Hôm nay,  

Mạ đi thi

18/04/202408:16:00(Xem: 4328)
Truyện

hoangquan
Mẹ Con -- Tranh Nguyễn Đức Tuấn Đạt.


Mạ xếp hạng chuyện học hành của con cái là quan trọng hàng đầu. Với tiệm sách và quán cà phê, Mạ đã quán xuyến, lo cho gia đình có cuộc sống sung túc, thoải mái một thời gian dài.
    Chỉ hơn một năm sau cuộc đổi đời 1975, tiệm sách, quán cà phê, nhà cửa của Ba Mạ bị tướt đoạt trong khi Ba bị giam đâu đó trong rừng sâu nước độc. Dẫu trắng tay, Mạ vẫn tìm cách đưa dần các con vào Sài Gòn để các con có điều kiện thuận lợi tiếp tục việc học. Mạ biết, các con sẽ phải rất khốn đốn với trường lớp ở miền Trung, vì chính quyền địa phương rất khắt khe, thù nghịch.
    Sau khi nhà cửa bị tịch thu, thật may mắn, một người tuy chưa quen, mà thật tốt bụng, thương cảm tình cảnh khốn đốn của gia đình, đã nhường cho Mạ quán cơm ở bến xe lam. Mạ cho tôi và hai đứa em trai vào Sài Gòn, vì tôi sẽ xong trung học trong 2 năm và hai đứa em trai có nguy cơ đi bộ đội khi đến tuổi. Em gái tôi, Hiền, đang học lớp Tám, cùng hai em đứa út, học trò mẫu giáo được ở lại Quảng Ngãi với Mạ. Đến trường, Hiền thường bị cô giáo dè bỉu, xỏ xiên. Cô cắt nghĩa tội ác Mỹ Ngụy thế này, thế kia và với vẻ hiểm độc, cô trỏ vào em nói: “Ví dụ như trò này là con nhà Mỹ Ngụy”. May thay, bạn bè trong lớp rất thương và binh vực Hiền. Hiền lên lớp Chín, chuẩn bị thi vào cấp III, tức là lớp 10. Hồ sơ dự thi, trong chế độ cộng sản, cần có bản khai lý lịch chi tiết với chứng nhận cư trú địa phương. Ông chủ tịch phường nhất định không chịu ký giấy cho em, vì lý lịch gia đình không “trong sạch”. Thế là Hiền phải học lại lớp Chín thêm một năm nữa. 
    Năm 1978, nghỉ ba tháng hè, Mạ cho Hiền vô Sài Gòn nghỉ ngơi sau một năm học căng thẳng, vì bị cô giáo “cách mạng” khủng bố tinh thần. Theo lịch thi chuyển cấp do nhà trường thông báo, kỳ thi được tổ chức vào cuối tháng Tám. Bất ngờ, nhà trường thay đổi chương trình, dời ngày thi sớm hơn hai tuần lễ. Mạ tức tốc nhờ người nhắn vô Sài Gòn, bảo Hiền về gấp. Ngày ấy, xe cộ ra vô miền Trung rất khó khăn. Đoạn đường khoảng 700 cây số mà xe đò chạy mất một ngày một đêm. Mua vé xe phải có giấy đi đường, phải chầu chực ở bến xe một hai ngày. Tình cờ, tôi biết, một người bạn đã mua được vé xe về đến Quảng Ngãi ngày 14.08. Người bạn sống ở Sài Gòn, chỉ về Quảng Ngãi để thăm họ hàng, nếu chậm một hai ngày chẳng sao. Nghĩ vậy, hai chị em tôi đèo nhau trên chiếc xe đạp cọc cạch, từ Phú Nhuận lên quận 5, tìm người bạn, năn nỉ hết lời, xin bạn nhường vé, để Hiền kịp về đi thi. Nhưng người bạn một mực từ chối. Chị em tôi vừa thất vọng, vừa buồn lo, đành quay về bến xe, thay phiên nhau đứng xếp hàng mua vé. Xe khởi hành từ 7 giờ sáng ở Sài Gòn và sẽ đến Quảng Ngãi khoảng 6, 7 giờ sáng ngày hôm sau, đúng vào ngày thi 15.08. Chúng tôi nhờ người bạn báo cho Mạ biết. Đã có nhiều lần trễ nãi, xe đò đến Quảng Ngãi vào buổi trưa, hoặc chiều. Cho nên, Mạ phải tính đến chuyện nhờ bạn bè đi thi thay thế, trong trường hợp Hiền về không kịp vào thi.
    Vừa nghe người bạn nhắn tin, Mạ gởi quán cơm cho hàng xóm, đội nón vội vàng đi tìm người thi thế cho Hiền. Ngày ấy, tất cả thu nhập chỉ trông mong vào quán cơm, để Mạ nuôi bầy con và lo bới xách thăm nuôi Ba. Mạ đã phải giật gấu vá vai, phải tính toán khéo léo từng đồng, mới có thể sắp xếp ổn thỏa cho bao nhiêu món chi tiêu trong gia đình. Bởi vậy, bỏ thu nhập của một ngày không đơn giản. Nhưng trong lúc này, đối với Mạ, việc học của đứa con quan trọng hơn tất cả. Mạ hỏi thăm đám bạn của Hiền. Chúng cho biết, Vũ học rất giỏi. Thời gian ấy, Ba của Vũ, là giáo sư trung học trước năm 1975, không cho Vũ đến trường. Ông dạy con theo chương trình riêng của ông tại nhà. Mạ chạy xuống nhà Vũ, nói chuyện với cha mẹ của Vũ, nằn nì Vũ đi thi giúp cho Hiền. Vốn là bạn với nhau từ trước, Vũ đồng ý. Mạ mừng lắm. Mạ hỏi Vũ cần những gì. Mạ soạn bút viết của Hiền ở nhà. Mạ chạy ra chợ mua giấy ca-rô, thước kẻ. Mạ qua nhà hàng xóm mượn thêm com-pa. Đem giấy viết về, Mạ xếp giấy ngay ngắn và thử ngòi bút. Thấy ngòi bút hơi bị tòe, nét to, thô thiển, Mạ không hài lòng. Mạ lại nhờ người coi tạm quán cơm, lật đật ra chợ tìm mua ngòi bút khác nhỏ hơn. Mạ nghĩ, ngòi bút nhỏ, viết chữ đẹp, tạo ấn tượng tốt. Giám khảo chấm bài, có cảm tình, hy vọng sẽ được nhiều điểm hơn.
    Tối 14 rạng sáng 15.08 Mạ không chợp mắt được. Mạ ở quán cơm gần cây xăng, trên quốc lộ số 1. Mỗi lúc nghe tiếng xe ngoài đường, Mạ choàng dậy, xem có phải xe đò Sài Gòn ra hay không. Đến 5 giờ sáng, Hiền vẫn chưa về tới. Mạ lựa bộ áo quần của Hiền, ủi thẳng thớm, xuống nhà Vũ, đưa Vũ mặc, đón Vũ đi thi. Cùng đi với Mạ, có Hạnh, con nhà hàng xóm. Mạ dắt Vũ vô tận phòng thi, dặn dò, nhắn nhủ. Mạ ra ngoài cổng trường, ngồi trên bệ thềm, bụng dạ rối bời, lắng nghe tiếng được, tiếng mất, thông báo các điều lệ thi cử qua loa phóng thanh của trường. Mạ dùng dằng, định ngồi đó cho đến khi học trò thi xong. Gần 9 giờ, Hạnh trấn an Mạ: “Bác ơi, mình về nhà được rồi. Không nghe nói, chắc là êm xuôi”.
    Mạ về quán, chuẩn bị cơm nước để bán cho khách ăn trưa. Lòng Mạ vẫn bồn chồn, phập phồng lo âu. Mạ lóng ngóng ngó những chuyến xe đò tấp vào bến xe. Đang lúc Mạ bận rộn túi bụi, tay lo vần nồi cơm cho chín đều, sang tay qua bếp khác, làm nước màu cho nồi thịt kho, Mạ ngó xuyên qua các song gỗ của quán, nhìn ra đường Quang Trung, Mạ thấy Vũ đi về phía quán ăn. Mạ cảm như chân tay rụng rời. Mạ tưởng như khuỵu xuống, khi Vũ nói: “Lộ rồi bác ơi. Con bị đuổi ra khỏi phòng thi.” Vũ kể, Vũ đã ngồi yên trong phòng thi, tưởng mọi việc trót lọt. Bất ngờ, có đứa học trò khác, ở gần nhà Vũ, nhận ra Vũ, trò nói với thầy cô gác thi, tại sao Vũ vần V mà lại ngồi ở phòng thí sinh với vần H. Thế là thầy cô tới hỏi vài câu, buộc Vũ phải tức khắc ra khỏi phòng thi và tịch thu hồ sơ thi của Hiền.
    Gần trưa, chuyến xe đò Hiền đi mới đến bến xe Quảng Ngãi. Nhưng đã quá trễ. Hiền bị cấm thi trong năm đó. Tức là sẽ phải lông bông thêm một năm nữa, mà chưa biết năm sau sẽ ra sao. Mạ buồn rầu, lo lắng, thương cho con, không biết con có còn cơ hội cắp sách đến trường được chăng. Mạ đổ bịnh, nằm liệt luôn cả tuần. Sau đó, dù rất muốn cho con gái út ở gần, Mạ vẫn quyết định cho Hiền vào Sài Gòn để có thể tiếp tục đi học.
    Nhớ lại những ngày tháng cơ cực mấy chục năm trước, Mạ, một phụ nữ vừa ngoài năm mươi, một thân, một mình chèo chống lo cho chồng, nuôi bầy con. Mạ thức khuya, dậy sớm một tuần bảy ngày. Mạ đầu tắt, mặt tối một năm mười hai tháng, trừ một hai ngày tết Mạ vô Sài Gòn ở với mấy đứa con. Những năm xưa, Mạ mặc áo dài khoan thai trông coi tiệm sách. Chỉ vài năm sau cơn lốc đổi đời tàn khốc, Mạ lam lũ trong áo nâu, quần đen, tất tả ra chợ mua bút viết cho con. Tưởng tượng cảnh Mạ săm soi giấy bút, thử ngòi viết chuẩn bị đi thi. Ôi chao, thương Mạ kể sao cho xiết. Mạ làm tất cả với lòng mong muốn con được đi thi, được đi học. Lòng Mạ dành cho bầy con bao la như biển, vô bờ, vô bến. Còn tình thương nào cao cả hơn, sâu đậm hơn tình Mạ dành cho tụi con. Hình ảnh Mạ đi thi chẳng bao giờ phai nhạt trong tim của bầy con.
    Mạ yêu quý của tụi con, Mạ xa tụi con đã bao nhiêu năm rồi. Nhưng tình thương của Mạ vẫn luôn gần gũi, ấm áp, vẫn luôn tỏa sáng trong tim của chúng con, Mạ ơi.

 

-- Hoàng Quân

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chiếc ghế đá hầu như rất quen thuộc, dù nó cũng như mọi chiếc ghế khác trong công viên. Tháng Sáu. Bầy ve kêu inh ỏi. Chúng vô tư thật! Đoan ngồi xuống. Mấy buổi chiều nay, tan học, Đoan ghé khu vườn rộng lớn này, như một người trở về, cảm giác thật khó tả. Chợt nghe trong đầu vẳng lại lời của một bài thơ:
Cuộc đời trung úy Đỗ Lệnh Dũng, một sĩ quan VNCH, là biểu tượng bi tráng của lòng trung thành, khí phách giữa chiến tranh tàn khốc, và là minh chứng cho nỗi đau kéo dài của những người lính và thương phế binh miền Nam sau cuộc chiến.
Lớn hơn anh Hợp một tuổi, tháng 4 năm 1975, anh Đăng chưa xong năm thứ nhất về Cơ khí ở Phú Thọ, vận nước xoay chiều, ba anh cũng phải đi "học tập cải tạo" như hơn ba trăm ngàn Sĩ quan QLVNCH. Là con trai đầu lòng, anh Đăng bỏ cả ước mơ, bỏ trường về quê, điền vào chỗ trống của người chủ gia đình mà ba anh bỏ lại. Anh sinh viên kính trắng của Phú Thọ bỗng chốc trở thành phụ xe, lơ xe, cũng đổi đời như gần hai chục triệu người dân miền Nam.
Bây giờ trời đã tối, nhiều người đi ngủ sớm. Bọn trẻ học bài dưới bóng ngọn đèn dầu ở ngoại ô, ngọn đèn đường gần bờ sông. Trước hàng rào kẽm gai, một người lính mang súng đi đi lại lại, một đôi tình nhân đi chơi về muộn. Ngọn đèn hỏa châu sáng bừng góc trời một lát rồi tắt. Người yêu quê hương đã đi ra khỏi mảnh đất của những hận thù dai dẳng mà vẫn muốn trở về. Người nông dân muốn cày lại thửa ruộng của mình. Người thợ sửa đồng hồ muốn ngồi lại cái ghế vải nhỏ thấp của mình sau tủ kiếng bày đồng hồ cũ và mới. Lò bánh mì chiếu sáng nhấp nhô bóng những đứa trẻ bán bánh mì đứng trước cửa sổ với bao tải lớn đựng bánh nóng mới ra lò. Con chim về ngủ muộn biến mất trong bụi cây chỗ anh đứng.
Em nằm im lặng nghe đêm thở | Tháng Tư mở đôi mắt trong đêm | Anh ạ, em nghe Tháng Tư khóc | Tháng Tư nhỏ những giọt lệ đen.(tmt)
Con người ngậm kín cái tốt vào lòng. Để khỏi mua lấy vạ hiềm nghi ghen ghét. Tôi nhìn đứa bé từ sau lưng, sự rung động khẽ của đôi vai nhỏ bé, vẻ hạnh phúc của cái gáy nhỏ xíu măng tơ. Phút này qua phút khác, có lẽ lâu lắm, cho đến khi đứa bé bắt đầu thỏa mãn, bú chậm lại, nhưng nó vẫn ôm lấy bầu ngực của người đàn bà lạ, ngủ thiếp đi.
Biển đêm như vô thức một màu đen mênh mông, nhưng biển chứa toàn bộ lịch sử con người từ lúc còn là tế bào phôi sống cho đến khi biến thành DNA, rồi từ thú vật tiến lên con người. Lịch sử đó đầy ngập dữ liệu nhưng chôn sâu dưới đáy nước. Hồi tưởng chỉ là những con sóng nổi dập dìu, cho dù sóng lớn dữ dằn trong bão tố vẫn không mang được hết đáy nước lên trên mặt. Vì vậy, biển lúc nào cũng bí mật. Vô thức cũng bí mật. Càng gây thêm khó khăn để chứng minh sự thật vì vô thức có khả năng biến đổi dữ liệu hồi tưởng. Chỉ những người thiếu bản lãnh mới tin vào trí nhớ của mình và của người khác. Nhưng toàn bộ nhân loại sống và tạo ra ý nghĩa hầu hết dựa vào bộ nhớ. Một số ít người hiểu rõ điều này, nhưng không làm gì khác hơn, vì hồi tưởng tự động và tự nhiên xuất hiện dù không đầy đủ, kể cả, khi con người kêu gọi ký ức đến, nó cũng đến trên xe lăn, hoặc chống nạn, hoặc bò lết như kẻ tàn tật.
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
Năm mươi năm nhìn lại, sau ngày 30 tháng 04, 1975, cái dấu mốc lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam, nói chung, và người dân miền Nam nói riêng. Sự thật lịch sử về ngày này đã được phơi bày rõ ràng trên mọi phương tiện truyền thông, tin tức, và trong thế giới sử. Ai cũng đã rõ, phe thắng trận, sai, phe thua trận, đúng. Điều này không cần bàn cãi nữa; cho dù kẻ chiến thắng cố tình viết lại lịch sử Việt Nam theo ý mình khi sức mạnh của họ nằm trên nòng súng. Phe thua cuộc lại là phe thắng được nhân tâm.
Tháng Tư chuếnh choáng. Say chẳng phải vì rượu dẫu chỉ nhấp môi hoặc thậm chí trong đám bạn có kẻ chẳng uống giọt nào. Nhưng họ vẫn say như thường. Những hồi ức tháng Tư lần lượt xuất hiện như một chất men nhưng không thể làm người ta quên mà chỉ là giây phút hiếm hoi nhắc nhớ để rồi quên. Quên tạm thời nỗi niềm chất chứa mà không làm sao quên hẳn.
Hai tên đeo băng đỏ đưa tôi đến một căn nhà nằm trên đường Tôn Thất Thuyết. Nay mới biết là cơ sở kinh tài của Việt Cộng. Vào bên trong, tôi thấy có một số người bị bắt trước ngồi trên băng ghế đặt ở góc một phòng lớn rộng rãi. Họ ngước mắt nhìn tôi có vẻ ái ngại. Tôi biết những người ngồi đó là thành phần đặc biệt nằm trong danh sách tìm bắt của chúng. Nhìn họ, tôi thấy mấy người quen quen. Hình như họ là viên chức Chính Phủ trong tỉnh. Tôi được đưa đến ngồi cạnh họ. Tất cả đều im lặng, không ai nói với ai lời nào ngay cả khi bất chợt nhìn thấy tôi. Có lẽ im lặng để che đậy cái lý lịch của mình, làm như không quen biết nhau, nếu có khai láo cũng không liên lụy đến người khác.
Trong cuộc đời, ắt hẳn bạn đã nhiều lần bước trên lối mòn giữa một cánh đồng cỏ hay trong một khu rừng? Thoạt đầu, lối mòn ấy cũng đầy hoa hoang cỏ dại như chung quanh, nhưng những bước chân người dẫm lên qua ngày tháng đã tạo thành một con đường bằng phẳng. Ký ức chúng ta cũng tương tự như lối mòn ấy. Những trải nghiệm với cảm xúc mạnh mẽ trong quá khứ được nhớ đi nhớ lại như những bước chân đi trên lối mòn góp phần hình thành ký ức, và cả con người chúng ta. Người Mỹ gọi loại ký ức này là “core memory” mà ta có thể dịch ra Việt ngữ là ký ức cốt lõi. Với tôi, ký ức cốt lõi ấy là những gì xẩy ra cho tôi và gia đình trong quãng thời gian kể từ khi thị xã Ban Mê Thuột thất thủ ngày 12 tháng Ba năm 1975, kéo theo sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam chưa đến bẩy tuần sau đó. Tôi vẫn nhớ, và nhớ rất rõ.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.