Hôm nay,  

Sống ảo

07/11/202315:17:00(Xem: 3248)
Truyện

image

(Tặng TP)

 

Gần năm giờ chiều Nghi đã nghe nóng ruột. Thời gian ở đây chậm như con rùa bò, Nghi nhìn lên tường nơi có treo cái đồng hồ to tướng, những cây kim như đứng lại. Nghi nhớ lời hẹn hò với Hường trước khi anh đi làm, sáu giờ rưỡi gặp em nghe, sáu giờ rưỡi anh đi làm về là gặp em liền, đợi anh về ăn cơm với em. Nghi hạnh phúc với những lời hẹn hò kia. Buổi sáng, buổi trưa, buổi tối, anh đều ở bên Hường, gần gũi, thân thương, trìu mến. Nhưng thật ra thì em ở xa anh đến ngút mắt.
    Cái gần gũi hay cái xa cách, anh không tưởng nổi. Nghi như mê vào một trận đồ bát quái của cái không gian lạnh lẽo, trống vắng đã bao nhiêu năm. Thời gian qua anh sống trong nỗi u hoài, cô đơn, lạnh lẽo. Cái cô đơn như ăn sâu vào tâm hồn Nghi. Nhưng bây giờ thì anh đã có Hường, em ở xa hay gần, em quanh quất bên anh hay mịt mù thăm thẳm. Nhưng anh vẫn như được gần kề bên em mỗi sáng, mỗi chiều, mỗi tối mình vẫn ở gần nhau, phải không em?
    Nghi lại mở điện thoại cầm tay để coi đồng hồ. Năm giờ mười lăm. Còn những mười lăm phút nữa mới hết giờ làm việc. Nghi loay hoay như con gà mắc đẻ.
    Năm giờ rưỡi, vội vã buông công việc,  anh chạy vào phòng vệ sinh rửa tay qua quít rồi anh vù ra xe, nổ máy, chạy thẳng về nhà. Trút bộ quần áo làm việc, vào phòng tắm, mở bông sen. Nước nóng phả vào mặt anh làm anh tỉnh người. Một ngày 8 tiếng, đứng bên máy, nhớt dầu lấm lem, chân tay trầy trợt. Những ngón tay đen ố vì dầu nhớt bám vào. Nghi đã trở thành người lao động chân tay thứ thiệt. Anh lúc nào cũng đứng trong thứ hạng chót bẹt của loài người, hưởng lương hạng bét và làm việc như con bò kéo xe. Chỉ còn có em, còn có em trong đời cho anh được thở, hít, ôm ấp một chút cái mà loài người gọi là hạnh phúc.
    Nước loang loáng phủ lên thân thể Nghi, vực dậy những tế bào đã rũ liệt, mệt mỏi vì một ngày làm việc cật lực. Anh nhìn thân thể mình trong gương, đã xa rồi phong độ của một người con trai hai mươi tuổi, rồi của người đàn ông bốn mươi tuổi. Bây giờ… thời gian  chồng chất oằn vai cộng với sự lạnh lẽo khôn cùng nơi xứ người. Tâm hồn anh như qụy xuống.
    Nhưng anh được vực dậy nhờ có em đến bên đời anh. Nghi nghĩ thế, anh vội vã lau khô thân thể rồi bước vào phòng. Căn phòng nhỏ. Quá nhỏ. Anh sống không hơn người trong nước bao nhiêu. Cái bàn viết, cái computer phủ hết mặt bàn. Những sách vở chất thành nhiều đống trên kệ hay sát bên tường. Đời sống anh gắn liền với những cuốn sách kia, loang loáng trong anh nỗi mơ ước đam mê không rời với một thời sách vở. Nhưng tất cả không cho thêm anh được gì, tâm hồn lúc nào cũng không yên ổn. Anh bận rộn với em, hằng ngày anh sống với em.
    Vào phòng. Căn phòng chật nên nóng nực. Nghi vói tay mở cánh cửa sổ. Chút gió lộng vào làm anh nghe mát lạnh. Bật computer. Vào messenger. Những con mắt xanh đỏ vàng chớp nháy. Nghi vội vã.
    – Em về chưa?
    Nghi gõ trên bàn phiếm.
    – Anh đợi em, em về ăn cơm với anh!
    Anh biết Hường rất đúng giờ. Có tiếng gõ cửa, cốc cốc, cốc. Nút vàng nổi lên.
    – Em về rồi đó hả?
    – Dạ.
    – Anh nhớ em quá, nhớ em suốt ngày.
    – Anh đi làm về mệt không, để em lấy khăn anh lau mặt.
    – Mệt chút xíu, anh vừa tắm xong. Gặp em là anh tỉnh người lại mà.
    Người đàn bà hiện hình lên ở Webcam, chớp nháy. Hường xõa tóc, gương mặt hiền, tươi vui. Mái tóc đó, khuôn mặt đó, đôi mắt đó là của anh mà. Anh thương quá những gì của em, cả cuộc sống anh, hiện tại, đã là của em. Em ngự trị, choáng một khoảng lớn nhất trong đời sống anh.
    – Anh thấy em rồi, em bận áo màu xanh. Áo nầy em đã mặc hồi Tết đi lễ chùa đó, phải không?
    – Đúng rồi, anh vẫn nói là “khi nào em đến với anh, xin… mặc “chiếc áo xanh” mà.
    – Thì màu xanh là màu của hy vọng, màu của tình yêu thương.
    – Em mới may bộ đồ màu hồng. Ngày mai em đến với anh em mặc cho anh nhìn, nhe.
    – Vậy nghe. Bây giờ mình ăn cơm, anh đói bụng quá rồi.
    – Mình ăn cơm đi anh.
    Nghi lấy xách cơm của người nấu cơm tháng để sẵn ngoài cửa, mỗi lần về là anh đem vô nhà. Ở hãng, buổi trưa anh vẫn thường ăn qua quít cái gì đó, khi thì gói mì nấu nước sôi, khi thì ổ bánh mì, nên buổi chiều về anh thường đói rã người ra. Anh mở bọc nhựa, dọn ra nào cơm, canh và thịt cá, bụng anh đói cồn cào.
    Bên kia, Hường cũng đã bới sẳn một chén cơm.
    – Mời anh ăn cơm.
    – Mời em ăn cơm.
    Nghi xúc cơm đưa lên miệng nhai ngoàm ngoàm, còn Hường ăn nhỏ nhẹ.
    – Hôm nay anh ăn gì đó?
    – Cá kho tộ, thịt kho với canh chua. Còn em?
    – Cơm với cá cơm kho tiêu.
    – Ngon hen.
    – Ngon mà.
    Hai người vừa ăn vừa nói chuyện. Đó là Ngưu Lang, Chức Nữ tân thời của thế kỷ 21, vượt qua đại dương, bay trên không trung theo đường chuyền vi tính, hay lặn xuống đại dương theo những đường dây cáp vượt trùng dương, mỗi ngày, đều đặn. 6:30 tối chàng và nàng gõ cửa nhau tại căn nhà vi tính, cùng ăn cơm rồi kể chuyện trên trời dưới đất cho nhau nghe trong suốt một ngày hai người không gặp mặt.
    Nghi hứa:
    – Sang năm anh về thăm em, anh sẽ mua cho em chiếc SH em chạy, chứ em chạy chiếc Nuvo anh sắm cho em năm ngoái, cực lắm. Chiếc SH ngon hơn.
    – Thôi anh đừng sắm cho em, xe em như vậy là được rồi. Em chỉ mong gần anh thôi.
    – Thì anh sẽ cưới em và bảo lãnh cho em qua với anh mà, nhưng trước tiên là sang năm anh về, anh phải sắm cho em chiếc SH, em bằng lòng nhận đi thì anh mới vui.
    – Anh cho thì em nhận.
    Hai nguời gởi cho nhau những hình ảnh có khuôn mặt cười rạng rỡ theo ánh chớp tắt của màn hình.  
    Sau 30 phút ngồi ăn cơm với nhau, Nghi muốn cho Hường đi nghỉ, nên nói:
    – Em mệt thì đi nghỉ đi, mai gặp. Nhé.
    Hường dạ nhỏ nhẹ. Rồi họ hôn nhau rất mùi trên mặt kính. Xong Hường chuyển qua đường links khác, messenger khác. Đúng 7:00 giờ. Có tiếng bên kia:
    – Con mèo con của anh đó phải không?
    Hường gõ trên bàn phím:
    – Dạ, em đây…

 

– Trần Yên Hòa

Ý kiến bạn đọc
11/11/202322:00:06
Khách
🤣🤣🤣🤣🤣🤣🤣🤣
Họ biết hết, đàn ông họ biết hết nhưng họ vẫn thích bị lừa trong thế giới ảo thôi
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chiếc ghế đá hầu như rất quen thuộc, dù nó cũng như mọi chiếc ghế khác trong công viên. Tháng Sáu. Bầy ve kêu inh ỏi. Chúng vô tư thật! Đoan ngồi xuống. Mấy buổi chiều nay, tan học, Đoan ghé khu vườn rộng lớn này, như một người trở về, cảm giác thật khó tả. Chợt nghe trong đầu vẳng lại lời của một bài thơ:
Cuộc đời trung úy Đỗ Lệnh Dũng, một sĩ quan VNCH, là biểu tượng bi tráng của lòng trung thành, khí phách giữa chiến tranh tàn khốc, và là minh chứng cho nỗi đau kéo dài của những người lính và thương phế binh miền Nam sau cuộc chiến.
Lớn hơn anh Hợp một tuổi, tháng 4 năm 1975, anh Đăng chưa xong năm thứ nhất về Cơ khí ở Phú Thọ, vận nước xoay chiều, ba anh cũng phải đi "học tập cải tạo" như hơn ba trăm ngàn Sĩ quan QLVNCH. Là con trai đầu lòng, anh Đăng bỏ cả ước mơ, bỏ trường về quê, điền vào chỗ trống của người chủ gia đình mà ba anh bỏ lại. Anh sinh viên kính trắng của Phú Thọ bỗng chốc trở thành phụ xe, lơ xe, cũng đổi đời như gần hai chục triệu người dân miền Nam.
Bây giờ trời đã tối, nhiều người đi ngủ sớm. Bọn trẻ học bài dưới bóng ngọn đèn dầu ở ngoại ô, ngọn đèn đường gần bờ sông. Trước hàng rào kẽm gai, một người lính mang súng đi đi lại lại, một đôi tình nhân đi chơi về muộn. Ngọn đèn hỏa châu sáng bừng góc trời một lát rồi tắt. Người yêu quê hương đã đi ra khỏi mảnh đất của những hận thù dai dẳng mà vẫn muốn trở về. Người nông dân muốn cày lại thửa ruộng của mình. Người thợ sửa đồng hồ muốn ngồi lại cái ghế vải nhỏ thấp của mình sau tủ kiếng bày đồng hồ cũ và mới. Lò bánh mì chiếu sáng nhấp nhô bóng những đứa trẻ bán bánh mì đứng trước cửa sổ với bao tải lớn đựng bánh nóng mới ra lò. Con chim về ngủ muộn biến mất trong bụi cây chỗ anh đứng.
Em nằm im lặng nghe đêm thở | Tháng Tư mở đôi mắt trong đêm | Anh ạ, em nghe Tháng Tư khóc | Tháng Tư nhỏ những giọt lệ đen.(tmt)
Con người ngậm kín cái tốt vào lòng. Để khỏi mua lấy vạ hiềm nghi ghen ghét. Tôi nhìn đứa bé từ sau lưng, sự rung động khẽ của đôi vai nhỏ bé, vẻ hạnh phúc của cái gáy nhỏ xíu măng tơ. Phút này qua phút khác, có lẽ lâu lắm, cho đến khi đứa bé bắt đầu thỏa mãn, bú chậm lại, nhưng nó vẫn ôm lấy bầu ngực của người đàn bà lạ, ngủ thiếp đi.
Biển đêm như vô thức một màu đen mênh mông, nhưng biển chứa toàn bộ lịch sử con người từ lúc còn là tế bào phôi sống cho đến khi biến thành DNA, rồi từ thú vật tiến lên con người. Lịch sử đó đầy ngập dữ liệu nhưng chôn sâu dưới đáy nước. Hồi tưởng chỉ là những con sóng nổi dập dìu, cho dù sóng lớn dữ dằn trong bão tố vẫn không mang được hết đáy nước lên trên mặt. Vì vậy, biển lúc nào cũng bí mật. Vô thức cũng bí mật. Càng gây thêm khó khăn để chứng minh sự thật vì vô thức có khả năng biến đổi dữ liệu hồi tưởng. Chỉ những người thiếu bản lãnh mới tin vào trí nhớ của mình và của người khác. Nhưng toàn bộ nhân loại sống và tạo ra ý nghĩa hầu hết dựa vào bộ nhớ. Một số ít người hiểu rõ điều này, nhưng không làm gì khác hơn, vì hồi tưởng tự động và tự nhiên xuất hiện dù không đầy đủ, kể cả, khi con người kêu gọi ký ức đến, nó cũng đến trên xe lăn, hoặc chống nạn, hoặc bò lết như kẻ tàn tật.
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
Năm mươi năm nhìn lại, sau ngày 30 tháng 04, 1975, cái dấu mốc lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam, nói chung, và người dân miền Nam nói riêng. Sự thật lịch sử về ngày này đã được phơi bày rõ ràng trên mọi phương tiện truyền thông, tin tức, và trong thế giới sử. Ai cũng đã rõ, phe thắng trận, sai, phe thua trận, đúng. Điều này không cần bàn cãi nữa; cho dù kẻ chiến thắng cố tình viết lại lịch sử Việt Nam theo ý mình khi sức mạnh của họ nằm trên nòng súng. Phe thua cuộc lại là phe thắng được nhân tâm.
Tháng Tư chuếnh choáng. Say chẳng phải vì rượu dẫu chỉ nhấp môi hoặc thậm chí trong đám bạn có kẻ chẳng uống giọt nào. Nhưng họ vẫn say như thường. Những hồi ức tháng Tư lần lượt xuất hiện như một chất men nhưng không thể làm người ta quên mà chỉ là giây phút hiếm hoi nhắc nhớ để rồi quên. Quên tạm thời nỗi niềm chất chứa mà không làm sao quên hẳn.
Hai tên đeo băng đỏ đưa tôi đến một căn nhà nằm trên đường Tôn Thất Thuyết. Nay mới biết là cơ sở kinh tài của Việt Cộng. Vào bên trong, tôi thấy có một số người bị bắt trước ngồi trên băng ghế đặt ở góc một phòng lớn rộng rãi. Họ ngước mắt nhìn tôi có vẻ ái ngại. Tôi biết những người ngồi đó là thành phần đặc biệt nằm trong danh sách tìm bắt của chúng. Nhìn họ, tôi thấy mấy người quen quen. Hình như họ là viên chức Chính Phủ trong tỉnh. Tôi được đưa đến ngồi cạnh họ. Tất cả đều im lặng, không ai nói với ai lời nào ngay cả khi bất chợt nhìn thấy tôi. Có lẽ im lặng để che đậy cái lý lịch của mình, làm như không quen biết nhau, nếu có khai láo cũng không liên lụy đến người khác.
Trong cuộc đời, ắt hẳn bạn đã nhiều lần bước trên lối mòn giữa một cánh đồng cỏ hay trong một khu rừng? Thoạt đầu, lối mòn ấy cũng đầy hoa hoang cỏ dại như chung quanh, nhưng những bước chân người dẫm lên qua ngày tháng đã tạo thành một con đường bằng phẳng. Ký ức chúng ta cũng tương tự như lối mòn ấy. Những trải nghiệm với cảm xúc mạnh mẽ trong quá khứ được nhớ đi nhớ lại như những bước chân đi trên lối mòn góp phần hình thành ký ức, và cả con người chúng ta. Người Mỹ gọi loại ký ức này là “core memory” mà ta có thể dịch ra Việt ngữ là ký ức cốt lõi. Với tôi, ký ức cốt lõi ấy là những gì xẩy ra cho tôi và gia đình trong quãng thời gian kể từ khi thị xã Ban Mê Thuột thất thủ ngày 12 tháng Ba năm 1975, kéo theo sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam chưa đến bẩy tuần sau đó. Tôi vẫn nhớ, và nhớ rất rõ.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.