Hôm nay,  

Thời khắc cuối cùng

09/04/202416:08:00(Xem: 3020)
Hồi ký

30-4 image
Ngày 29 tháng tư 1975.
    Những ngày cuối tháng tư quân trường Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung vẫn đang cắm trại, chồng tôi chưa về, nhưng trước khi đi anh đã bảo tôi ở nhà có gì thì bám theo cha mẹ và các em để đùm bọc lẫn nhau. Gia đình cha mẹ tôi ở gần nên hai nhà như một.
    Cha tôi cũng đang “cắm trại” tại phủ thủ tướng. Ông là cảnh sát viên an ninh ở đó. Từ sáng đến giờ những tiếng súng to súng nhỏ vẫn thỉnh thoảng vang rền khắp thành phố, hình như cộng quân sắp tràn vào Sài Gòn. Chị em tôi bàn bạc phải chia ra chạy nạn kẻo chết chùm cả đám vì pháo kích của việt cộng từ phía An Phú Đông sang phi trường Tân Sơn Nhất phải đi qua hướng xóm mình. Tôi sẽ mang con và dắt theo mấy đứa em lên ngã bảy ở nhờ nhà gia đình người anh chồng. Mấy đứa em lớn còn lại sẽ ở nhà với mẹ tôi để… giữ nhà.
Thuê được chiếc xe xích lô máy với giá cả đắt đỏ. Con nhỏ 5 tuổi, ba đứa em cũng còn nhỏ, một đứa 10 tuổi,  9 tuổi và một đứa 6 tuổi . Chúng thích thú giành nhau chỗ ngồi trên xe, dưới sàn xe và…sung sướng cứ y như đang được chở đi du ngoạn, ngắm cảnh phố phường đang rối loạn xe chạy qua lại, người hối hả chạy ngược xuôi trên đường. Đưa được “ phái đoàn” con em đến nhà anh chồng ở quận 10 . Thở phào nhẹ nhõm tôi vào nhà thấy vắng vẻ, ngạc nhiên hỏi mẹ chồng gia đình anh chị đâu thì bà thiểu não:
    - Con đến đây làm gì, gia đình anh con cũng vừa đi xuống…. nhà con tị nạn. Ở đây nghe đạn pháo rầm rầm sát bên tai sợ lắm con ơi...
    Tôi hoảng sợ:
   - Trời ơi, ở đây cũng bị pháo kích nhiều hả mẹ? Con sợ chỗ con ở nên xuống đây lánh nạn. Ai ngờ…
   - Anh con nghe người ta nói Việt Cộng tiến vào thủ đô Sài Gòn từ cửa ngõ Phú Lâm. Họ pháo kích phòng thủ mở đường nên sợ quá phải đi…
    Thế là chỉ vì sợ hãi mà người ta chạy quanh chạy quẩn. Biết nơi nào bình an khi miền Nam Việt Nam đang trong cơn hấp hối này? Tôi buồn bã nhìn mẹ chồng và hỏi sao bà còn ở đây một mình thì bà nói:
     - Mẹ ở lại trông nhà, loạn ly này đi hết thì thành nhà hoang không chủ sao.
    Mẹ chồng cũng như mẹ tôi đều yêu quý căn nhà của mình, cố bám lấy hi vọng nguy hiểm sẽ qua và các con sẽ trở về nhà. Thôi thì đã trót đến đây phải ở lại đây. Mẹ con, chị em tôi ngủ lại tại nhà với mẹ chồng tôi. Cả ngày rồi đến đêm vẫn nghe đạn pháo ầm ĩ  tôi trằn trọc không ngủ được và tự hỏi giờ này gia đình người anh chồng đang tạm trú lánh nạn ở nhà tôi có ngủ ngon giấc không?
    Sáng sớm tôi lại quyết định đưa “phái đoàn” nhà mình “hồi hương” về Hạnh Thông Tây, Gò Vấp. Có khi còn an toàn hơn khu ngã bảy quận 10 nếu cộng quân tấn công vào từ cửa ngõ Phú Lâm. Khó khăn lắm mới vẫy được một chiếc xe taxi, ông tài xế đòi giá bao nhiêu tôi cũng đồng ý miễn là được trở về nhà. Lũ trẻ lại được hốt lên xe, lần này xe 4 bánh “sang” hơn xe 3 bánh xích lô hôm qua, con và các em càng thích, chúng ríu rít tranh nhau lên xe. Xong chúng níu áo tôi đòi hỏi:
    - Mẹ ơi con đói bụng..
    - Chị ơi, mình ra phố ăn phở không?
    - Em muốn ăn xôi cơ.
    Tôi điên tiết gắt lên:
    - Mấy đứa có im đi không, sắp chết cả đám đây nè…
    Thấy mặt chúng nó xụ xuống tiu nghỉu, tôi không có thì giờ mà giải thích, chỉ…năn nỉ:
    - Mình về nhà rồi tính.
    Xe chạy ngang qua bến cảng Sài Gòn thì phải đi chậm lại vì cả một đám đông vẫn đang nhốn nháo ngơ ngác đứng đầy đường. Có lẽ họ đang tiếc con tàu đã rời bến. Nhiều thứ như xe cộ, đồ dùng đắt giá nằm ngổn ngang bừa bãi trên bờ, chủ nhân không thể mang theo lên tàu đành bỏ lại mà cũng chẳng thấy ai lấy đi. Giờ phút này ai cũng lo đi tìm nơi trú ẩn, lo di tản trốn chạy…
    Tội nghiệp ông tài xế taxi, thời khắc sống chết cuối cùng của tháng Tư mà ông còn chạy xe kiếm tiền hoặc là ông quá lạc quan hoặc là ông quá nghèo khổ vẫn cần tiền để sống. Giá mà ông ra lượm đại chiếc xe gắn máy vô chủ đẹp đẽ nào đó đang nằm trên bến tàu, đáng giá hơn biết bao lần cuốc xe chở gia đình tôi từ Ngã Bảy về Hạnh Thông Tây quận Gò Vấp.
    Tôi cũng ngẩn ngơ nhìn ra bến sông, nếu tôi đi ngang qua đây, ra đến bến tàu sớm hơn, tôi có dám bước xuống tàu không? Đi đâu về đâu và sẽ ra sao, sẽ xa cách người thân đến bao giờ? Đó là một quyết định khó khăn cho tất cả mọi người trong cơn hoảng loạn binh biến này. Khi về đến nhà thì gia đình ông anh chồng tị nạn đêm qua cũng… ân hận khi xuống nhà tôi vì suốt đêm nghe tiếng súng từ phía An Phú Đông vọng về. Thế là nhân tiện anh thuê xe taxi này để gia đình anh trở lại nơi tôi vừa trú ẩn. Một cuộc trao đổi ngoạn mục. Ông taxi… trúng mối.
    Đến trưa thì chồng tôi về. Anh nói quan quân ở trung tâm huấn luyện Quang Trung tan hàng rã đám rồi. Trên đường từ Quang Trung về nhà anh thấy những người lính đã cởi bỏ quân phục vứt đầy đường, những đám rác gồm quân dụng quân trang hay bất cứ giấy tờ vật liệu gì liên quan đến Việt Nam Cộng Hòa và Mỹ đang bị đốt cháy cho thành tàn tro. Anh đã bơ vơ lạc lỏng với quân phục huấn luyện viên về tới nhà an toàn là may.
    Cả nhà đầy đủ, chỉ còn thiếu bố tôi. Chẳng biết giờ này ông làm công việc gì ở phủ thủ tướng  khi mà từ thủ tướng tới các thuộc cấp chức vị cao chắc chắn đều đã di tản. Hay bố bị Việt Cộng bắt vì tưởng ông là một nhân  vật cao cấp còn chậm chân ở lại? Cả nhà tôi cùng lo lắng đứng ngồi không yên, riêng tôi giàu tưởng tượng hay là Việt Cộng đã… thủ tiêu bố mất rồi? May quá đến chiều tối thì bố tôi lò dò về đến nhà, ông bình thản kể:
    - Mấy ngày ở phủ thủ tướng bố và các nhân viên còn lại ..…làm chủ nhân cả phủ thủ tướng vì các ông lớn đi hết rồi, bố tha hồ uống các loại rượu ngon đắt tiền mà thủ tướng từng dùng để tiếp khách.
    - Bố không sợ bị Việt Cộng tấn công sao?
   - Nếu sợ thì bố đã lên máy bay rời khỏi Việt Nam rồi. Máy bay trực thăng đáp xuống nóc phủ thủ tướng để đón mọi nhân viên, bố từ chối vì không thể đi một mình khi vợ con còn ở lại.
    Tôi đã hiểu tâm trạng bố, y như tâm trạng tôi sáng nay đi ngang qua bến tàu Sài Gòn. Giá có thể bước xuống tàu chắc tôi cũng không dám vì còn mẹ và các em, còn chồng kẹt trong trại chưa về.
    Thế là ngày 30 tháng tư 1975
    Ai may mắn đi thoát khỏi Việt Nam.
    Ai tan nát nhà cửa, chia lìa người thân.
    Ai còn ở lại.
    Gia đình tôi, không biết may hay rủi, không sứt mẻ gì, đầy đủ cả nhà ở lại Việt Nam để rồi sau đó …lãnh đủ, bắt đầu một cuộc sống mới xã hội chủ nghĩa đầy bất công, gian nan vất vả, đắng cay tủi hờn suốt nhiều năm .
    Chồng đi tù cải tạo, bố bị bắt vì hàng xóm xấu bụng chỉ điểm ông là “mật vụ” cảnh sát viên đi làm toàn mặc thường phục. Hơn một tháng biệt tăm bố tôi được tha về có lẽ họ không điều tra được gì cả ngoài chức vụ cảnh sát viên bình thường. Mẹ tôi mất 1975 vì bệnh viện thiếu bác sĩ, thuốc men. Con tôi sau này đi học bị phân biệt lý lịch. Các em tôi đi vượt biên mấy lần thất bại và tù tội, có đứa mất công ăn việc làm, mất hộ khẩu sống vất vưởng và trốn chui trốn nhủi tiếp tục vượt biên vài lần nữa cho đến khi may mắn đến bến bờ tự do.
    Đã 49 năm qua. Đã 49 tháng Tư qua.
    Nhưng tôi không bao giờ quên những khoảnh khắc cuối tháng tư đau thương ấy. Tôi không bao giờ quên một khoảng đời đen tối ấy.

 

– Nguyễn Thị Thanh Dương.

(April, 2024)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hồi năm sáu tuổi tôi vẫn hay theo chúng bạn ra chơi trước đình làng Thanh Thủy. Nơi đó có mấy cây sanh cổ thụ rất lớn luôn tỏa bóng râm mát mẻ cả đoạn đường bến chạy qua làng. Bên kia con đường bến là hồ Vọng Nguyệt, một cái hồ trông như vuông vức, rộng chừng nửa mẫu tây, dân địa phương vẫn quen gọi là hồ làng...
Phải chi khách đến thăm vườn hồng hơn trăm giống quý đủ màu sắc của ông Chu hằng ngày là khách mua hoa thì chắc thu nhập của gia đình ông đỡ hơn. Ông nghèo, nhưng cái máu nghệ sĩ của ông lại mạnh mẽ hơn chuyện tiền bạc, lại gặp bà vợ hết mực chiều chồng, nên cứ nghe đâu có giống hồng lạ là bằng mọi cách phải có cho bằng được. Năm ba ký gạo đắp đổi hằng ngày đã khó, mà có những giống người ta đổi cả tấn lúa ông cũng lắc đầu.
Không nhớ từ bao giờ đã không còn ngồi xuống bàn trà, tay bốc miếng mứt hạt sen bỏ vô miệng, vị ngọt tươm ra không quá gắt như ăn miếng mứt bí, vị ngọt nhẹ, thanh, kích thích vị giác bởi hương sen quyện ngọt điệu đà, tới khi nhai cái hạt sen đã ấm ấm trong miệng nên không còn cứng cũng không quá mềm như khoai lang luộc. Độ dẻo của hạt sen khi đã sên mứt rất mê hoặc và cũng đâu có gì vội để nuốt đi cho mau, cứ ngậm mà nghe hương vị đất trời tinh khiết của hương sen xông lên khoang mũi làm cho người thưởng thức lâng lâng cảm giác xuân đã về. Có thể nói món gì có hạt sen góp mặt cũng ngon như món vịt tiềm có nhân bên trong là thịt bằm, nấm mèo, táo tàu, gia vị nhiều thứ, nhưng những hạt sen luôn khêu gợi những đôi đũa gắp vì hấp dẫn và ngon lạ miệng. Nhưng đã nhiều năm không ăn mứt hạt sen sao vẫn nhớ khá rõ hương vị độc đáo của hạt sen trong món ngọt ăn chơi ngày tết, hay món mặn ăn tiệc đều ngon.
Cậu Hà người Bắc di cư năm 1954, cậu di cư có một thân một mình khi còn trẻ, nên cậu cũng không có nhiều phương tiện được học hành nhiều. Khi lớn lên ở miền Nam, lối chừng 19, 20 tuổi khoảng năm 1965-1966, cậu từ giã học đường đăng lính, cậu đi lính Việt Nam Cộng Hòa ngành Biệt Động Quân. Sau chuyển qua Thám Báo. Cậu đóng quân như ở miền đồng ruộng, lúc bấy giờ còn loáng thoáng xa xa, ít dân cư, tiếp giáp một bên Đồng Ông Cộ, miệt Gò Vấp, Gia Định.
Chị nhớ lại, vào một buổi sáng ngày cuối tháng 1 năm 1973, khi Chị đi lấy bản tin ở bên Macv về cho AP, chị thấy sao hôm nay văn phòng đông thế. Ký giả của AP và cả của NBC News bên cạnh cũng chạy qua chạy lại, Chị nghe ông chánh văn phòng nói: Viêt Nam sắp ngưng bắn rồi, sắp hòa bình rồi…” Văn phòng Associated Press xôn xao, từ ông chánh văn phòng đến các ký giả, nhân viên của AP đều hứng khởi với cái tin “Nóng bỏng” này. Chị thấy các phóng viên của các hãng thông tấn, hãng truyền hình ngoại quốc chạy hối hả sang nhau và chạy qua cả đài phát thanh Quân Đội Việt Nam để cập nhật tin tức viết bài…
Chị đi bằng xe hàng. Là dân Đà Lạt gốc Huế nên chị gọi xe đò là “xe hàng”. Đi xe hàng, tức là xe đò, là xe chở người và cả hàng chứ không chở riêng hàng. Tiếng Việt hay như vậy đó! Đến Gò Công rồi đi xe lam vào Đồng Nguơn. Ấp Đồng Nguơn. Không phải đây là lần đầu tiên chị được thấy cảnh đồng quê. Đồng quê miền nam hầu như đâu đâu cũng giống nhau. Nhưng có đi nhiều mới thấy mỗi nơi có một chút khác. Phải thế không? Hay chính là cảm giác của chị mỗi lần một khác?
Tôi ước mơ có một ngày nào đó, khi thanh bình thật sự trở về trên nước VN, khi chính thể CS hoàn toàn tan rã, khi con người công chính trở lại làm nền tảng trong xã hội mới, chúng ta sẽ trở về, những ngưới bạn từ thời xa xưa, cùng nhau làm lại một bữa tiệc Tất Niên, mời vong linh các thầy, các bạn, các anh em đồng đội đã chết trong khói lửa chinh chiến, trong các biến cố tang thương của đất nước, trong các trại tù, trên biển…cùng nhập tiệc. Kẻ đang sống cùng người thiên cổ bên cạnh nhau hoài niệm đến một miền thùy dương ngọt ngào nhân tính, một ngôi trường thân yêu giàu truyền thống giáo dục và y đức, một thành phố mến yêu thơ mộng. Để nghe những người quá cố tâm sự về cái chết oan khiên của mình. Được như vậy, hương hồn các vị đó sẽ sớm được siêu thoát và vĩnh viễn an nghỉ chốn nghìn thu. Và chúng ta đây giảm khắc khoải đau thương…
Tôi đã có bốn cái Tết trong trại Panatnikhom và Sikiew, Thailand. Tết đầu tiên thật nhiều kỷ niệm và bất ngờ, vì lúc đó chúng tôi vừa nhập trại trong khi còn hơn một tuần nữa là Tết. Tôi và ba cô bạn đi chung chưa kịp gửi thư cho thân nhân ở nước ngoài để ca bài ca “xin tiền”. Ai lo bận bịu đón Tết thì lo, còn chúng tôi thì lo đi mượn tiền để mua vài vật dụng cần thiết như tấm trải nhựa, tre nứa, dây nilon để làm “nhà” (phải “an cư” mới “lập nghiệp” tỵ nạn được chớ).Khoảng một tuần trước Tết, có một nhóm mấy thanh niên đến thăm vì nghe nói chúng tôi là dân Gò Vấp, nên muốn nhận “đồng hương đồng khói”. Họ là những người trẻ như chúng tôi, nên câu chuyện mau chóng trở nên thân mật và rôm rả
Hỏi thăm ông Hai bán hoa lay-ơn gốc Bình Kiến, nhiều người ngơ ngác hỏi nhau. Tôi lại rảo qua thêm mấy vòng chợ hoa, cũng vừa đi tìm ông Hai, cũng vừa ngắm hoa và ngắm những chậu bonsai bày bán cuối năm, cũng tìm lại mình của gần 20 năm trước, năm nào cũng cứ vào những ngày này, tôi theo ba tôi hóng gió đón sương không hề chợp mắt cùng gian hàng cây kiểng rất bề thế của ba ở đây.
Có lẽ những rộn ràng, hân hoan nhất trong năm không phải là "ba ngày tết", mà là những ngày cận tết. Bắt đầu vào ngày 23 tháng chạp, tối đưa ông Táo về trời. Tất cả mọi sinh hoạt đều hướng về việc chuẩn bị để đón một mùa xuân mới, chào đón nguyên đán và mấy ngày xuân trước mặt. Lúc nhỏ là mùi vải thơm của bộ đồ mới, mùi gạo nếp ngâm cho nồi bánh và hương thơm ngào ngạt cho sàng phơi mứt dừa, mứt bí, mứt gừng ngoài sân. Những đêm ngủ gà ngủ gật ngồi canh bên nồi bánh tét cùng với má, với gia đình xúm quanh. Mùi bếp lửa, mùi khói hương, mùi áo mới lan tỏa của tuổi thơ ngan ngát những ngày xa...
Người ta được nuôi lớn không chỉ bằng thức ăn, mà còn ở lời ru, tiếng hát, và những câu chuyện kể. Chú bé cháu của bà thích được bà ôm vác, gối đầu lên vai bà. Có khi bà mở nhạc từ chiếc nôi cho chú nghe thay cho lời hát, chiếc nôi chú bé đã nằm khi mới lọt lòng mẹ. Có khi bà hát. Bà không ru à ơi, nhưng âm điệu dân gian len vào trong từng lời hát. Chú bé mãi rồi ghiền nghe giọng hát của bà.
Lóng rày tôi hay tẩn mẩn viết về những hồi tưởng tuổi thơ, nhất là những côn trùng ngày xa xưa đó như chuồn chuồn, bươm bướm, ve sầu, dế mèn…Nhiều lúc ngồi nghĩ lẩn thẩn: tại sao vậy? Chắc đó là tâm trạng của người tuổi sắp hết đếm số, tiếc nuối những khi còn cắp sách tới trường. Cắp sách tới trường không phải là chuyện vui nhưng tuổi học trò thì vui thật. Lúc nào, khi nào, chỗ nào cũng toàn thấy chuyện vui chơi. Bạn chơi là người nhưng nhiều lúc là những côn trùng quanh quẩn bên người. Một ông bạn mới gặp nhướng mắt hỏi tôi viết về những bạn chơi nhiều hơn hai chân nhưng chưa thấy nhắc tới bạn của ông ấy. Đó là bọ ngựa. Ông này thuộc loại rắn mắt. Tôi không chung tuổi thơ với ông nhưng chắc ông cũng thuộc loại phá làng phá xóm. Ông kể chuyện ăn me chua trước mấy ông lính thổi kèn trong hàng ngũ khiến mấy ông thợ kèn này chảy nước miếng thổi không được. Tôi thuộc loại hiền nên không có bạn không hiền như bọ ngựa. Ông ta thì khoái bọ ngựa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.