Hôm nay,  

Mạ đi thi

18/04/202408:16:00(Xem: 4311)
Truyện

hoangquan
Mẹ Con -- Tranh Nguyễn Đức Tuấn Đạt.


Mạ xếp hạng chuyện học hành của con cái là quan trọng hàng đầu. Với tiệm sách và quán cà phê, Mạ đã quán xuyến, lo cho gia đình có cuộc sống sung túc, thoải mái một thời gian dài.
    Chỉ hơn một năm sau cuộc đổi đời 1975, tiệm sách, quán cà phê, nhà cửa của Ba Mạ bị tướt đoạt trong khi Ba bị giam đâu đó trong rừng sâu nước độc. Dẫu trắng tay, Mạ vẫn tìm cách đưa dần các con vào Sài Gòn để các con có điều kiện thuận lợi tiếp tục việc học. Mạ biết, các con sẽ phải rất khốn đốn với trường lớp ở miền Trung, vì chính quyền địa phương rất khắt khe, thù nghịch.
    Sau khi nhà cửa bị tịch thu, thật may mắn, một người tuy chưa quen, mà thật tốt bụng, thương cảm tình cảnh khốn đốn của gia đình, đã nhường cho Mạ quán cơm ở bến xe lam. Mạ cho tôi và hai đứa em trai vào Sài Gòn, vì tôi sẽ xong trung học trong 2 năm và hai đứa em trai có nguy cơ đi bộ đội khi đến tuổi. Em gái tôi, Hiền, đang học lớp Tám, cùng hai em đứa út, học trò mẫu giáo được ở lại Quảng Ngãi với Mạ. Đến trường, Hiền thường bị cô giáo dè bỉu, xỏ xiên. Cô cắt nghĩa tội ác Mỹ Ngụy thế này, thế kia và với vẻ hiểm độc, cô trỏ vào em nói: “Ví dụ như trò này là con nhà Mỹ Ngụy”. May thay, bạn bè trong lớp rất thương và binh vực Hiền. Hiền lên lớp Chín, chuẩn bị thi vào cấp III, tức là lớp 10. Hồ sơ dự thi, trong chế độ cộng sản, cần có bản khai lý lịch chi tiết với chứng nhận cư trú địa phương. Ông chủ tịch phường nhất định không chịu ký giấy cho em, vì lý lịch gia đình không “trong sạch”. Thế là Hiền phải học lại lớp Chín thêm một năm nữa. 
    Năm 1978, nghỉ ba tháng hè, Mạ cho Hiền vô Sài Gòn nghỉ ngơi sau một năm học căng thẳng, vì bị cô giáo “cách mạng” khủng bố tinh thần. Theo lịch thi chuyển cấp do nhà trường thông báo, kỳ thi được tổ chức vào cuối tháng Tám. Bất ngờ, nhà trường thay đổi chương trình, dời ngày thi sớm hơn hai tuần lễ. Mạ tức tốc nhờ người nhắn vô Sài Gòn, bảo Hiền về gấp. Ngày ấy, xe cộ ra vô miền Trung rất khó khăn. Đoạn đường khoảng 700 cây số mà xe đò chạy mất một ngày một đêm. Mua vé xe phải có giấy đi đường, phải chầu chực ở bến xe một hai ngày. Tình cờ, tôi biết, một người bạn đã mua được vé xe về đến Quảng Ngãi ngày 14.08. Người bạn sống ở Sài Gòn, chỉ về Quảng Ngãi để thăm họ hàng, nếu chậm một hai ngày chẳng sao. Nghĩ vậy, hai chị em tôi đèo nhau trên chiếc xe đạp cọc cạch, từ Phú Nhuận lên quận 5, tìm người bạn, năn nỉ hết lời, xin bạn nhường vé, để Hiền kịp về đi thi. Nhưng người bạn một mực từ chối. Chị em tôi vừa thất vọng, vừa buồn lo, đành quay về bến xe, thay phiên nhau đứng xếp hàng mua vé. Xe khởi hành từ 7 giờ sáng ở Sài Gòn và sẽ đến Quảng Ngãi khoảng 6, 7 giờ sáng ngày hôm sau, đúng vào ngày thi 15.08. Chúng tôi nhờ người bạn báo cho Mạ biết. Đã có nhiều lần trễ nãi, xe đò đến Quảng Ngãi vào buổi trưa, hoặc chiều. Cho nên, Mạ phải tính đến chuyện nhờ bạn bè đi thi thay thế, trong trường hợp Hiền về không kịp vào thi.
    Vừa nghe người bạn nhắn tin, Mạ gởi quán cơm cho hàng xóm, đội nón vội vàng đi tìm người thi thế cho Hiền. Ngày ấy, tất cả thu nhập chỉ trông mong vào quán cơm, để Mạ nuôi bầy con và lo bới xách thăm nuôi Ba. Mạ đã phải giật gấu vá vai, phải tính toán khéo léo từng đồng, mới có thể sắp xếp ổn thỏa cho bao nhiêu món chi tiêu trong gia đình. Bởi vậy, bỏ thu nhập của một ngày không đơn giản. Nhưng trong lúc này, đối với Mạ, việc học của đứa con quan trọng hơn tất cả. Mạ hỏi thăm đám bạn của Hiền. Chúng cho biết, Vũ học rất giỏi. Thời gian ấy, Ba của Vũ, là giáo sư trung học trước năm 1975, không cho Vũ đến trường. Ông dạy con theo chương trình riêng của ông tại nhà. Mạ chạy xuống nhà Vũ, nói chuyện với cha mẹ của Vũ, nằn nì Vũ đi thi giúp cho Hiền. Vốn là bạn với nhau từ trước, Vũ đồng ý. Mạ mừng lắm. Mạ hỏi Vũ cần những gì. Mạ soạn bút viết của Hiền ở nhà. Mạ chạy ra chợ mua giấy ca-rô, thước kẻ. Mạ qua nhà hàng xóm mượn thêm com-pa. Đem giấy viết về, Mạ xếp giấy ngay ngắn và thử ngòi bút. Thấy ngòi bút hơi bị tòe, nét to, thô thiển, Mạ không hài lòng. Mạ lại nhờ người coi tạm quán cơm, lật đật ra chợ tìm mua ngòi bút khác nhỏ hơn. Mạ nghĩ, ngòi bút nhỏ, viết chữ đẹp, tạo ấn tượng tốt. Giám khảo chấm bài, có cảm tình, hy vọng sẽ được nhiều điểm hơn.
    Tối 14 rạng sáng 15.08 Mạ không chợp mắt được. Mạ ở quán cơm gần cây xăng, trên quốc lộ số 1. Mỗi lúc nghe tiếng xe ngoài đường, Mạ choàng dậy, xem có phải xe đò Sài Gòn ra hay không. Đến 5 giờ sáng, Hiền vẫn chưa về tới. Mạ lựa bộ áo quần của Hiền, ủi thẳng thớm, xuống nhà Vũ, đưa Vũ mặc, đón Vũ đi thi. Cùng đi với Mạ, có Hạnh, con nhà hàng xóm. Mạ dắt Vũ vô tận phòng thi, dặn dò, nhắn nhủ. Mạ ra ngoài cổng trường, ngồi trên bệ thềm, bụng dạ rối bời, lắng nghe tiếng được, tiếng mất, thông báo các điều lệ thi cử qua loa phóng thanh của trường. Mạ dùng dằng, định ngồi đó cho đến khi học trò thi xong. Gần 9 giờ, Hạnh trấn an Mạ: “Bác ơi, mình về nhà được rồi. Không nghe nói, chắc là êm xuôi”.
    Mạ về quán, chuẩn bị cơm nước để bán cho khách ăn trưa. Lòng Mạ vẫn bồn chồn, phập phồng lo âu. Mạ lóng ngóng ngó những chuyến xe đò tấp vào bến xe. Đang lúc Mạ bận rộn túi bụi, tay lo vần nồi cơm cho chín đều, sang tay qua bếp khác, làm nước màu cho nồi thịt kho, Mạ ngó xuyên qua các song gỗ của quán, nhìn ra đường Quang Trung, Mạ thấy Vũ đi về phía quán ăn. Mạ cảm như chân tay rụng rời. Mạ tưởng như khuỵu xuống, khi Vũ nói: “Lộ rồi bác ơi. Con bị đuổi ra khỏi phòng thi.” Vũ kể, Vũ đã ngồi yên trong phòng thi, tưởng mọi việc trót lọt. Bất ngờ, có đứa học trò khác, ở gần nhà Vũ, nhận ra Vũ, trò nói với thầy cô gác thi, tại sao Vũ vần V mà lại ngồi ở phòng thí sinh với vần H. Thế là thầy cô tới hỏi vài câu, buộc Vũ phải tức khắc ra khỏi phòng thi và tịch thu hồ sơ thi của Hiền.
    Gần trưa, chuyến xe đò Hiền đi mới đến bến xe Quảng Ngãi. Nhưng đã quá trễ. Hiền bị cấm thi trong năm đó. Tức là sẽ phải lông bông thêm một năm nữa, mà chưa biết năm sau sẽ ra sao. Mạ buồn rầu, lo lắng, thương cho con, không biết con có còn cơ hội cắp sách đến trường được chăng. Mạ đổ bịnh, nằm liệt luôn cả tuần. Sau đó, dù rất muốn cho con gái út ở gần, Mạ vẫn quyết định cho Hiền vào Sài Gòn để có thể tiếp tục đi học.
    Nhớ lại những ngày tháng cơ cực mấy chục năm trước, Mạ, một phụ nữ vừa ngoài năm mươi, một thân, một mình chèo chống lo cho chồng, nuôi bầy con. Mạ thức khuya, dậy sớm một tuần bảy ngày. Mạ đầu tắt, mặt tối một năm mười hai tháng, trừ một hai ngày tết Mạ vô Sài Gòn ở với mấy đứa con. Những năm xưa, Mạ mặc áo dài khoan thai trông coi tiệm sách. Chỉ vài năm sau cơn lốc đổi đời tàn khốc, Mạ lam lũ trong áo nâu, quần đen, tất tả ra chợ mua bút viết cho con. Tưởng tượng cảnh Mạ săm soi giấy bút, thử ngòi viết chuẩn bị đi thi. Ôi chao, thương Mạ kể sao cho xiết. Mạ làm tất cả với lòng mong muốn con được đi thi, được đi học. Lòng Mạ dành cho bầy con bao la như biển, vô bờ, vô bến. Còn tình thương nào cao cả hơn, sâu đậm hơn tình Mạ dành cho tụi con. Hình ảnh Mạ đi thi chẳng bao giờ phai nhạt trong tim của bầy con.
    Mạ yêu quý của tụi con, Mạ xa tụi con đã bao nhiêu năm rồi. Nhưng tình thương của Mạ vẫn luôn gần gũi, ấm áp, vẫn luôn tỏa sáng trong tim của chúng con, Mạ ơi.

 

-- Hoàng Quân

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Vốn là một quân nhân, sau khi triệt thoái từ miền Trung về Saigon, tôi được bổ xung cho một đơn vị pháo binh đang hành quân ở vùng Củ Chi, Tỉnh Tây Ninh, yểm trợ sư đoàn 25 Bộ BinhB. Khoảng ba tuần trước khi mất nước tôi bị thương ở chân. Nằm trong quân y viện Tây Ninh vài ngày, bác sĩ cho về nhà dưỡng thương một tháng ở Saigon.
Ngày xưa, thông thường, chồng của cô giáo được gọi là thầy, cũng như vợ của thầy giáo được gọi là cô. Cho dù người chồng hoặc vợ không làm việc trong ngành giáo dục. Nhưng trường hợp cô giáo tôi, cô Đỗ Thị Nghiên, trường Nữ Tiểu Học Quảng Ngãi thì khác. Chồng của cô, thầy Nguyễn Cao Can, là giáo sư dạy trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi. Cô Đỗ Thị Nghiên dạy lớp Bốn, trường Nữ Tiểu Học. Trong mắt nhìn của tôi, của con bé mười tuổi thuở ấy, cô Nghiên là một cô giáo rất đặc biệt. Cô nói giọng bắc, giọng nói trầm bổng, du dương. Tóc cô ngắn, ôm tròn khuôn mặt. Da cô trắng nõn nà. Có lần ngoài giờ học, trên đường phố của thị xã Quảng Ngãi, tôi thấy hai vợ chồng thầy Can, cô Nghiên đèo nhau trên xe gắn máy. Cô mặc jupe, mang kính mát, ngồi một bên, tréo chân, khép nép dựa vai thầy. Ấn tượng để lại trong trí của con bé tiểu học là hình ảnh của đôi vợ chồng sang trọng, thanh lịch, tân thời, cùng mang thiên chức cao cả: dạy dỗ lũ trẻ con nên người.
Tháng Tư này tròn 50 năm biến cố tang thương của miền Nam Việt Nam, những người Việt hải ngoại, đời họ và thế hệ con cháu đã trưởng thành và thành công trên xứ người về mọi mặt học vấn cũng như công ăn việc làm. Họ đang hưởng đời sống ấm no tự do hạnh phúc đúng nghĩa không cần ai phải tuyên truyền nhồi sọ. Nhưng trong lòng họ vẫn còn bao nhiêu kỷ niệm thân thương nơi chốn quê nhà.
Có một buổi trưa, hai đứa đang thưởng thức bò bía, đậu đỏ bánh lọt ở chùa Xá Lợi, góc Bà Huyện Thanh Quan và Ngô Thời Nhiệm (?), thì gặp một "cái bang". Đầu đội khăn rằn, đeo mắt kiếng cận nặng, cổ quấn vài ba chiếc khăn đủ màu và ông còn dẫn theo hai con chó, vừa đi vừa múa tay múa chân như người say rượu. Chừng như ông không cần thấy ai, chung quanh chỉ có ông và hai con chó. Người đàn ông "cái bang" đó là nhà thơ, nhà văn, nhà biên khảo nổi tiếng của Việt Nam: Bùi Giáng. Hai con chó vừa đi vừa sủa vang, khiến một số nữ sinh Gia Long đang đứng quanh xe bò bía, vội vã chạy né qua bên kia đường. T
Một ngày nọ, ngài gặp một bà mẹ, bà ôm một đứa con vừa mất vừa đi vừa khóc lóc thảm thiết, ai cũng mũi lòng thương, thông cảm vì mất con là nỗi đau khổ nhứt trong cuộc đời… người ta mách bảo là bà nên gặp Sa Môn Cồ Đàm, bà sung sướng bế con đã mất đi ngay và gặp phật, xin phật dùng phép thần thông cứu sống con bà. Xung quanh phật, các tì kheo đang ngồi cầu nguyện cho chúng sanh được giải thoát và cũng cầu nguyện cho các chúng sanh còn tại thế sẽ may mắn mà gặp được giáo pháp của Như Lai. Rồi người mẹ đau khổ cũng được gặp phật.
Cuối tháng Ba, những cơn gió nóng tràn về thành phố. Một hai trận mưa lạc loài đến sớm rồi thôi. Không khí ngột ngạt. Mùi đất nồng khó chịu. Như một cô gái uể oải trong cơn bệnh, thành phố trông mệt mỏi, rạc rời. Đoan đi vào Câu lạc bộ của trường. Bình thường, cứ đến thứ Sáu là không khí chuẩn bị cho chiều văn nghệ thứ Bảy lại nhộn nhịp. Nhưng hôm nay, như có một cái gì kéo mọi thứ chùng xuống. Chị Thuận, người phụ trách Câu lạc bộ, mỉm cười khi thấy Đoan, nhưng là một nụ cười kém tươi. Chị vẫn câu chào hỏi thường lệ: “Em uống gì không?” “Dạ, chị cho em nước chanh.” Chị Thuận pha ly nước chanh đặc biệt, nóng, ít đường, mang đến để trước mặt Đoan, và kéo ghế ngồi xuống bên Đoan. Hình như không có gì để bắt chuyện, chị Thuận nhìn ra sân, nói nhỏ:
Tôi khép cánh cửa phòng ngủ, rón rén bước ra, sợ gây tiếng động làm thằng cháu nội lại giật mình thức giấc; thằng bé đã mười tháng tuổi, biết làm đủ thứ trò như con khỉ con, chiếc mũi bé xíu của nó chun lại, đôi môi dầy cong lên, mỗi khi bà nội bảo nó làm xấu, thật dễ thương, canh nó hơi mệt vì phải chơi cho nó đừng chán, lèo nhèo, nhưng chơi nhiều thì sức bà nội có hạn, làm sao chạy theo nó cả ngày được!
Những cái mặt hướng về phía trước. Những cái đầu hơi cúi, những cái lưng hơi còng có lẽ bởi sức nặng của chiếc ba lô đeo sau lưng, hay tại - nói một cách màu mè, văn vẻ, đầy giả dối là - gánh nặng của đời sống. Trước mặt tối đen. Bên phải là những cánh cửa cuộn bằng tôn đóng kín. Những cánh cửa lạnh lùng, vô cảm; lầm lì từ khước, âm thầm xua đuổi. Dưới chân là nền xi măng. Cứng và lạnh. Không thể là nơi tạm dừng chân, nghỉ mệt. Sâu vào phía sát vách là nền lót những viên gạch vuông. Không một cọng rác. Không một bóng chó hoang, mèo lạc. Không cả những hình hài vô gia cư bó gối vẩn vơ nhìn nhân gian qua lại.
Đức hạnh cao quý thể hiện thành tâm vô phân biệt. Tâm vô phân biệt tạo thành một sự bình đẳng tuyệt đối trong giáo pháp của đức phật. Giáo pháp thâm sâu vi diệu của Như Lai thì không phải ai cũng hiểu hết, cũng ngộ được điều đó đa phần các vị đại trí thấu đạt. Còn lòng từ bi của phật thì lan tỏa vô phân biệt như ánh sáng mặt trời soi sáng khắp nơi nơi, như mưa rơi tắm mát đại ngàn. Những lời giảng dậy trên đây được dẫn chứng nhiều và rõ nhứt là ở phật giáo Tây Tạng.
Anh Hai của tôi, sau chuyến vượt biên thất bại, bị giam ở nhà tù Bình Đại Bến Tre chín tháng, khi trở lại trường Phan Thanh Giản, Cần Thơ mới biết đã bị cắt hộ khẩu, mất việc làm, bèn quay về Sài Gòn sống tạm với gia đình, chờ cơ hội vượt biên tiếp theo. Một hôm, anh bị cơn sốt rét tái phát hành hạ, (hậu quả của những ngày trong trại giam), cần phải đến bệnh viện chữa trị, nhưng hộ khẩu không có, anh bèn mượn cái Sổ Sức Khỏe của thằng cháu (con bà chị họ ở kế bên nhà), để đi khám bệnh
Năm đó, tôi qua Arlington,Texas thăm gia đình, rồi ghé Dallas thăm người hàng xóm cũ thân thiết từ khi còn ở Việt Nam . Chú Thím ấy đónvợ chồng tôi nồng hậu như mọi khi, bữa ăn đặc sản món Huế như tôi yêu cầu, sau đó kéo nhau ra phòng khách ăn bánh uống trà . Rồi Thím gọi cháu ngoại: - Thiên Ân ơi, ra đây ca hát cho hai bác Canada nghe đi con.-Cô bé hai, ba tuổi tung tăng ngoan ngoãn khoanh tay chào chúng tôi, rồi bạo dạn chạy ra giữa phòng, tay giả bộ cầm micro phone, rồi nhún nhảy tự nhiên hát một bài hát Tiếng Việt thật rõ ràng .
Ngày xưa rất xa xưa, ở vùng quê thôn dã, người dân sống giản dị, đơn sơ, mộc mạc; người ta trồng tỉa những vườn rau cải, vườn ngô, vườn cà… lấy hoa lợi để sống. Thường thường có chim chóc kiếm ăn đến phá phách, dãi dãi, mổ mổ những hạt mới ươm trồng hay những nụ hoa mới ra, chúng ăn, với con người trồng tỉa lấy hoa lợi là chúng nghịch ngợm và phá hoại, ăn khín. Mới đầu chúng đến một vài con, sau rủ nhau đến nhiều hơn, cả nhà cả đàn chim chóc… và người gia chủ trồng tỉa phải tìm cách bảo vệ hoa màu của họ, nguồn sống của họ.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.