!
    Ly sâm bổ lượng cạn hết nước, Kíu Cúa dùng ống hút khều khều mấy hạt câu kỷ tử đỏ như màu môi, nhấm nhấm mấy hạt còn sót. Hậu thầm nghĩ trong bụng: “Giá mà cắn chung hạt câu kỷ tử với đôi môi ấy thì sướng phải biết”. Kíu Cúa là con gái nhạy cảm, ẻm như đọc được tâm tư của Hậu nên nghi ngờ:
    – Nị cười gì Kíu Cúa vậy?
    – Hổng có chi, chỉ là cảm thấy vui và thoải mái lắm!
    –Vậy thì lúc nào muốn vui thì qua bao nị đi ăn hén!
    – Chuyện nhỏ!
    Diệc Thần ngồi im lặng, cắm cúi vào cái điện thoại di động cá nhân. Hậu lên tiếng:
    – Tối thứ bảy này tụi mình đi bar chơi?
    Không ngước mắt lên, Diệc Thần hỏi:
    – Bar nào?
    – Lan Quế Phường chơi hoài, nay qua Apocalypse Now đổi không khí!
    – Ừ! Dỉm tú tắc, sao cũng được!
    Đêm vũ trường thật máu lửa, đèn chớp chớp quét loang loáng, âm thanh dập làm cho tim tưng tưng theo. Mọi người lắc lư nhún nhảy theo nhạc như thể đang lên đồng, chẳng ai biết đến người xung quanh. Kíu Cúa mặc quần ôm áo chẽn hở eo, dáng vô cùng bốc lửa, eo thon, chân dài, tướng tá khiến ai cũng phải trầm trồ. Diệc Thần diện như công tử trong phim, nó đặt trước một cái bàn đứng gần trung tâm. Anh bồi mang ra chai Chivas  khui ra rót mấy ly shoot. Anh ta nói vài lời miệng lưỡi sau khi nhận tiền bo rồi lui đi. Quất vài ly bắt đầu tưng tưng, Hậu và anh em Diệc Thành hòa vào những người đang nhảy nhót, càng lúc càng hưng phấn lạ thường. Đêm vũ trường tràn đầy sức dụ hoặc quyến rũ, đã chơi rồi mà bỏ thì cứ thèm thèm thiếu thiếu thế nào ấy. Đêm vũ trường xả hết năng lượng thừa, xả luôn cả những căng thẳng mệt mỏi trong đời sống hàng ngày. Đêm vũ trường cho mình thể hiện mình một cách đúng với bản chất mình nhất.
    Những bàn xung quanh dân chơi hút shisha, hookah nhả khói mờ mịt, mùi bồ đà hăng hắc khắp nơi, quan sát một tí sẽ thấy những tay chơi cắn Ime, phê thuốc lắc. Mấy em cave lượn lờ săn mồi. Kíu Cúa nhìn Hậu cười đá mắt về mấy cô cave, vít đầu Hậu, hét vào tai:
    – Nị chọn một em đi!
    Hậu cười to, trong lòng hưng phấn muốn hôn Kíu Cúa một cái. Hậu thích Kíu Cúa thật, Diệc Thần cũng biết nhưng điều này quả thật tế nhị khó nói ra. Thực tế thì Kíu Cúa vẫn là em gái Diệc Thành, bởi vậy Hậu phải giữ đúng phép một người anh.
    Đêm càng khuya, dân chơi càng đông và sự dậm dật càng tăng thêm, máy lạnh chạy hết công suất, mùi khói thuốc, mùi rượu, mùi phấn son và mùi hơi người quyện vào nhau tạo thành một  cái mùi rất đặc trưng của vũ trường. Có mấy tay chơi phê thuốc cứ kê tai vào mấy cái loa để mặc cho âm thanh dập vào màng nhĩ.  Vũ trường Apocalypse Now là vũ trường chơi rất sung nhưng lịch lãm và an toàn, ở đây khách Việt nhiều hơn. Lan Quế Phường thì khách Tàu, Đài Loan, Đại Hàn nhiều hơn, mức độ chịu chơi, mức độ máu lửa thì cả hai cũng ngang ngửa nhau. Trước khi quen và chơi với anh em Diệc Thần, Hậu chỉ chơi ở Apolocalyse now, sau này mới qua Lan Quế Phường. Hậu với Diệc Thành nghéo tay không bao giờ thử bồ đà hay thuốc lắc!
    Cả ba quẩy đến hai giờ sáng thấy cũng đã đời lắm rồi nên chẩu, về đến nhà  Hậu không thay đồ cứ vậy lăn ra ngủ, trong giấc ngủ lạc vào cơn mơ lạ, thấy mình đang sống giữa một cổ trấn xa xưa nào đó. Hậu đi vào một phạn điếm và ở đấy gặp một em xẩm đẹp não nùng, đẹp thiên kiều bá mị không bút mực nào tả được. Nhìn em xẩm quen lắm nhưng không tài nào nhớ ra là đã gặp ở đâu, em xẩm hút hồn gã lai khách đường xa, làm cho gã ngẩn ngơ như lạc cung trời mộng. Gã khách lạ mê mẩn em xẩm nhưng biết mình không có cửa nào. Cả phạn điếm đầy những tài chủ và công tử địa phương, bọn họ sẵn sàng bỏ ra ngàn vàng để mong được em xẩm, ấy vậy mà rốt cuộc em lại chọn lấy gã du khách viễn phương. Em xẩm ôm hồ cầm khảy khúc “Du tử trong phạn điếm một đêm mưa”. Tiếng là để mua vui cho tửu khách trong phạn điếm nhưng thực chất tỏ tình hoài với chàng lữ khách phương xa.
    Bớ chàng trai Việt
    Khách đường xa đến đây trêu hoa ghẹo nguyệt
    Tình đầu mày cuối mắt
    Biết chàng nho nhã thi thơ
    Ngặt đời không như mơ
    Thiếp phận xẩm ca xang mua vui cho khách điếm
    Bớ chàng khách Việt!
    Em gái Tiều khó có thể theo người
    Luật bất thành văn mà bao đời vẫn thế
    Em, xẩm Tiều
    Giữ trong tâm chút thương yêu
    Nào đâu dám mộng uyên ương hồ điệp
    Không tấu khúc “Phượng cầu hoàng”
    Tình khôn ngăn cản...

 

– Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng thành, 0723

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hồi năm sáu tuổi tôi vẫn hay theo chúng bạn ra chơi trước đình làng Thanh Thủy. Nơi đó có mấy cây sanh cổ thụ rất lớn luôn tỏa bóng râm mát mẻ cả đoạn đường bến chạy qua làng. Bên kia con đường bến là hồ Vọng Nguyệt, một cái hồ trông như vuông vức, rộng chừng nửa mẫu tây, dân địa phương vẫn quen gọi là hồ làng...
Phải chi khách đến thăm vườn hồng hơn trăm giống quý đủ màu sắc của ông Chu hằng ngày là khách mua hoa thì chắc thu nhập của gia đình ông đỡ hơn. Ông nghèo, nhưng cái máu nghệ sĩ của ông lại mạnh mẽ hơn chuyện tiền bạc, lại gặp bà vợ hết mực chiều chồng, nên cứ nghe đâu có giống hồng lạ là bằng mọi cách phải có cho bằng được. Năm ba ký gạo đắp đổi hằng ngày đã khó, mà có những giống người ta đổi cả tấn lúa ông cũng lắc đầu.
Không nhớ từ bao giờ đã không còn ngồi xuống bàn trà, tay bốc miếng mứt hạt sen bỏ vô miệng, vị ngọt tươm ra không quá gắt như ăn miếng mứt bí, vị ngọt nhẹ, thanh, kích thích vị giác bởi hương sen quyện ngọt điệu đà, tới khi nhai cái hạt sen đã ấm ấm trong miệng nên không còn cứng cũng không quá mềm như khoai lang luộc. Độ dẻo của hạt sen khi đã sên mứt rất mê hoặc và cũng đâu có gì vội để nuốt đi cho mau, cứ ngậm mà nghe hương vị đất trời tinh khiết của hương sen xông lên khoang mũi làm cho người thưởng thức lâng lâng cảm giác xuân đã về. Có thể nói món gì có hạt sen góp mặt cũng ngon như món vịt tiềm có nhân bên trong là thịt bằm, nấm mèo, táo tàu, gia vị nhiều thứ, nhưng những hạt sen luôn khêu gợi những đôi đũa gắp vì hấp dẫn và ngon lạ miệng. Nhưng đã nhiều năm không ăn mứt hạt sen sao vẫn nhớ khá rõ hương vị độc đáo của hạt sen trong món ngọt ăn chơi ngày tết, hay món mặn ăn tiệc đều ngon.
Cậu Hà người Bắc di cư năm 1954, cậu di cư có một thân một mình khi còn trẻ, nên cậu cũng không có nhiều phương tiện được học hành nhiều. Khi lớn lên ở miền Nam, lối chừng 19, 20 tuổi khoảng năm 1965-1966, cậu từ giã học đường đăng lính, cậu đi lính Việt Nam Cộng Hòa ngành Biệt Động Quân. Sau chuyển qua Thám Báo. Cậu đóng quân như ở miền đồng ruộng, lúc bấy giờ còn loáng thoáng xa xa, ít dân cư, tiếp giáp một bên Đồng Ông Cộ, miệt Gò Vấp, Gia Định.
Chị nhớ lại, vào một buổi sáng ngày cuối tháng 1 năm 1973, khi Chị đi lấy bản tin ở bên Macv về cho AP, chị thấy sao hôm nay văn phòng đông thế. Ký giả của AP và cả của NBC News bên cạnh cũng chạy qua chạy lại, Chị nghe ông chánh văn phòng nói: Viêt Nam sắp ngưng bắn rồi, sắp hòa bình rồi…” Văn phòng Associated Press xôn xao, từ ông chánh văn phòng đến các ký giả, nhân viên của AP đều hứng khởi với cái tin “Nóng bỏng” này. Chị thấy các phóng viên của các hãng thông tấn, hãng truyền hình ngoại quốc chạy hối hả sang nhau và chạy qua cả đài phát thanh Quân Đội Việt Nam để cập nhật tin tức viết bài…
Chị đi bằng xe hàng. Là dân Đà Lạt gốc Huế nên chị gọi xe đò là “xe hàng”. Đi xe hàng, tức là xe đò, là xe chở người và cả hàng chứ không chở riêng hàng. Tiếng Việt hay như vậy đó! Đến Gò Công rồi đi xe lam vào Đồng Nguơn. Ấp Đồng Nguơn. Không phải đây là lần đầu tiên chị được thấy cảnh đồng quê. Đồng quê miền nam hầu như đâu đâu cũng giống nhau. Nhưng có đi nhiều mới thấy mỗi nơi có một chút khác. Phải thế không? Hay chính là cảm giác của chị mỗi lần một khác?
Tôi ước mơ có một ngày nào đó, khi thanh bình thật sự trở về trên nước VN, khi chính thể CS hoàn toàn tan rã, khi con người công chính trở lại làm nền tảng trong xã hội mới, chúng ta sẽ trở về, những ngưới bạn từ thời xa xưa, cùng nhau làm lại một bữa tiệc Tất Niên, mời vong linh các thầy, các bạn, các anh em đồng đội đã chết trong khói lửa chinh chiến, trong các biến cố tang thương của đất nước, trong các trại tù, trên biển…cùng nhập tiệc. Kẻ đang sống cùng người thiên cổ bên cạnh nhau hoài niệm đến một miền thùy dương ngọt ngào nhân tính, một ngôi trường thân yêu giàu truyền thống giáo dục và y đức, một thành phố mến yêu thơ mộng. Để nghe những người quá cố tâm sự về cái chết oan khiên của mình. Được như vậy, hương hồn các vị đó sẽ sớm được siêu thoát và vĩnh viễn an nghỉ chốn nghìn thu. Và chúng ta đây giảm khắc khoải đau thương…
Tôi đã có bốn cái Tết trong trại Panatnikhom và Sikiew, Thailand. Tết đầu tiên thật nhiều kỷ niệm và bất ngờ, vì lúc đó chúng tôi vừa nhập trại trong khi còn hơn một tuần nữa là Tết. Tôi và ba cô bạn đi chung chưa kịp gửi thư cho thân nhân ở nước ngoài để ca bài ca “xin tiền”. Ai lo bận bịu đón Tết thì lo, còn chúng tôi thì lo đi mượn tiền để mua vài vật dụng cần thiết như tấm trải nhựa, tre nứa, dây nilon để làm “nhà” (phải “an cư” mới “lập nghiệp” tỵ nạn được chớ).Khoảng một tuần trước Tết, có một nhóm mấy thanh niên đến thăm vì nghe nói chúng tôi là dân Gò Vấp, nên muốn nhận “đồng hương đồng khói”. Họ là những người trẻ như chúng tôi, nên câu chuyện mau chóng trở nên thân mật và rôm rả
Hỏi thăm ông Hai bán hoa lay-ơn gốc Bình Kiến, nhiều người ngơ ngác hỏi nhau. Tôi lại rảo qua thêm mấy vòng chợ hoa, cũng vừa đi tìm ông Hai, cũng vừa ngắm hoa và ngắm những chậu bonsai bày bán cuối năm, cũng tìm lại mình của gần 20 năm trước, năm nào cũng cứ vào những ngày này, tôi theo ba tôi hóng gió đón sương không hề chợp mắt cùng gian hàng cây kiểng rất bề thế của ba ở đây.
Có lẽ những rộn ràng, hân hoan nhất trong năm không phải là "ba ngày tết", mà là những ngày cận tết. Bắt đầu vào ngày 23 tháng chạp, tối đưa ông Táo về trời. Tất cả mọi sinh hoạt đều hướng về việc chuẩn bị để đón một mùa xuân mới, chào đón nguyên đán và mấy ngày xuân trước mặt. Lúc nhỏ là mùi vải thơm của bộ đồ mới, mùi gạo nếp ngâm cho nồi bánh và hương thơm ngào ngạt cho sàng phơi mứt dừa, mứt bí, mứt gừng ngoài sân. Những đêm ngủ gà ngủ gật ngồi canh bên nồi bánh tét cùng với má, với gia đình xúm quanh. Mùi bếp lửa, mùi khói hương, mùi áo mới lan tỏa của tuổi thơ ngan ngát những ngày xa...
Người ta được nuôi lớn không chỉ bằng thức ăn, mà còn ở lời ru, tiếng hát, và những câu chuyện kể. Chú bé cháu của bà thích được bà ôm vác, gối đầu lên vai bà. Có khi bà mở nhạc từ chiếc nôi cho chú nghe thay cho lời hát, chiếc nôi chú bé đã nằm khi mới lọt lòng mẹ. Có khi bà hát. Bà không ru à ơi, nhưng âm điệu dân gian len vào trong từng lời hát. Chú bé mãi rồi ghiền nghe giọng hát của bà.
Lóng rày tôi hay tẩn mẩn viết về những hồi tưởng tuổi thơ, nhất là những côn trùng ngày xa xưa đó như chuồn chuồn, bươm bướm, ve sầu, dế mèn…Nhiều lúc ngồi nghĩ lẩn thẩn: tại sao vậy? Chắc đó là tâm trạng của người tuổi sắp hết đếm số, tiếc nuối những khi còn cắp sách tới trường. Cắp sách tới trường không phải là chuyện vui nhưng tuổi học trò thì vui thật. Lúc nào, khi nào, chỗ nào cũng toàn thấy chuyện vui chơi. Bạn chơi là người nhưng nhiều lúc là những côn trùng quanh quẩn bên người. Một ông bạn mới gặp nhướng mắt hỏi tôi viết về những bạn chơi nhiều hơn hai chân nhưng chưa thấy nhắc tới bạn của ông ấy. Đó là bọ ngựa. Ông này thuộc loại rắn mắt. Tôi không chung tuổi thơ với ông nhưng chắc ông cũng thuộc loại phá làng phá xóm. Ông kể chuyện ăn me chua trước mấy ông lính thổi kèn trong hàng ngũ khiến mấy ông thợ kèn này chảy nước miếng thổi không được. Tôi thuộc loại hiền nên không có bạn không hiền như bọ ngựa. Ông ta thì khoái bọ ngựa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.