Hôm nay,  

Xuân quê nhà

09/02/202400:00:00(Xem: 4323)
xuan que nha
Xuân Lòng – Tranh Cẩm Tâm.

(Để nhớ những mùa xuân năm Thìn cũ)
 
Từ mấy ngày nay, chợ Đầm đã rộn rịp cho bốc thăm, chia lô để làm chợ Tết. Năm nay, theo lệnh nhà nước, Tết đến sớm hơn mọi năm một tháng. Như để nhắc nhở, lịch năm mới được bày nhan nhản khắp các cửa tiệm. Đặc biệt là các cửa hàng quốc doanh thì lại chẳng có cuốn lịch nào, vì lịch đã chui ra ngoài cả rồi. Lịch năm nay trông tiến bộ lắm, thôi thì các tài tử tha hồ mặc đủ loại áo quần thời trang từ nước ngoài gửi về, nghiêng bên này, liếc bên kia, õng ẹo không kém gì các minh tinh màn bạc Hồng Kông. Có cô còn cầm trên tay một trái táo đỏ nhập theo hàng hoá của các tàu buôn chở đến, ra cái điều sung túc lắm. Ngự Chiêu và Thư Hương nắm tay nhau đi thơ thẩn qua các cửa hiệu, vừa chỉ trỏ các cô tài tử trên lịch, vừa cười khúc khích phê bình vô tội vạ. Thư Hương cười đến suýt ngất khi thấy hình một cô gái miền Bắc mặc áo dài cổ cao thật là cao kiểu một ngàn chín trăm... hồi đó!
   
Ngự Chiêu hỏi Thư Hương:
    “Năm nay ông chú của Hương có mở gian hàng máy bay vòng quanh Việt Nam nữa không?”
    Thư Hương trề môi:
    “Năm ngoái ổng bị lỗ sặc gạch luôn. Chiều ba mươi tính sổ xong thấy trong két sạch bách mà còn nợ tiệm bánh Đông Hưng gần mười ngàn đồng nữa!”
    Ngự Chiêu phì cười:
    “Nếu ai cũng lỗ như chú thì sao năm nay thiên hạ vẫn ùn ùn đăng ký mở gian hàng như thường vậy?”
    Thư Hương cấu bạn một cái:
    “Chiêu ngu thật! Họ thiếu gì mánh khoé để hốt bạc. Tại chú của Hương hiền lành thật thà quá đó chứ. Ai đời giải thưởng lại đi bê toàn thứ xịn về thì không bán nhà trả nợ cũng còn may. Mấy gian hàng kia họ đặt hàng dỏm không hà. Này nhé, pháo họ mua thứ nổ một viên thì tịt mười viên, rượu thì pha nước trà vào, dán nhãn đủ màu cho hấp dẫn, thuốc lá Nha Trang đầu lọc làm bằng lá đu đủ trộn lá khoai mì xắt nhỏ, phơi khô rồi ướp mùi, còn hột dưa thì họ mua thứ chẳng cần rang gì cả, chỉ phơi nắng cho khô  rồi nhuộm màu đỏ choé vô là đủ. Như vậy thì làm sao không có lời cho được?
    Ngự Chiêu cười ngất:
    “Sao Hương rành dữ vậy?”
    Thư Hương như vẫn còn ấm ức:
    “Chưa hết đâu. Trước tiên họ còn rủ nhân viên của ban văn hoá thông tin đi nhậu một chầu no say để họ giảm lệ phí hằng ngày cho. Trừ đi phí tổn bữa nhậu tính ra họ cũng còn lời chán.
    Ngự Chiêu vuốt ngực Thư Hương:
    “Thôi hạ hoả đi bồ. Chiều hăm ba này tụi mình hẹn nhau đi chợ Tết nghen! Họ sẽ khai trương vào lúc bốn giờ đó.”
    Thư Hương thở ra:
    “Có cái khỉ gì đâu mà coi. Cũng ba cái trò chơi nhảm nhí đó xào đi nấu lại hoài.”
    Ngự Chiêu cười gượng:
     “Thì Chiêu cũng muốn tụi mình đi chơi cho đúng lệ hằng năm vậy mà.”
   
Thư Hương hứ một tiếng dài. Nói vậy chứ đúng ba giờ chiều ngày hăm ba, cô cũng cọc cạch đạp xe tới nhà Ngự Chiêu rồi hai cô cùng đi. Ngự Chiêu dắt chiếc xe đạp màu trắng sữa của cô ra, nhẹ nhàng leo lên. Hai cô thong thả đạp xe thẳng xuống biển hóng mát một vòng trước. Nắng chiều vàng ruộm trải trên những ngọn cây và làn gió mát rượi từ biển thổi vào khiến Ngự Chiêu thấy lòng nhẹ tênh thật dễ chịu. Con đường biển kéo dài hun hút trước mắt, toàn là xe đạp chạy ngược xuôi. Mặt biển xanh ngắt, sóng vỗ lăn tăn, dịu êm như một mặt hồ. Nắng làm bừng sáng những hòn đảo xa xa, hòn Tre, hòn Rùa, hòn Đỏ...
    Ngự Chiêu mơ màng:
     “Nhìn hòn Rùa, Chiêu lại nhớ tới hai câu thơ của Hương.”
    Thư Hương lơ đãng:
     “Câu nào?”
    Ngự Chiêu hắng giọng đọc:
    Như đảo Rùa ngàn năm bơi mải miết
    Không thể nào xa được Nha Trang
    Rồi cô trở giọng bình thơ:
     “Bồ đúng là thi sĩ có khác. Chiêu chưa bao giờ có ý nghĩ là hòn đảo có hình dạng con rùa đó đang cố bơi ra ngoài biển khơi mà không thể nào rời xa thành phố này được.”
    Thư Hương đăm chiêu hỏi:
     “Chiêu vẫn còn có ý định vượt biên sao?”
    Ngự Chiêu cười buồn:
     “Có muốn cũng không được! Nhưng chẳng lẽ cả lũ tụi mình ở lại như thế này thì không có quyền sống nữa hay sao?”
   
Hai cô đi hết đường biển, rẽ trái qua toà nhà bưu điện nằm yên tĩnh sau cây bàng lá um tùm toả bóng mát. Qua một con dốc, sự yên lặng ban nãy đã được thay thế bằng quang cảnh rộn rịp của chỗ gởi xe đạp vào chợ Tết. Lúc hai cô vừa xuống xe thì vừa hay một tràng pháo khai trương chợ Tết cũng bắt đầu nổ ròn rã xen lẫn với tiếng hò hét của lũ con nít, làm Ngự Chiêu thấy nao nao trong lòng. Mùi pháo thơm nồng bay trong không gian. Thư Hương nheo mắt hỏi:
     “Năm nay ông Táo về trời hai lần, nhà Chiêu đưa cả hai chứ?”
    Ngự Chiêu gật đầu:
    “Má Chiêu sẽ đưa cả hai ngày. Hy vọng ổng sẽ đủ thì giờ ráp-bo tất cả những khổ đau của dân mình.”
   
Loay hoay một hồi lâu, Ngự Chiêu và Thư Hương mới xếp được hai chiếc xe đạp vào dãy xe dài ngoằng trước cửa chợ. Dọc theo lối đi vào chợ Tết có những người nhà quê đứng ôm mấy gốc mai chi chít nụ xanh rờn. Một đứa bé độ chín mười tuổi đang cố sức đỡ một cây mai cao gấp đôi nó. Mặt thằng bé đỏ bừng, nhễ nhại mồ hôi. Thư Hương đứng lại hỏi nó:
     “Bao nhiêu cây này vậy em?”
    Thằng bé nhướng mắt nhìn xem cô gái này có muốn mua thật hay không rồi mới trả lời:
     “Ba chục ngàn tiền cũ.”
    Ngự Chiêu le lưỡi:
     “Chu choa, mắc dữ vậy! Bằng một trăm tháng lương của mình rồi đó, Hương à.”
    Thư Hương hỏi tiếp:
     “Sao em không kiếm cái gì chống cái cây lên mà cứ rán đứng giữ nó chi cho mệt vậy?”
    Đứa bé đáp thật lẹ:
    “Công an tới làm sao chạy cho kịp?”
   
Thư Hương lắc đầu, khẽ vuốt má nó rồi kéo tay Ngự Chiêu đi. Qua gian hàng trái cây, Ngự Chiêu thấy vui vui trước các màu sắc rực rỡ của thanh long, cam, nho xanh, nho tím, chôm chôm. Dưa hấu xếp cao ngất. Những thứ này mà rớ tới thì phải biết, giá cao bằng trời. Một bà cán bộ hãnh diện ngoắc một chiếc xích-lô lại, chất nửa chục dưa hấu lên trước ánh mắt thán phục của mọi người chung quanh. Bà ta cất cao giọng với cô bán hàng:
     “Về xẻ thử thấy ngon ngày mai tôi sẽ ra mua thêm nữa!”
   
Thư Hương háy mắt với Ngự Chiêu:
     “Chơi kiểu này dân cán bộ gọi là “chơi bù”, cho bõ những năm sốt rét ở Trường Sơn.”
   
Kế bên hàng trái cây là hàng hoa. Từ các giống hoa địa phương đến nhiều loại hồng, lay-ơn ở Đà Lạt chở xuống còn tươi roi rói, trông thật mát mắt. Nhìn quanh, Ngự Chiêu thấy người bán coi bộ còn đông hơn người mua, và người “mua thật” còn ít hơn những người đi xem như hai cô.
   
Ngự Chiêu và Thư Hương bước vào khu bán bánh mứt. Các gian hàng kề nhau san sát, bày ăm ắp đủ loại mứt, nhuộm màu sặc sỡ theo thị hiếu dân quê. Ở đây cũng có nhiều thứ rượu mang nhãn hiệu rất kêu. Ngự Chiêu nghe nói đây chỉ là cồn 60, 70 độ, có cho thêm màu vào mà thôi. Vậy mà đây là món bán chạy nhất ở khu này. Kế cận là các gian hàng trò chơi. Bước vào đây, khách bị hoà lẫn vào một rừng âm thanh hỗn độn, đinh tai nhức óc. Chủ nhân các gian hàng thi nhau mời những ban nhạc địa phương trình diễn nhạc sống cho thêm phần hấp dẫn. Năm nay có lệnh cấm chơi nhạc ngoại quốc nên họ chỉ dám hoà tấu nhạc không lời. Qua gian hàng máy bay, hai cô thấy một cô bé trạc tám chín tuổi đang cầm micro gân cổ hát “Anh ở đầu sông em cuối sông, uống chung dòng nước Vàm Cỏ Đông...” Thư Hương bấm tay Ngự Chiêu:
     “Em này còn nhỏ mà đã ranh quá trời!”
   
Ngoài những trò chơi truyền thống như máy bay, lô-tô, bọ tìm chuồng, ném vòng vịt, năm nay còn có những trò chơi mang “tính thời sự” như ném banh vào mặt “bọn bành trướng” chẳng hạn. Thư Hương kéo tay Ngự Chiêu đứng lại xem. Năm mươi xu một trái banh nhựa, mua rồi tha hồ ném sao cho lọt vào cái miệng to toác hoác của ba tên bành trướng được vẽ bằng một nét cọ hết sức xách mé. Mặt nào mặt nấy béo phì phị, hai mắt ti hí và cái miệng to tướng có thể nuốt trọn một quả banh, trông hết sức kệch cỡm. Thật đúng là kẻ thù không đội trời chung của nhân dân Việt Nam! Lại còn trò chơi của “anh hùng” Phạm Tuân bay (ké) vào vũ trụ, ghé đến tất cả các hành tinh trong thái dương hệ. Cô bán vé, mắt kẻ xanh lè, chìa vé cho hai cô, miệng mời dẻo quẹo:
   
 “Hai chị mua mỗi người một vé lấy hên cuối năm đi! Chỉ còn có hai vé thôi.”
   
Anh chàng hoạt náo viên nói to vào micro:
   
 “Đó! Đó! Hai cô đứng bên phải đó. Đừng để cho anh Phạm Tuân chờ lâu mà, mua giùm hai vé đi!”
   
Ngự Chiêu đỏ mặt lôi Thư Hương qua gian hàng khác. Nơi nào cũng kêu gào, mời mọc mà dường như số vé bán ra rất chậm. Ngự Chiêu đảo mắt nhìn qua những giải thưởng... dỏm mà Thư Hương đã giới thiệu, cười thầm trong bụng. Thiên hạ chen chúc nhau, người nào người nấy cũng đầy mồ hôi mồ kê, bụi bay mù mịt. Thư Hương kéo Ngự Chiêu đi thật nhanh, cô lầm bầm:
     “Khi khổng khi không vô đây hít bụi!”
   
Hai cô len lách một hồi lâu mới thoát ra khỏi rừng người rậm rạp đó. Ngự Chiêu rút khăn tay ra thấm mồ hôi. Nhìn Thư Hương trong bộ áo quần xô lệch, cô không nín được cười. Nhìn bạn đang cau có, cô nhẹ nhàng bảo:
     “Vậy là xong thông lệ cuối năm rồi đó. Hẹn Hương trưa mồng một Tết đến nhà Chiêu rồi tụi mình lên nhà nhỏ Nguyên Nhã chơi.”
 
***
 
Má Ngự Chiêu ngước nhìn ba cô đang lau chùi bàn thờ ông bà, cất tiếng hỏi:
     “Năm nay mình theo lịch nhà nước rước ông bà sớm một tháng, kỳ quá há ông?”
   
Ba Ngự Chiêu vừa quét bụi vừa đáp:
     “Thì tháng sau mình lại rước lần nữa chớ sao bây giờ. Ông bà cũng phải thông cảm cho mình thôi.”
   

Ngự Chiêu nhìn tờ lịch có con số 30 nhỏ nằm ở góc dưới, rồi bâng khuâng ngó ra khoảng sân rộng có cây cối um tùm phủ lớp nắng chiều sắp tắt. Dù sao đi nữa thì đây cũng coi như là buổi chiều cuối năm. Những ngày giáp Tết thiên hạ đổ xô đi mua sắm theo túi tiền, khiêm nhường hay hào phóng, để rồi rút cả vào nhà trong giờ phút cuối cùng của năm cũ. Lúc trưa Ngự Chiêu khó nhọc lắm mới mua được năm cành hoa cẩm chướng vàng với một giá cắt cổ. Cô mang hoa về cắm vào bình, bày trên cái bàn nhỏ trong phòng cô. Mấy nụ hoa còn hàm tiếu làm căn phòng nhỏ của cô như sáng sủa ra thêm một chút. Cô bần thần ngồi bên bàn, nhìn những cuốn sách trên kệ trước mặt với những cái gáy xanh đỏ đủ màu. Đầu óc cô phiêu phiêu, bềnh bồng. Cô không muốn nghĩ đến một điều gì hết. Mãi đến khi bóng tối đã theo vuông cửa sổ ùa vào phòng cùng với tiếng của chị Ngự Trâm từ phòng khách gọi vọng sang, Ngự Chiêu mới giật mình nhìn quanh thấy căn phòng tối om, vắng ngắt. Cô nhẹ nhàng bước qua phòng khách. Chị Ngự Trâm ngó cô hỏi:
     “Làm gì ở hoài trong đó vậy? Ngồi đây coi ti-vi cho vui!”
   
Ngự Chiêu nhìn qua thấy ba má cũng đang ngồi vừa coi truyền hình vừa chuyện trò. Trên màn ảnh là một chương trình ca nhạc của một số ca sĩ không tên tuổi, ca những bài “tự biên”, nghĩa là tự sáng tác lấy và “tự diễn” luôn cho tiện. Từ lâu nay gia đình Ngự Chiêu vẫn có thói quen tụ tập vào buổi tối trước máy truyền hình để... nói chuyện với nhau. Máy truyền hình chỉ là một cái cớ, vì đa số các chương trình đều ngớ ngẩn, nặng mùi tuyên truyền. Nhưng chẳng sao, miễn có hình ảnh nhấp nháy và tiếng nói, tiếng hát léo nhéo là đủ cho mọi người ngồi lại với nhau, nói bao nhiêu thứ chuyện trong ngày, thỉnh thoảng mới nhìn qua một hình ảnh bất chợt nào đó trên màn ảnh nhỏ, vậy cũng gọi là thưởng thức nghệ thuật rồi! Bây giờ đến lượt cô xướng ngôn viên quen thuộc xuất hiện. Cô mặc một chiếc áo dài hoa hoè hoa sói, phía sau có hình một cành mai và câu chúc mừng năm mới. Cô đang đọc chương trình đặc biệt đêm giao thừa. Ngự Chiêu quay qua nhìn chị:
     
“Tội nghiệp cô xướng ngôn viên này quá, chị Trâm ơi! Cổ kiếm đâu được cái áo dài đẹp quá mà lên ti-vi đen trắng ngó chẳng ra cái gì hết. Thật là uổng công cho cổ trau chuốt má hồng môi son. Lên ti-vi môi cổ thấy thâm xịt hà!”
   
Lúc ba Ngự Chiêu đứng lên sửa soạn bày biện bàn thờ cúng ông bà thì trên màn ảnh nhỏ cũng vừa hiện ra một cái đồng hồ chỉ mười hai giờ kém một phút. Ngự Chiêu nhìn cây kim giây nhích từng nấc một, bất giác trong lòng cũng thấy hồi hộp, nôn nao. Lúc chiếc kim giây chập lại làm một cùng với hai cái kim lớn ở số mười hai, màn ảnh truyền hình chiếu một phong pháo đang nổ giòn. Và hầu như cùng một lúc, ngoài kia hàng trăm tiếng pháo khác cũng thi nhau nổ vang trời, át cả tiếng pháo trên truyền hình. Dù biết rằng năm nay ăn Tết trái ngày, Ngự Chiêu vẫn thấy xúc động thật sự giữa giờ phút trời đất giao hoà này. Nơi bàn thờ, ba cô chỉnh tề trong chiếc áo dài the, đang lâm râm khấn vái. Mùi hương trầm thơm ngan ngát bay quyện lấy gian nhà. Không dưng, Ngự Chiêu thấy má mình ươn ướt vì hai giọt nước mắt vô tình lăn xuống, cô cũng không hiểu vì sao. Có lẽ vì nơi đây cô có mùa xuân, có gia đình, có bạn bè, nhưng lại thiếu đi một điều gì to tát lắm, không bao giờ còn tìm lại được.
   
Cúng kiếng xong, ba Ngự Chiêu lấy một phong pháo ra treo trên cành cây khế trước nhà rồi châm nhang đốt. Phong pháo nổ đì đùng như reo vui, không sót một viên nào. Má Ngự Chiêu cười rạng rỡ:
     
“Vậy là năm nay hên rồi!”
   
Chị Ngự Trâm ngáp dài hỏi:
   
 “Chiêu buồn ngủ chưa? Chị mỏi mắt lắm rồi.”
   
Chị đứng lên đi vào buồng trong. Ngự Chiêu cũng tắt cái ti-vi, bước ra ngoài cửa. Đâu đây vẫn còn lác đác tiếng pháo nổ của những nhà cúng giao thừa muộn. Ngự Chiêu thoáng nhớ đến căn nhà cũ hồi cô còn bé, với những cái Tết năm xưa êm đềm. Cô hình dung thấy mình xúng xính trong chiếc áo đầm mới, tay cầm một xấp phong bì đỏ đựng tiền mừng tuổi, ngồi nhìn mọi người vui Tết. Thoắt một cái đã mười mấy năm rồi. Ngày xưa còn bé, mong ngóng Tết sao thấy thật lâu. Lớn lên, hoàn cảnh đất nước đổi thay, cô không chờ Tết nữa, mà sao ngoảnh đi ngoảnh lại đã thấy Tết trở về. Đã bao nhiêu mùa xuân trôi qua, Ngự Chiêu thấy con người mình mỗi năm một khô héo đi, mỗi năm lạnh lùng thêm một chút; học hành dang dở, việc làm bấp bênh, sống một cuộc đời được chăng hay chớ, nước chảy bèo trôi.
   
Ngự Chiêu tắt hết đèn đóm trong nhà, trở vào giường nằm thao thức. Giấc ngủ đầu năm không đến, kỷ niệm mơ hồ của những cái Tết tuổi nhỏ chập cùng lên nhau, nhoè nhoẹt. Lúc trời tờ mờ sáng, Ngự Chiêu mệt mỏi thiếp đi được một lúc thì đã nghe tiếng ba lục đục bày biện bàn thờ để cúng ông bà đầu năm. Hai mắt cô cay xè, nhưng cô cũng rán trở dậy. Đầu năm mà.
   
Ngự Chiêu vừa ăn xong khoanh bánh tét chay thì ba má bảo cô coi nhà để các cụ đi chúc Tết bà con. Chị Ngự Trâm đã có mục sáng mồng một Tết ở nhà bạn bè. Ngự Chiêu đi tắm rồi trở ra, thoải mái trong bộ đồ lụa mềm màu hồng phấn. Cô ngồi hong tóc bên cửa sổ, cạnh chiếc bàn có bình hoa cẩm chướng. Căn phòng của cô vẫn lặng lờ như mọi ngày. Những cuốn sách nằm lặng lẽ trên kệ như làm tăng thêm sự im vắng của gian phòng. Thốt nhiên, Ngự Chiêu đâm ra sợ cái yên lặng này quá. Cô đứng dậy, bật nút cái cassette, tiếng nhạc bay nhẹ trong căn phòng làm cô thấy dễ chịu hơn một chút. Cô pha cho mình một tách trà nhạt, uống từng ngụm thong thả. Cô thấy buồn buồn nhưng cũng rất thích được ở nhà một mình đầu năm như thế này.
   
Gần trưa mới có vài người quen của ba má đến xông đất. Ngự Chiêu thở phào nhẹ nhõm khi người đầu tiên đến là một người lanh lẹn, cởi mở. Cô cười thầm vì thấy mình cũng tin dị đoan y hệt như mà cô vậy. Ngự Chiêu vừa tiễn người khách thứ ba ra cổng thì Thư Hương dắt xe vào. Cô nói liến thoắng:
     
“May quá, Hương cứ sợ phải xông đất nhà Chiêu thì rầy rà lắm!”
   
Ngự Chiêu nắm tay Thư Hương hỏi:
     
“Đầu năm Hương đi đâu nhiều chưa?”
   
Thư Hương cười ngặt nghẽo:
     
“Chiêu học sách nào ra mà hỏi giống nhiều người quá vậy? Sáng giờ Hương gặp ai cũng bị hỏi ‘Đi chơi đâu nhiều chưa?’ Tức cười quá chừng. Còn Chiêu thì sao, đầu năm phát tài chưa?”
   
Ngự Chiêu vui lây theo bạn. Cô dẫn Thư Hương vào nhà, dọn mứt kim quất và một tách trà thơm đãi bạn. Cô vào phòng thay áo. Ngự Chiêu đứng tần ngần trước những chiếc áo dài đã ủi thẳng nếp. Đã từ lâu, con gái ít mặc áo dài, chỉ có đi chùa hay lên... sân khấu mới mặc đến mà thôi. Ngự Chiêu tiếc ơi là tiếc thời sân trường nữ trắng màu áo dài tha thướt mỗi giờ ra chơi. Cô tặc lưỡi chọn chiếc sơ-mi màu trứng sáo và cái quần tây màu sẫm. Mùa xuân len nhẹ vào hồn cô, một niềm vui mỏng như lá non khẽ rung lên trong lồng ngực. Cô bôi một chút nước hoa Muguet, mùi hoa linh lan thơm dịu gợi một khoảng trời mênh mông nơi hương đồng cỏ nội.
   
Ngự Chiêu trở ra phòng khách, thấy Thu Hương đang rung đùi nhâm nhi mứt. Hai cô ríu rít kéo nhau dắt xe ra cổng. Ngoài đường, thiên hạ lũ lượt đi xe, đi bộ, tíu tít trong những trong những bộ quần áo đẹp nhất của mình. Anh xích-lô áo quần rách rưới, gò lưng cố đạp xe, chở một đám nhóc tì ngồi chồng chất lên nhau. Ngự Chiêu và Thư Hương đạp xe về hướng Chợ Mới. Hai bên đường đầy dẫy các hàng quà vặt, thuốc lá lẻ của những người lao động có lẽ không biết đến Tết là gì. Dịch vụ đắt khách nhất là sửa vá xe đạp. Ngự Chiêu nhìn một thằng bé mặt mũi lem luốc, áo quần rách bẩn đang hì hục bơm bánh xe, và cô thấy mùa xuân vừa len vào hồn cô ban nẫy không phải là mùa xuân của tất cả mọi người.
   
Hai cô đi ngang qua nhà ga xe lửa. Nhà ga vắng tanh, chỉ có vài người hành khất ngồi hong nắng gần các bồn hoa. Càng xa trung tâm thành phố, người đi lại càng thưa. Trai gái trên Thành đổ xuống cả Nha Trang để chơi Tết. Họ mặc những kiểu áo loè loẹt, khác hẳn dân thành phố. Đến Chợ Mới, Ngự Chiêu và Thư Hương theo đường rầy xe lửa rẽ xuống xóm nhà của Nguyên Nhã. Một bên là ruộng lúa xanh ngăn ngắt, một bên là con đường sắt chạy ngoằn ngoèo. Không gian thoang thoảng mùi lúa non. Tiếng pháo ở đây khá hiếm hoi. Chẳng có vẻ gì là Tết ở nơi này cả.
   
Con chó trong nhà Nguyên Nhã lớn tiếng sủa. Thư Hương kêu chí choé:
     
“Nhã ơi, đầu năm bồ định lì-xì cho tụi này con chó này hả?”
   
Nguyên Nhã bước ra trong bộ đồ giản dị mà cô vẫn mặc thường ngày, quát đuổi con chó khiến nó cụp đuôi chạy biến ra sân sau. Ngự Chiêu và Thư Hương dắt xe vào sân. Những cây xoài che rợp bóng mát cả một khoảng sân rộng. Nguyên Nhã mời hai bạn ngồi xuống cái xích đu dưới một gốc xoài lớn đoạn dọn ra một mâm mứt bánh. Ngự Chiêu nhìn những lát mứt dừa nhuộm đủ màu, mứt tầm ruộc màu đỏ thẫm, mấy cái bánh thuẫn màu vàng nghệ, tự dưng cô thấy buồn vẩn vơ. Cô nhìn cây mai vàng ối, sum sê những hoa là hoa gần đó. Ngoài nó ra dường như mùa xuân không vào tới tận đây. Nhà Nguyên Nhã cất theo lối cổ của dân quê, có thềm cao để phòng mùa lụt, và như hầu hết các ngôi nhà ở vùng quê, trước nhà có ghi con số năm xây cất: 1943.
   
Trong nhà tối om, leo lét ánh đèn dầu trên chiếc bàn thờ trông tươm tất nhưng vẫn không che giấu được vẻ thanh đạm của gia đình. Sau lưng các cô là đồng ruộng bát ngát với tiếng ếch nhái kêu khàn khàn, ngắt quãng. Nguyên Nhã muốn nói một câu nhưng cũng không biết phải nói gì. Thư Hương lên tiếng, cố phá tan bầu không khí nặng nề:
   
 “Đầu năm Nhã đi đâu nhiều chưa?”
   
Rồi cô phá lên cười. Tiếng cười gượng gạo của cô không đủ xua đi sự già nua của ngôi nhà và cái yên lặng ngột ngạt trong khoảng sân rộng. Nguyên Nhã không hiểu cái cười của Thư Hương, cô vân vê vạt áo, trả lời:
     
“Sáng giờ Nhã vẫn ở nhà. Mọi người đi chúc Tết cả rồi.”
   
Ngự Chiêu hỏi:
   
 “Nhã được nghỉ Tết đến chừng nào mới đi dạy lại?”
   
Nguyên Nhã cầm lên một lát mứt dừa cong queo:
     
“Tới mồng năm. Mồng bốn Nhã sẽ ra lại Tuy Hoà.”
   
Ba cô lại ái ngại nhìn nhau. Thư Hương không cười nữa. Cô di di mũi giày trên nền đất. Nguyên Nhã giật mình nhắc:
     
“Kìa, ăn mứt đi chứ hai bồ!”

Ngự Chiêu chiều bạn, nhón một trái tầm ruộc cho vào miệng. Chất ngọt tan dần ra trên đầu lưỡi mà sao cô thấy có một chút gì đăng đắng. Lần đầu tiên Thư Hương nói một câu nghiêm trang:
     
“Tụi mình đến nơi cả rồi, Chiêu, Nhã há!”
   
Rồi cô nhìn bâng quơ những giọt nắng len qua kẽ hở của những chiếc lá xoài, nói tiếp:
     
“Vậy là hết Tết rồi!”
   
Một chiếc lá xoài rời khỏi cành, chao chao vài vòng rồi rơi xuống trước chỗ Ngự Chiêu đang ngồi. Trên chiếc lá có một con kiến vàng bò chậm chạp, loanh quanh. Không hẹn mà cả ba cô gái cùng chăm chú nhìn không chớp mắt chú kiến vàng đang bình thản bò trên chiếc lá xoài trong ánh nắng đầu năm.
 
– Trần C. Trí

Ý kiến bạn đọc
13/02/202406:25:20
Khách
Tôi cũng là người Nha Trang nhưng nhỏ tuổi hơn các nhân vật chính trong truyện. Ký ức thật đẹp. Cảm ơn tác giả
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Thiện là hành động, lời nói hay ý nghĩ tốt, thường mang lại an vui cho người, cho mình có khi là cho cả hai phía và cho tất cả mọi người xung quanh. Thí dụ việc là của cơ quan Médecin du Monde, luôn cứu giúp tài chánh cho những người nghèo khó, hoạn nạn ở khắp năm châu lục. Việc làm gần đây của thầy Minh Thiền ở Đức Hòa Dĩ An, thầy và các phật tử đi cứu trợ thiên tai bão lụt Yagi ở miền Bắc Việt Nam, ở Lào Cai, Yên Bái và các vùng, miền người thượng, miền cao do bão lũ gây ra. Họ đói, khổ, lạnh, mất người thân. Phái đoàn chùa Đức Hòa tới tận nơi, lội nước bì bõm ngang bụng mang tặng nạn nhân mì gói, áo quần, tiền và lời vấn an cho những người còn sống sót, đem lời cầu nguyện vãng sanh cho những người đã bị nước lũ cuốn đi, A Di Đà Phât. Người làm việc thiện luôn mang lại niềm vui hạnh phúc và dĩ nhiên được mọi người thương mến, thích gần gũi.
Là trả lời cho bốn mươi năm, cứ vào thu, hắn chưa bao giờ quên gởi đi một lời chúc sinh nhật, để sau đó thẫn thờ dặn lòng đừng làm thế nữa vì không có ích gì cho cả hai. Hãy để ngày ấy lụi tàn sẽ nhẹ nhàng hơn cho cả hai trong cuộc sống không có đường quay lại mỗi lần nhìn thấy lá vàng rơi là thêm một mùa thu xa cách.
Trong số các bạn, có những người đã ra đi không bao giờ trở lại, em tôi là một trong những người đó. Người dân Miền Nam vẫn luôn giữ hình ảnh hào hùng của các bạn trong trái tim với lòng biết ơn bao la. Thầy Năng Tĩnh ở một mình trong ngôi Chùa nhỏ vùng ngoại ô, rất xa thành phố. Ngôi Chùa chỉ là chiếc “mobile home” trên vài mẫu đất, trước kia là một nông trại bé tí teo, có hàng rào kẽm gai chung quanh để trại chủ nuôi bò. Từ ngày lập Chùa, Thầy chỉ nuôi một con chó nhỏ để làm bạn và mấy con gà trống, thả chạy tự do đặng nghe tiếng gáy cho vui. Sát hàng rào Thầy trồng mấy dây mùng tơi, khổ qua, giàn bầu và mướp trái xum xuê, bên cạnh đó là mấy luống cải xanh, rau thơm, cà pháo. Sân trước, Thầy đào chiếc hồ xinh xinh, có hòn non bộ, đầy đủ cảnh “Sơn Thủy Tùng Đình” với “Ngư Tiều Canh Mục”, trông cũng vui mắt
Tôi có cảm giác mọi người trong xưởng rất thương mến anh em ông chủ hơn sợ chủ đuổi việc, và anh em ông chủ cũng thương mến mọi người như anh em chứ không chủ thợ rạch ròi. Việc đến phải đến, ông chủ mướn người vô chạy máy sỏi đá mà tiếng Anh gọi là “deburr machine” thay cho ông Mỹ đen đã qua đời. Ông này dị tướng nên anh em chờ xem tài của ông vì ông bà mình nói những người dị tướng thường có tài. Nhưng một tuần trôi qua, chỉ có tuần tới tiếp tục chứ không có gì lạ về ông trọ trẹ. Ai cũng biết ông người miền trung nhưng ai hỏi ông là người tỉnh nào ngoài trung thì ông gắt gỏng chứ không trả lời. Ông lên lớp giảng giải cho người miền bắc, người trong nam hiểu ra chính sách chia để trị của thực dân Pháp chứ đất nước Việt nam liền một dải, người dân từ bắc vô nam nói chung một ngôn ngữ là tiếng Việt từ đời cha ông để lại giang sơn gấm vóc nước Việt cho con cháu. Sao người Việt lại nô lệ tự nguyện cho Pháp, đi phân biệt bắc trung nam để chia rẽ chính dân tộc mình…
Ba chục năm trước, Bê đã bắt đầu sự nghiệp thể thao của Bê. Số là, Ba vừa học xong lớp chuyển nghiệp. Thời gian chuẩn bị thi cử, Ba dạy kèm cho một người bạn cùng lớp. Thi đậu, người bạn tạ ơn Ba một cặp vé Musik Konzert. Lúc đó, Bê ở trong bụng Mẹ đã hơn sáu tháng. Mẹ kể, Mẹ đang năm đầu ở đại học. Trời mùa đông, Mẹ đi học, mặc áo khoác dày cui. Bởi vậy, bạn học không ai biết Mẹ sắp sửa có em bé, chỉ ngỡ Mẹ hơi lên cân, zugenommen. Bác bạn của Ba có lẽ không dè vợ của bạn là bà bầu nên mới mời đi Rock Pop Konzert của ca sĩ Jennifer Rush.
Năm đó, 1999, miền Trung Việt Nam nhất là ở Huế đang chịu trận thiên tai bão lụt lịch sử lớn nhât từ trước cho đến thời điểm bấy giò. Trong hội chợ tết, người Việt ở đây San Jose vui Xuân nhưng không quên đồng bào ở quê nhà. Từng đoàn Hướng Đạo Sinh Việt Nam được phân phối nhiệm vụ cầm những thùng lạc quyên để quyên tiền cứu trợ. Đang lang thang trong hội chợ, hai em bé trong đồng phục Hướng Đạo chận tôi lại. Một trai một gái. Bé gái cao hơn bé trai non nữa cái đầu, chửng chạc nói “Chú ơi, ủng hộ đồng bào bảo lụt đi chú”. Trọn một câu tiếng Việt, tuy phát âm không trọn vẹn, nhưng khá rõ ràng. Tôi nhìn hai em, nhất là bé gái đang thắt cái nơ trên đầu cái nơ mầu đỏ! Tôi bỗng thấy lòng bâng khuâng man mác.
Qua sự giới thiệu của phụ huynh học sinh, chiều nay tôi có thêm học trò mới. Tuy tin tưởng vào người giới thiệu, nhưng tôi cũng có sự dè dặt thường lệ. Đây không phải là lớp dạy thêm bình thường, mà là lớp dạy kèm “Anh văn chui” tại nhà. Nếu bị bắt “tại trận”, tôi có thể bị đuổi việc (nhẹ) hoặc cả vào trại tù "miệt thứ" dài hạn như chơi. Tuy rất nguy hiểm, nhưng được sự “bảo mật” của học trò lẫn phụ huynh và nhất là khoản tiền thù lao rất hậu. Lương giáo viên cấp 3 lúc đó (1978-1979) mỗi tháng $70 đồng cộng nhu yếu phẩm, thì mỗi học sinh "dạy thêm" tôi nhận được $80/ tháng. Chỉ cần ba học trò là mỗi tháng tôi có thêm đến $240 đồng. Đối với giáo viên lúc đó không phải nhỏ! Cà phê cà pháo, cơm hàng cháo chợ cuối tháng vẫn dư tiền bỏ ống. Phần nữa, học trò lớp “Anh văn chui” của tôi thông thường chỉ vài ba tháng là “ra đi”, nên cũng thường xuyên thay đổi.
Vừa đi vừa ngắm lá vàng vừa suy nghĩ chuyện cũ mà đến nhà Sarah hồi nào hổng hay. Sarah mở cửa với nụ cười thật tươi, Lệ thấy ngay phòng khách những giỏ táo đầy ắp, Sarah giải thích: - Hễ cuối hè đầu thu là nhà tớ hái toàn bộ các trái táo ngoài vườn sau, một phần để sên mứt, phần sấy khô, và phần làm bánh táo nướng.
Nhà thơ Trần Mộng Tú gửi tới tôi bài “Mùa Hạ Đom Đóm và Dế Mèng” khi tôi muốn cùng các ông bạn đồng lứa tuổi trở về những ngày xưa thật xưa. Chị Tú hình như cũng cùng tâm trạng với các bạn không còn trẻ của tôi: “Tháng sáu, tôi đến chơi với anh tôi ở Virginia. Cái nóng rịn mồ hôi trên thái dương, và khó ngủ lắm, buổi tối, tôi với anh ra ngồi ở bực thềm, nói chuyện. Tôi bỗng thấy thỉnh thoảng có những chớp nho nhỏ như lân tinh sáng lóe lên rồi lại biến mất trong bụi cây thấp trước mặt, hỏi anh tôi, cái gì thế? “Đom Đóm” Tôi lặng người đi một lúc như nghe thấy ai nhắc tên một người bạn thân cũ, nó làm tôi xúc động. Xúc động một cách rất mơ hồ, chẳng có nguyên nhân gì cả, chỉ là cái tên của một loại côn trùng bé tí được gọi lên. Cái tên nhắc nhở một quê hương xa lắc, một dĩ vãng nằm dưới tấm chăn phủ dầy lớp bụi thời gian. Trong bóng tối, tôi ngắm những cái chấm lửa nhỏ nhoi, lóe lên rồi tắt ngóm với trái tim nôn nao trong ngực. Có đến cả hơn bốn mươi năm tôi không được nhìn thấy những đố
Tọa lạc trong vùng ngoại ô Saint Maur, kề bên là bờ sông Marne hàng hiên ngang cửa nhà chú, chú đổ đầy đất đen đất vụn phải đi mua từng bao ở siêu thị bán cây trồng đất mua chú đổ vào lưng một cái bac ciment rộng lớn chạy ngang hàng hiên nhà. Trong bac chú trồng đầy hoa vàng, hoa nở thì lớn bằng đồng 50 xu, có năm cánh y hệt mai vàng ở Việt Nam, lá xanh non to bằng bàn tay con nít 5, 3 tuổi. Lá cũng rất thưa, hoa rất đẹp, vàng trong như mai ngày tết. Khi nắng gắt, mầu vàng có đậm thêm tí chút, sáng hé nở, trưa ấm nở rộ. Chiều chiều hoa cúp lại ngủ, ngày mai sáng sớm lại mãn khai, thân cây hoa chỉ cao lắm là đến đầu em bé 5, 6 tuổi. Nên hoa và cây không che vướng tầm nhìn từ trong nhà ra ngoài trời. Chú Phương yêu quý những cây hoa đó lắm. Vun tưới thường xuyên. Hỏi tên hoa đó là hoa gì? Chú trả lời ngon ơ: Đó là hoa vông vang của Đỗ Tốn, Chúng tôi không nhớ và cũng không biết ông Đỗ Tốn là ai
Trong sự bồi hồi xúc động, tay bắt mặt mừng, họ được gặp lại để trò chuyện với những người họ hàng thân yêu, những bạn bè xa gần thân thiết, nhìn thấy tận mắt những làng xưa chốn cũ, nhớ lại những kỷ niệm êm đẹp từ thuở thơ ấu cho đến ngày tạm thời phải rời bỏ những nơi này ra đi, ôi biết bao nhiêu nỗi xúc động trộn lẫn niềm sung sướng vô biên, nói làm sao cho hết được.
Những yếu tố lôi cuốn du khách đi du lịch đến một đất nước bao gồm cảnh đẹp thiên nhiên, văn hóa, thành phố lớn với những lối kiến trúc độc đáo, cuộc sống sôi động, ẩm thực, hoạt động phiêu lưu, kỳ thú ngoài trời, những buổi hòa nhạc, thể thao, nghệ thuật, hay lễ hội, địa điểm hành hương tôn giáo, phương tiện giao thông, vấn đề an ninh và bình yên; trong văn hóa, yếu tố con người chiếm một phần rất lớn khiến du khách khi rời xa, vẫn lưu luyến muốn trở lại lần nữa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.