Hôm nay,  

Mùa Vọng

19/12/202313:28:00(Xem: 2604)
Truyện
nhatho thanhlinh


 

« Cùng nhau quỳ dưới chân Chúa cao sang »

 

Sau ngày kiếp nạn 30-04-1975 thì mẹ tôi vẫn còn một người bạn thân, ở gần, vì ở cùng xóm, xóm Hoàng Diệu. Đó là bác Mão. Bác buôn bán rất giỏi, tôi chưa thấy ai tháo vát xoay sở trong mọi hoàn cảnh đổi thay mà hay như bác.
    Trước ngày mất nước, bác làm cho hãng Shell, sau khi giải thể, bàn giao cho cộng sản, bác về nhà nghỉ ngơi ít ngày, rồi bác đắp ngay một cái lò nướng bánh mì kiên cố trong sân nhà. Phải nói là nhà bác rất khang trang với một cái sân rộng, diện tích lối gần 250m² bác nói ngồi ôm cái buồn chỉ buồn thêm, nên bác mượn một công thợ rồi cùng với người thợ xây làm bánh mì. Ơ hơ thì sẵn nhà nước không có gạo, mà bán toàn bột mì, thì ta làm bánh mì, bán và ăn luôn, giờ ta biến thành tây, bác cứ nói vui vui như vậy.
    Bác có năm cô con gái, bác bảo ngũ long công chúa, nên chúa cho bác ăn nên làm ra theo thời. Ba chị lớn giúp bác rất nhiều việc, từ việc thu dọn nhà, cơm nước, đến việc sản xuất bánh mì. Hai đứa sau cùng trạc tuổi chị em tôi, còn cùng nhau đi học lớp 6, lớp 7 trường phổ thông cấp II gần nhà. Chúng tôi thường sang nhà bác chơi luôn. Gọi là sang chơi, chứ chúng tôi cũng phụ bác thu xếp sân, nhất là kiểm đếm bánh mì ra lò.
    Trước cổng nhà, bác bầy một cái tủ kính nhỏ, đã nói là bác khéo tay lắm, trong tủ kính bán bánh mì đó, bác bán bánh mì kẹp thịt đỏ, xá xíu, pâté gan và đồ chua, tất cả là do hai bàn tay thiện nghệ của bác sáng tạo… và bán rất đắt hàng, bán rẻ mà.
    Mỗi ngày, từ 5 giớ sáng tinh mơ, chuông nhà thờ Thánh Tâm thong dong đổ, mời gọi giáo dân đi lễ, là bác Mão đã cong lưng đạp xe đạp mang bánh ra nhà thờ, bác giao cho ông quản Bích bán hai giỏ bánh mì đầy. Tiền bán thu được, thì bác nói ông quản giữ lấy mua đèn cầy, hoa, nến lớn, nhỏ và trả tiền điện… mọi thứ lặt vặt cần cho giáo đường. Loại bánh này thì nhào bột, bác chỉ chúng tôi nắm những vắt bột nhỏ, nở thành bánh mì con cóc, cho tiện bán, bột này bác nhào kỹ và trộn thêm chút đường vàng và vani cho thơm. Còn bánh mì để bác trước nhà và bánh mì tổ bác làm lớn gấp hai lần và dài gọi như là bánh baguette. Nói vậy chớ bánh baguette lúc ra lò cũng thơm đáo để, có lẽ vì mùi vani và mùi lá dứa lót lò còn sót lại từ những đợt nướng bánh trước.
    Bác Mão theo đạo công giáo, rất thuần thành, yêu kính và sống theo ý chúa và đức mẹ Maria, bác, dù bận tới đâu, cũng không bỏ qua tuần thánh nào mà không đi ngắm. Bác lấy chồng theo đạo Phật, đúng hơn là đạo ông bà, điều này không quan trọng, vì bác Mão rất đạo đức và nể trọng mọi đức tin. Khi chồng bác mất, bác trang trọng lập một bàn thờ riêng cho bác Doãn, chồng bác. Trên bàn thờ chồng, trước tấm ảnh phóng lớn của bác Doãn mặc quân phục Việt Nam Cộng Hòa rất uy nghi, bác để một bình hoa sen và một lư hương nhỏ bằng đồng sáng loáng, mỗi lần vào thắp nhang cho chồng, bác lại tần ngần đứng lại, lấy khăn sạch lau lau chùi chùi nhiều lần, đến độ cái lư hương sáng loáng soi gương được.
    Thảng hoặc, có buổi chiều nào thu xếp xong việc buôn buôn bán bán, bác lại hâm nóng một ít bánh mì còn dư trong ngày, xào tí thịt vụn với mỡ hành, dồn vô bánh, để sẵn đó, mấy người công an khu vực có tới hỏi mua, bác chỉ tặng họ mà không lấy tiền, họ hay đi kiểm tra hộ khẩu mỗi tối, nếu họ có thắc mắc, bác nói là, các cháu đã đủ ăn trong ngày, nên bác biếu. Khi nào mà công an khu vực không đến, sáng sớm mai hôm sau, bác lại mang ra cổng chợ Tô Hiến Thành tặng những người  đói còn ngồi tá túc trên các sạp hàng… từ khi chợ chưa họp.
    Bác làm việc nhiều, tháo vát, năng động luôn luôn nên có hơi vội vã, vả lại bác cũng nhỏ người, tròn lẳn, nên mỗi sáng sớm, leo lên xe đạp, là đạp vội vội vàng vàng, ý là cũng không ai để ý, nên đạp khỏe, hai mông nhô lên nhô xuống coi tức cười… từ trong cửa sổ bếp, chị em tôi thấy bác xẹt qua là cười với nhau “Đít bông đã lên đường”. Mẹ tôi hiểu ý, rầy rà, sao các con nói bác như vậy… hỗn láo vừa vừa thôi nghe!
     Tụi con có hỗn láo hồi nào đâu, kìa, mẹ ra coi, bác có hai cái mông nó bông bông thiệt đó chứ… mấy ai được như bả, thôi cứ gọi là “bà đít bông“ cho lẹ!
    Chọc ghẹo vậy chớ tụi tôi yêu quý bác đít bông lắm. Rồi tới một ngày, cũng không bông bông nữa. Vì là nhà nước hết bột mì bán rồi.
    Một ngày, tan học, làm và học bài xong, chúng tôi không biết làm gì nên lại tràn qua nhà bác. Hôm đấy, bác chặt mía cây ngoài vườn, mang vô nhà, róc mía nhai đã đời, mỏi cả răng, dòm nhau cười chán chê, bác mới thân ái bảo cả bọn là:
    Này, mấy đứa, từ nay đừng kêu bác là bác Mão hay bà đít bông nữa nhe… nghe dị hợm, cứ gọi tao là bà Doãn, tao thích vậy, nghe ổn hơn.
    Tụi tôi chu mỏ:
    Chữ Doãn khó đọc lắm bác ơi, mấy đứa cong môi nhọn mỏ ngoẹo qua ngoẹo lại… Doan Do…an Do…an… ngã Doãn…
    Bác cười:
    Tụi bây làm khó tao hoài, thôi được, vậy gọi tao là bác Dân đi.
    Ơ, không phải kiểu nhân dân đòi làm chủ hả bác?
    Tụi tôi lại cười rộ, một đám con nít vô ý tứ, trong khi chị Thanh, con gái lớn của bác, đứng bên cánh cửa, chị lừ lừ mắt rồi kín đáo khép cửa đi xuống sân. Bác cũng nhác thấy chị Thanh, nhưng im bặt, bác đứng dậy lặng lẽ lên lầu, à thì ra bác đi thắp nhang cho bác trai.
    Cứ tưởng ít ngày sau bột mì sẽ có lại, nhưng nước Nga không viện trợ nữa, cái lò làm bánh bỏ không hiu hắt. Bác rảnh rang và có lần vô thăm má tôi. Bác Dân rì rầm có lần tâm sự cùng má tôi, là bác trai mất đi bác buồn vô hạn, nhưng rồi trong một đêm bác mơ thấy bác trai về trong giấc ngủ của bác, vui tươi nói bác phải ráng vui vẻ làm việc mà nuôi con chứ, con thi đông. Bác trai còn nhắn nếu có khó khăn quá, thì hỏi ý anh Hai giúp đỡ!
    Anh Hai nào?
    Thì anh hai Nhạ của tôi đó. Tôi còn có mình ổng!
    Ổng làm lớn lắm hả? Chắc là ổng giầu.
    Cũng không biết, hỏi làm giống gì, thì ổng đưa tay lên miệng « Xuỵt ».
 
***
 
Mùa Noël lại tới, chuông nhà thờ vang vang, « Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bằng an dưới thế cho người thiện tâm… » Nhà thờ Thánh Tâm Hòa Hưng treo đèn kết hoa rực rỡ, dù e dè cộng sản thế nào, nhưng lòng con chiên thổn thức hướng về Chúa. Giáo dân treo đèn kết hoa theo khuôn viên nhà thờ. Tiếng guốc trẻ con soèn soẹt kéo lê trên sân gạch rộn ràng. Các cụ bà cắp chiếu đi xem lễ buổi trưa, chiều, chào gọi nhau rôm rả. Đèn ông sao đủ mầu sáng rực ở một góc sân có hang đá thiêng liêng. Một cái gì rất ấm cúng, được vuốt ve êm dịu trong giờ phút trọng đại Chúa ra đời:
    … Chuông  vang vang chuông vang vang, chuông giáo đường vang vang…
    Rồi cũng một buổi Noël rạng rỡ, ở đấy, khi lễ đã vãn, bác Dân gái tôi còn lại một mình trong hàng ghế cuối. Bác quỳ khấn miệng thì thầm rất lâu. Một lúc sau, chờ cho thật vắng người, bác đi quanh quẩn qua các bàn thờ, rồi trực chỉ lên bàn thánh cha vừa làm lễ xong. Hình như bác xin được xưng tội giùm cho một người ruột thịt của bác đã qua đời. Tay bác không ngừng lần chuỗi mân côi, bàn tay run run.
    Bác Dân nhìn cha xin tha thiết, nước mắt lưng tròng :
    Thưa cha, vậy có ơn chúa, có được không?
    Cha Phéro Giuse Nguyễn Văn Vàng ôn hòa an ủi, cũng như trả lời con chiên:
   Tôi nhắc lại lời chúa, « Anh em chị em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì cửa sẽ mở cho ».
    Lạy Chúa, Thầy Sáu anh Hai con lợi dụng lòng tin của cha Hoàng Quỳnh… xin chúa thương xót!
    Có tiếng nức nở, rồi tiếng đàn piano và tiếng hát của ca đoàn từ trên balcon cao trỗi lên lời vang vang thánh thót :
    « Lạy thánh thần, xin ngài nổi gió lên
    Gió linh thiêng mang linh khí muôn nơi
    Hãy cuốn đi những ô nhục kiếp người
    Cho nhân phẩm nên siêu cao thần thánh ! »
    A-men.
    Đêm Noël đêm Noël ta hãy chúc nhau an bình
    Đêm Noël đêm Noël ta hãy chúc nhau an bình…
    Sau mùa Noël đầy ý nghĩa năm ấy, tôi không còn gặp bác Doãn đi lễ mỗi cuối ngày, mỗi sáng chúa nhật nữa. Bác đã đi xa, bác dẫn bốn con gái đi thật xa. Nhà bác cửa đóng then cài kín mít, bên trong chỉ còn lại một mình chị Thanh, một hôm tôi tò mò nghển cổ hỏi chị qua bờ tường:
    Thế lúc chị đòi ở lại một mình, thì bác gái nói sao?
    Ơ, không, chị không ở một mình, có bà nội chị về đây ở với chị mà.
    Ơ… là lúc chị nhứt định không đi, bác gái có giận không?
    Mẹ chỉ nói là, con không đi, thì con cứ ở lại đây. Mẹ đưa các em đi, xong xuôi, biết đâu rồi mẹ lại về lại với con.

 

Chúc Thanh

(Paris mùa Noël 2023)

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hằng năm vào dịp Hè, trời yên biển lặng, ngư dân Việt Nam có cơ hội đánh bắt cá trên Biển Đông từ xưa đến nay. Đó là sự sống còn của hàng triệu ngư dân và ngành hải sản của Việt Nam. Nhưng hơn một thập niên qua, Trung Cộng đã lộng hành ngăn cấm hoạt động đánh bắt cá trong hải phận quốc tế mà cả lãnh hải của Việt Nam. Điều đáng nói không thuần túy ở lãnh vực nầy mà Trung Cộng thể hiện chủ quyền của họ trên Biển Đông.
Có nhiều nhà văn, nhà thơ, khi viết về mẹ, đã thảng thốt kêu lên rằng, mẹ ơi, con đã làm bao nhiêu bài thơ cho nhiều người con gái, con đã viết bao nhiêu truyện, bao nhiêu hồi ức cho nhiều người con gái, nhưng con viết về mẹ ít quá, chỉ một, hai bài, hay, chỉ một, hai trang. Tôi cũng vậy, những bài tôi viết về mẹ có lẽ là lúc tôi đang thất tình hay cạn đề tài… Tình yêu của tôi cũng linh tinh, lang tang lắm, có thể có người phê phán tôi là đào hoa, đa tình… Nhưng chuyện này xin hãy nói sau… Bây giờ nhân Ngày của Mẹ, tôi viết về mẹ tôi, một truyện (như thật) cho Ngày Của Mẹ. Có một điều, tôi hiểu và nói ra trước, là Mẹ tôi, rất bình thường, tầm thường nữa là khác. Nhưng với tôi, Mẹ thật vĩ đại, ít ra trong những ngày cơ khổ nhất đời tôi.
Ánh trăng bàng bạc nhuộm cả không gian này, xuyên qua những tán lá tàng cây. Ánh trăng rơi xuống khu vườn tạo nên những hình thù kỳ lạ cứ lấp loáng, mỗi khi có cơn gió thổi qua thì biến thành muôn hình vạn trạng sinh động lạ lùng. Dưới ánh vàng ngà ngà, khu vườn trở nên đẹp một cách huyền hoặc nhưng thanh bình đến vô cùng. Hoa trong vườn lặng lẽ tỏa hương, những đoá hồng kiêu sa thì đã ngậm vành, hàng ngàn nụ lài thanh khiết hương bay ngan ngát, đám dã yên, hoa bướm… thì rực rỡ sắc màu, góc vườn hoa xoan thơm bát ngát. Riêng những đoá quỳnh thì lặng lẽ như muôn đời nay, từng lớp cánh mỏng xếp lớp như những lần lụa là xiêm y. Hoa quỳnh là những lớp xiêm y hay xiêm y xếp laị tạo thành thì cũng chẳng ai dám đoan chắc cả! mùi hương cũng thanh tao, thoát tục lắm.
Dù Mẹ ở tuổi nào đi nữa, ngọn lửa thương yêu trong mắt mẹ dành cho các con vẫn luôn tỏa sáng, không hề lụi tàn. Ngọn lửa đó theo chúng ta suốt cuộc đời, nâng đỡ chúng ta khi vấp ngã, giúp chúng ta thêm sức mạnh trong mọi giông bão của đời sống.. Xin đừng quên cầu nguyện cho những bà Mẹ được an toàn trước Coronavirus. Cũng xin gởi đến bông hồng tươi thắm nhất cho những bà mẹ trẻ đang làm việc ở “tuyến đầu”, không thể ôm hôn con mình mỗi tối.
Mẹ là từ gọi đầu tiên của loài người khi bắt đầu biết nói và cũng có lẽ cho mọi sinh vật trên trái đất, bởi hơn thế nữa mẹ là người đã đưa những sinh linh bé nhỏ đi vào cuộc đời mênh mông sau những tháng ngày ấp ủ trong lòng mình. Vì thế quả thật mẹ là ngôn từ vĩ đại nhất mà mọi sinh vật phải biết ơn và tự hào để có mặt trên cuộc đời này.
Đêm Rằm tháng Tư, chùa Châu Lâm lung linh trong muôn ngàn ngọn nến, hoa toả hương, mùi trầm thoang thoảng… tượng bổn sư ngồi an nhiên tự tại dưới cội bồ đề. Một cảnh tượng khiến nhiều người liên tưởng đến một thời pháp hội ở tịnh xá Kỳ Hoàn. Năm ấy, khi Thế Tôn còn tại thế, tịnh xá Kỳ Hoàn có pháp hội lớn. Vương tôn công tử và bá tánh nô nức cúng dường hương thơm và đèn. Có một bà lão ăn mày vét hết túi chỉ được đồng bạc, bà mua đèn và ít dầu đem đến cúng dường Phật. Khi đêm về khuya, các vị tăng đi tắt đèn, bao nhiêu ngọn đều tắt hết, duy chỉ có một ngọn đèn không sao tắt được, có vị vận thần thông mà cũng không tắt được, càng quạt thì càng sáng hơn. Các vị tăng bèn vào thưa với Phật, Phật bảo "Đó là cây đèn cúng dường của bà lão ăn mày, đó là ngọn tâm đăng, các ông không thể dập tắt, không có ai có thể làm tắt được."
Tôi đến tiển đưa Anh vào buổi chiều hoen nắng. Trời Chicago đang độ vào thu đượm màu vàng úa của lá và mây trời ẩm đục. Gió se lạnh. Giờ này anh đã an vị. Anh bình thản nằm trong quan tài sau bao nhiêu năm chiến đấu cho Tự do Dân chủ. Anh đã đi qua thời khói lửa như một người lính chiến trong màu áo trận. Anh đã bắt đầu thời hòa bình hơn 12 năm trong lao tù cải tạo của Chuyên Chính Vô Sản: từ khám lớn Chí Hòa đến Hoàng Liên Sơn, Bắc Thái, Sơn La, Lý Bá Sơ, Nghệ Tĩnh…Không có vùng đất gian khổ nào của quê hương,của tổ quốc thiếu dấu chân anh. Không có thời điểm nào nguy biến cũng như vinh quang của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa mà anh không cùng anh em chia sẻ.
Bầu trời đen kịt, từng lằn chớp loé lên chằng chịt rạch nát không gian, những tia chớp xanh lè bén như lưỡi đao truỷ thủ mà laị nóng kinh hồn, hễ phóng đụng vật gì thì vật ấy cháy và nát ra. Sấm đì đùng động đến tận đường địa ngục, sấm bổ tan cả đá, đánh vỡ những gì cản đường của nó. Gió giật từng hồi, thổi tung tất cả những vật trên đường đi, cả đất trời như tận thế. Các vị thiên sợ sệt, khép thân không dám nói lời nào.
Qua khung kính cửa sổ phi cơ, Hạnh thấy những ánh đèn ly ty lùi lại trong bóng đêm. Khoảng không gian giữa những chấm sáng ly ty đó và chiếc Boeing đồ sộ này có lẽ xa lắm; nhưng Hạnh tưởng như nàng thấy rõ những con đường mòn len lõi trong rừng thông, từng làn sóng òa vỡ lao xao trên ghềnh đá và những bệ xi-măng vỡ vụn của một phi trường bỏ hoang. Phi trường đó mang tên Orote Point. Cái tên lạ, vô nghĩa như khoảng thời gian dài vô vị trong căn lều vải, trên những chiếc ghế bố nhà binh.
Khi em đưa cái Thẻ Kiểm Tra, mình chưa đọc tên đã biết ngay là em. Nhưng mình cứ làm tỉnh ngồi ôn lại những kỷ niệm ngày xưa. Em thì tình thiệt không biết mình. Nhớ hồi nhỏ hai đứa cũng quyến luyến nhau, dầu chưa tới mười tuổi. Em hay giận hờn
Điện thoại rung, tôi coi thấy Dũng gọi. Biết Dũng chưa bao giờ đi làm sở, sẽ gọi lại nhiều lần nếu không được trả lời nên tôi khẽ đứng dậy bước ra phòng họp gọi bấm phône hỏi: - Có chuyện gì không Dũng? - Chiều nay anh có rảnh không? Tới em. Em làm vài món, mình làm lai rai vài lon. Thứ hai nhà hàng em đóng cửa. - Được ông chủ nhà hàng nấu là nhất rồi. Chết cũng phải mò tới. Anh đang bận họp. Tí anh gọi lại em.
Giữa bất an, và lo buồn của mùa.... mắc dịch, vẫn có những điều làm người ta vui hơn, an tâm vì dù tình hình có xấu đến đâu đi nữa, vẫn có những tấm lòng. Chẳng hạn ở Severna Park, Maryland, từ vài tuần nay, mỗi ngày vào khoảng 11 giờ sáng ở một góc đường, trên một cái bàn màu trắng, có một số túi giấy màu nâu (lunch bags) để ngay ngắn trên bàn với tấm bảng viết tay khá lớn : "Phần ăn trưa miễn phí cho bất cứ ai cần" .


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.