Hôm nay,  

Em Ở Nơi Nào…

05/10/202412:58:00(Xem: 3861)
minhhoa01
Minh họa Đinh Trường Chinh

 

Chừng năm sáu người làm chung nơi góc xưởng, cái góc khuất đến có người vừa làm việc vừa hút thuốc trong xưởng cũng chẳng phải sợ bị đuổi việc dù có yêu cầu từ ông chủ xưởng do sợ cháy, ông yêu cầu mọi người ra ngoài hút thuốc chứ đùng hút trong xưởng, nhưng ông bắt được quả tang người vừa chạy máy vừa hút thuốc trong xưởng thì ông yêu cầu người đó ra ngoài hút hết điếu thuốc rồi trở vô làm, ông chẳng đuổi việc ai nên cũng không ai sợ thì tôi sợ một người không hút thuốc có tấm lòng vị tha.

Người coi như đại diện của nhóm công nhân hạng hai nơi góc khuất cũng dễ tính với chính mình làm gương cho anh em, anh ta bày cơm ra ăn tại chỗ làm theo lệnh cái bao tử, cóc thèm lên phòng ăn của xưởng vì cạnh phòng làm việc của ông chủ mà ăn cơm trái giờ cũng lành ít dữ nhiều…

Cái xưởng cấp gia đình nhỏ nhoi, cũ kỹ nhưng đã truyền lại được ba đời. Trên văn phòng ông chủ có treo hình ông nội của ông là ông chủ sáng lập ra xưởng, đến hình cha ông là người thừa kế, đến ông là đời thứ ba tiếp tục điều hành cái xưởng thấp lè tè từ thời Đệ nhị thế chiến nhưng làm ra những cái xẻng đào giao thông hào, hố cá nhân cho quân đội Mỹ là niềm tự hào của một gia đình cha truyền con nối. Cái xưởng giờ đã cũ đến có rắn trên trần nhà chứ chuột đã có quốc tịch từ lâu, những con chuột bản địa, bản xứ già lụ khụ tới đi không nổi, một lần té xuống sàn nhà từ những lỗ thủng trên trần nhà là coi như vĩnh biệt vì không còn sức lực để trở lại giang sơn, quê quán trên ấy…

Một ngày như mọi ngày, tiếng máy giập kim loại cứ đều đặn chạy, cho ra những sản phẩm kim loại nhỏ nhỏ, xinh xinh cho người ta lắp ráp nhiều vật dụng trên đời từ máy móc tới đồ gia dụng. Nhưng đừng thấy xưởng nhỏ, cũ kỹ tồi tàn mà xem thường, nơi đây từng làm ra cái lò xo cho điện thoại Nokia thời còn hai nửa gấp lại, mở ra. Rất khó tin là xưởng được hợp đồng với hãng máy bay Boeing, dù chỉ làm ra tấm lưng bằng kim loại cho cái microway trên máy bay, một tấm kim loại mỏng phía sau cái microway nhưng xài trên máy bay nên không được nhiễu sóng điện từ, nên mắc tiền bằng nguyên cái microway mới ra đời, bán ngoài chợ đồ điện gia dụng khi cái microway còn chưa có đĩa xoay…

Mới đầu nơi đây còn mang hơi hướm Mỹ là Hợp chủng quốc nên có Mỹ đen, Mễ, Việt nam và người Nam Mỹ. Nhưng theo thời gian, những người quốc tịch khác Việt nam bỏ việc đi hãng khác, người xin được qua làm việc khác trong xưởng cho sạch sẽ hơn, nơi làm việc sáng sủa hơn được phần nào, không có chuột rơi, rắn lưọn trên trần nhà phát ớn... Nhìn đi nhìn lại còn toàn Việt nam là ba người cũ và ba người mới vào làm. Tới đây là đủ dân ca ba miền của quê ta vì bắc trung nam có hết. Ông bắc di cư thường não nề khi nghe ông than “giời ơi” và “ối giời ơi…” thì ai cũng ối não với giọng bi thương tới nổi da gà, “Ối…giời… ơ…i…, sao khổ thân tôi thế này!” Khổ hơn việc ông phải làm là giọng khổ đã ám vào thân ông từ lọt lòng mẹ hay sao mà nghe khổ tận cùng khổ. Thở dài thì ai chả từng thở dài khi bó tay, nhưng không ai thở dài não nùng và đẫm lệ như ông, nghe ông thở dài thì dế cũng khóc, cào cào châu chấu bay lượn chia buồn với chỗ làm của ông trống hoác ra một lỗ vách to tướng do xe xúc ủi xập mà không ai vá lại lỗ thủng cho ông nên gió bấc về, lạnh hơn Hà nội quê ông nhiều. Ông chỉ được mỗi việc giỏi hơn làm là khi nghe rủ nhậu là ông quên hết sự đời, hết ối giời ơi để hào hứng tham gia với hết lòng nhiệt tình. “Ối giời lạnh…” nghe bi ai sầu thảm thì “ối giời ngon, mồi ngon…” nghe muốn bỏ ăn lạt, bỏ theo Phật năm phút để suýt soa theo ông đưa cay miếng phèo heo chấm nước mắm mặn giằm ớt trái, lại kèm miếng dưa chua đưa cay rượu lạt thì ối giời ơi… trên cả tuyệt vời.

Mấy người nam bộ, dân miền tây làm chơi ăn thật đã quen nên tỉnh bơ thế sự nhân tình. Chủ nói ngày mai làm sớm vì cần hàng nhưng tối lỡ nhậu thì hôm sau đi làm trễ hơn bình thường, người không tỉnh nồi thì nghỉ ở nhà luôn cũng không sao vì ông chủ là dân nhậu thứ thiệt nên rất sẵn lòng thông cảm, đích thân ông dậy sớm đến xưởng để khích lệ tinh thần anh em, và ông sẽ đứng máy thay cho người chưa tỉnh rượu bia nên không đi làm. Ông làm cho tôi có cảm tình với người Mỹ, nước Mỹ rất nhiều khi tôi mới qua Mỹ. Tôi chưa hề quên hình ảnh hai anh em ông là Mỹ trắng, là chủ xưởng mà ôm chặt ba thế hệ nhà ông Mỹ đen vừa qua đời. Họ khóc thương ông Mỹ đen như người thân ruột thịt khi tang lễ, anh em ông chủ vô cùng thương tiếc ông Mỹ đen đã làm việc ở xưởng nhà ông từ thời cha ông còn sống…

Tôi có cảm giác mọi người trong xưởng rất thương mến anh em ông chủ hơn sợ chủ đuổi việc, và anh em ông chủ cũng thương mến mọi người như anh em chứ không chủ thợ rạch ròi. Việc đến phải đến, ông chủ mướn người vô chạy máy sỏi đá mà tiếng Anh gọi là “deburr machine” thay cho ông Mỹ đen đã qua đời. Ông này dị tướng nên anh em chờ xem tài của ông vì ông bà mình nói những người dị tướng thường có tài. Nhưng một tuần trôi qua, chỉ có tuần tới tiếp tục chứ không có gì lạ về ông trọ trẹ. Ai cũng biết ông người miền trung nhưng ai hỏi ông là người tỉnh nào ngoài trung thì ông gắt gỏng chứ không trả lời. Ông lên lớp giảng giải cho người miền bắc, người trong nam hiểu ra chính sách chia để trị của thực dân Pháp chứ đất nước Việt nam liền một dải, người dân từ bắc vô nam nói chung một ngôn ngữ là tiếng Việt từ đời cha ông để lại giang sơn gấm vóc nước Việt cho con cháu. Sao người Việt lại nô lệ tự nguyện cho Pháp, đi phân biệt bắc trung nam để chia rẽ chính dân tộc mình…



Tôi nghe mà nể trọng ông là người hiểu biết dù hơi khó nghe giọng ngoài trung của ông, tôi không hiểu vì sao ông cáu gắt khi có người hỏi ông là người tỉnh nào ngoài trung; nếu là người Quảng thì Quảng gì, có gì đâu mà ông cáu gắt với những người trong nam đặt câu hỏi. Ông dường như chỉ chừa mặt ông bắc kỳ là không cáu gắt vì ông cũng nổi da gà khi nghe “ối giời ơi” và tiếng thở dài sâu thẳm hơn hồ Gươm, hồ Hoàn kiếm…

Cuối cùng, chính là lão rùa vàng hồ Gươm phát hiện ra tài của dị tướng miền trung là hay hát, hát suốt trong lúc làm việc, hát cả ngày... Lão rùa hỏi tôi có nghe rõ chữ “ở” trong câu hát đi hát lại của lão dị suốt ngày? Tôi lắng tai nghe cho kỹ phát âm từ “ở” trong câu, “em ở nơi nào… có còn mùa xuân không em…” Tôi càng lắng nghe cho kỹ trong tiếng máy giập kim loại chạy ình ịch suốt ngày… tôi càng thấy bốc mùi vì chữ “ở” nghe mùi lắm, không phải mùi mẫn mà mùi hương… cho tới hôm hoàn toàn không cố ý, chỉ là ngẫu hứng với âm nhạc khi ông dị cất tiếng hát quen thuộc và tai nghe chưa hề có vấn đề của tôi thì chính xác là, “em ỉa nơi nào…” Tôi ngẫu hứng xuống xề… “có còn mùi hương không em?”

Mọi người cười tới ngưng làm vì ai cũng ôm bụng cười thì sao làm việc được, vừa lúc ông chủ xách chai rượu đỏ ngon xuống xưởng với một cọc chung nhựa nhỏ, ông rót cho mỗi người một chung thưởng thức rượu ngon ngay trong lúc làm việc là phong cách của ông chủ xưởng nhà. Ông chủ không hiểu chuyện gì mà đám Việt nam cười nghiêng ngả, ông lờ mờ hiểu chuyện không lành khi thấy ông dị cũng ngưng làm, mặt đỏ lên phừng phừng như uống rượu mạnh chứ không phải rượu đỏ, ông dị làm cho tôi một trận tới nơi tới chốn, nào là “chém cha không bằng nhái giọng”. Rồi chuyển qua chụp mũ liếm giày thực dân, bợ đít đế quốc… ông mạt sát tôi tối tăm mặt mũi. Tôi uống chung rượu đỏ của ông chủ cho để bình tĩnh lại khi còn trẻ, dễ bất chấp phải trái mà xử luôn, xử liền, xử đẹp khi bị lăng nhục… Cuối cùng tôi xin lỗi ông tôi đã sai khi nhái giọng là việc không nên làm. Ông không tha thứ cho tôi mới khó xử khi chỉ còn cách ra sân, ra bãi đậu xe để phân phải trái. Đến ông rùa hồ Gươm nổi nóng, “đếch nói phải trái, không xin lỗi xin phải gì nữa, có dám thì ra parking nói chuyện phải trái…” Nhưng tôi vẫn kiên trì xin lỗi những ngày sau đó dù không được tha thứ, bỏ qua…

Cho đến vụ khủng bố 11 tháng 9 năm 2001. Kinh tế suy thoái sau đó, xưởng nhà cô quạnh đơn đặt hàng tới ông chủ tuyên bố đóng cửa xưởng vẫn chăm lo cho công nhân tới hết khả năng của anh em ông, làm nhiều người rơi lệ. Ông chủ gọi tôi lên văn phòng ông và nói chuyện ngoài ý muốn của tôi với ông. Ông viết cho tôi lá thơ giới thiệu đi bất cứ nơi đâu tôi xin việc làm, ông bảo đảm với nơi nhận tôi vô làm việc bằng lời giới thiệu tôi là người công nhân làm việc giỏi, siêng năng và chăm chỉ. Xin gọi cho ông khi muốn nhận tôi vô làm việc ở hãng xưởng nào đó mà tôi xin việc để biết rõ hơn về tôi. Xin hãy giúp ông nhận tôi vô làm việc, ông vô vùng biết ơn.... Và ông sẽ nhận lại tôi là người đầu tiên khi xưởng ông có lại việc làm… thì bố ai ngu dại khờ nhận tôi vô hãng họ như nuôi ong tay áo. Nhưng tấm lòng ông chủ xưởng tôi là điều tôi không quên về nước Mỹ và người Mỹ đích thực.

Tôi về ăn tiền thất nghiệp trong vận rủi có may đến liền, ông bạn lôi tôi đi làm nhà hàng thành ra có hai đầu lương, muốn nghèo cũng khó nhưng bất an với chuyện ông dị vì mình đã có lỗi nhưng không được tha thứ, bỏ qua. Tôi mang án treo không có ngày mãn án cho tới hôm nay, đã là ngày ông rùa hồ Gươm gọi cho tôi báo tin ông dị đã qua đời, có thể thì đi dự tang lễ ông ấy là lời xin lỗi cuối cùng, không bỏ qua thì làm gì nhau khi ông cất tiếng hát, “em ở nơi nào…” thì mọi người cùng vô điệp khúc, “có còn mùi hương không em…” Tôi chỉ có lỗi đã nghĩ ra điệp khúc ấy! Người bắc gốc gác của tôi mà tôi mới hiểu ra một đặc tính của người bắc là ông rùa…

Gặp nhau không ngờ ở nhà quàn vì ông rùa đã lên cụ. Ông dị vẫn đăm đăm nhìn tôi dù chỉ còn là di ảnh. Vợ ông đặc biệt quan hoài đến tôi với ông cụ rùa khi biết ra là bạn làm chung với ông dị đã mấy chục năm không gặp nhưng hay tin qua báo đài địa phương vẫn đi viếng tang lễ ông dị với hết tình xưa nghĩa cũ… Bà quả phụ mới toanh dành thời gian cho tôi với ông cụ rùa hơi nhiều khi tâm sự với chúng tôi về ông dị. Cha ông là người Quảng trị miền xuôi, nhưng là người buôn muối lên mạn núi và buôn thổ sản rừng về xuôi bán lại. Ông nội tụi nhỏ phải lòng và cưới làm vợ một cô sơn cước người dân tộc, sinh ra ông dị đi ngược lên núi là quê ngoại mà về xuôi với biển là quê nội. Tới chiến tranh ngày càng khốc liệt thì cha ông đưa gia đình về Đà nẵng để sinh sống, tốt hơn cho việc kinh doanh của ông nội đám nhỏ ở Quảng trị quê ông từ biển lên núi Trường sơn. Thế là ông dị nhập nhằng tiếng Quảng trị miền xuôi miền núi, tiếng Quảng nam ở Đà nẵng khi ông khôn lớn…

Điều tôi không bị trầy da mà đau như đổ ruột khi nghe vợ ông dị kể, ông đi lính Việt nam Cộng hoà chứ không theo Việt cộng. Đóng quân nhiều nơi thì có nơi ông có người yêu, và khi trở lại thăm thì người yêu ông đã chết trong bom đạn chiến tranh… nên ông tuy sau đó lập gia đình với bà nhưng thành thật tỏ lòng nên bà thông cảm ông hay hát chỉ một câu… “Em ở nơi nào… có còn mùa xuân không em…!”

Tôi nghe bà kể, nước mắt tôi trào ra không cầm lại được, là lời xin lỗi chân thành với vong linh ông dị. Xin ông tha thứ cho tôi…


Phan

Ý kiến bạn đọc
22/10/202410:36:07
Khách
Chuyện kể rất thật, rất có hậu về tình người rất hiếm có trong nhân gian! Lời văn mộc mạc, khúc chiết, dí dỏm... Rất mong tác giả viết thêm nữa...
06/10/202417:47:33
Khách
Hay, tức cười

Hay! Vừa vui, vừa ngậm ngùi, khi đọc bài này. Cám ơn tác giả.
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Sáng nay như những buổi sáng khác, cô gái theo thói quen đi dạo dọc bờ biển, vừa để hít thở không khí trong lành của buổi sớm mai, vừa để tập thể dục. Trên bãi biển lác đác vài người chạy bộ, hoặc đi xe đạp. Quang cảnh bình yên, gió thổi nhè nhẹ, từng con sóng bạc đầu xô vào bờ êm đềm như hát rồi nhẹ nhàng xoá đi những vết chân in hằn trên cát trả về cho cát sự phẳng lì và mịn màng vốn có. Nơi xa xa mặt trời đỏ rực đang nhô lên từ dưới biển, mặt biển và bầu trời được nhuộm một màu đỏ cam đẹp đẽ xen kẽ những đám mây và sắc xanh của nền trời buổi sớm mai tạo thành một bức tranh vô cùng hoàn mỹ. Cô gái bỗng dừng chân, tầm mắt nhìn về hướng cách cô không xa, một người đàn ông cao lớn đang nắm tay một bé gái nhỏ xinh đi ngược về phía cô, bé gái kéo cha đuổi theo con sóng rồi vội vã chạy lên bờ như sợ sóng đuổi kịp, cả hai đều cười đùa vui vẻ. Nhìn cảnh thân thương ấy tự nhiên con bất chợt muốn khóc, có thứ gì dâng nghẹn trong cổ. Có một nỗi nhớ như máu thịt trong con,
Hồi tôi đi lính, sau 9 tuần làm tân binh ở trung tâm huấn luyện Quang Trung, tôi được chuyển lên Đà Lạt. Đà Lạt với tôi chỉ là trong mơ, trong mộng, trong trí tưởng. Tôi không nhớ những năm tháng ấy (1968), tân nhạc Việt Nam đã có những bản nhạc ca tụng Đà Lạt chưa? Như "Ai Lên Xứ Hoa Đào, Đà Lạt Hoàng Hôn, Thương Về Miền Đất Lạnh?"
Chiến tranh qua rồi, nạn phá rừng vẫn tồn tại. Một người bạn tôi được giao một đại đội đào binh làm nhiệm vụ vỡ hoang hai cánh rừng gỗ tếch để trồng sắn. Thu hoạch xong vụ đầu tiên, anh toát mồ hôi: công lao của bấy nhiêu con người cả năm trời chỉ đủ mua ba cây tếch, nhiều nhất là ba cây rưỡi. Tôi hỏi anh đã báo cáo lên cấp trên cách anh tính toán chưa, anh nói anh không dám. Người ta đã báo cáo thành tích khai hoang rồi, nói thế có mà chết. Những cái đầu đất phá rừng để lấy thành tích khai hoang chưa kịp chết thì lũ con buôn đã thế chỗ. Chúng nhân danh phát triển kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu gỗ, đốn bất cứ cây nào bán được.
Hồng Linh đã về tới quê hương trong chuyến đi hoàn toàn bất ngờ. Một chương trình trao đổi kỹ thuật đặc biệt về tin học với các nước Châu Á, khi cô đang ở trong lãnh vực này. Chặng đầu tiên sẽ dừng ở miền Bắc, Việt Nam trong hai tuần lễ. Hai tuần lễ ở Hà Nội, ngoài những buổi hội thảo, Linh lang thang tìm thăm những địa danh mà mẹ cô thường nhắc. Hà Nội là nơi mẹ cô chào đời, nhưng khi mẹ mới mười tuổi thì ông bà ngoại đã phải dắt mẹ, cùng các cậu, các dì của cô vào miền Nam để lánh nạn Cộng Sản. Mới mười tuổi thôi, nhưng mẹ cô đã nhớ nhung, đã ôm ấp, đã cưu mang gìn giữ biết bao nhiêu là hình ảnh, là kỷ niệm thân thương về quê ngoại, với làng Đồng Du thuộc tỉnh Hà Nam và quê nội, với thôn Phương Viên, huyện Đan Phượng thuộc tỉnh Hà Đông.
Vừa ngồi được phút chốc thì thấy một thiếu phụ lên xe, nhìn cái bụng lum lum có bầu biết là chị ta khó nhọc lắm. Nó uể oải đứng dậy nhường chỗ cho chị ta, mặc dù nó đã đứng suốt ngày trong xưởng, hai chân mỏi muốn rũ ra. Xe buýt đầy nhóc, mọi người chen chân đứng như thế mà chị còn mang cái bầu nữa thì mệt phải biết. Nghĩ mình nhường ghế cho chị cũng là một hành vi đẹp nên dù có mệt nó vẫn thấy vui vui và thoải mái trong lòng.
Không ai (kể cả các nhà khoa học, các giáo sư Bác sĩ giỏi) có thể tiên đoán chính xác khi nào đại dịch chấm dứt? Bao giờ thì có thuốc chủng ngừa? Cũng chẳng dám kỳ vọng mọi thứ sẽ quay về như cũ, trước khi có đại dịch. Nhưng hy vọng những điều căn bản tồn tại nhiều trăm năm như bắt tay nhau, như vỗ vai nhau... sẽ trở lại sau đại dịch như "sau cơn mưa trời lại sáng". Hơn lúc nào hết, người ta cần có hy vọng để sống, để thêm nghị lực cùng nhau vượt qua đại dịch, và phân cách.
Rừng núi xanh mướt, không khí trong lành và hơi se se lạnh thấm vào từng chân lông kẽ tóc, len lỏi vào từng tế bào. Cái cảm giác khoan khoái thật dễ chịu, làm cho hai huynh đệ thọ nhận được sự bình an trong phút giây hiện tại. Cây cỏ xung quanh như tỏa ra một năng lượng tươi mát tràn đầy sức sống. Bất chợt sư huynh hỏi khẽ: - Dường như có đôi mắt nào đó đang theo dõi chúng ta? Cả hai dừng bước, nhìn quanh một tí thì phát hiện ra đằng sau bụi rậm có mẹ con nhà nai đang tròn xoe mắt nhìn, tai vểnh bắt sóng động của âm thanh, chúng có thể nghe được những âm thanh nhỏ nhất mà tai người không nghe được. Mẹ con nhà nai đang cảnh giác cao độ, toàn thân mượt mà vàng sậm điểm xuyết những đốm hoa màu trắng.
Chiều nay khi những giọt nắng đang lao xao ngoài song cửa, những tán cây thầm thì trong gió chuyện nhân gian, anh bỗng nhẹ nhàng nhớ đến em, người con gái "vội cất bước quên dấu yêu ngọt ngào" ngày ấy. Anh trầm mình trong ký ức về “từng góc phố bâng khuâng dịu êm”. Anh tình cờ biết được một bản tình ca mà tác giả của nó cảm giác rằng nó bị thất lạc khá lâu rồi như chuyện chúng mình vậy đó em: "Lời hát ấy hôm nao miên man, ru em một thời Từng ánh mắt bao dung đam mê, cho em ngọt bùi"
Sau công phu sáng, bước ra nhà bếp xé tờ lịch thì hiện ra hôm nay là ngày 6 tháng 6 năm 2020. Ngày 6 tháng 6, bỗng như que diêm nào bất ngờ bật lên trong ký ức tôi đã từ lâu lắng xuống. Tại sao hôm nay lại bật lên? Biết rằng băn khoăn cũng chẳng có câu trả lời, như mưa mới rạt rào đây mà giờ nắng đã lên rực rỡ. Muôn sự còn muôn thẳm sâu mà sự phán đoán ước lệ của suy tưởng vật lý chưa chạm tới được sự mầu nhiệm của tâm linh. Đủ duyên thì lộ, chưa đủ duyên thì ẩn. Chấp nhận vậy thôi. Ngày 6 tháng 6 năm 1944. Ngày có tên lịch sử là D-Day.
Sau hơn một tháng, các chuyên viên Public Health làm việc không ngưng nghỉ, CDC công bố 60 trang guidelines hướng dẫn chi tiết cho "đời sống cùng với COVID-19" ở các trường học, các trung tâm giữ trẻ, các nhà hàng, và các cơ sở thương mại từ lớn đến nhỏ.... Mới nhìn thoáng qua thì dễ bị...."ngộp" vì quá nhiều yêu cầu, nhưng chi tiết không có nghĩa là không thể thực hiện. Cho đến lúc nào có vaccine chủng ngừa, không còn lựa chọn nào khác. Lâu dần đời cũng quen. Một cách lạc quan, khả năng thích ứng với lối sống mới của mỗi người, thêm một lần nữa, được thử thách.
Một buổi chiều im vắng bên dòng sông Cái Lớn. Theo hướng gió mơn man trên rừng dừa nước, Tím đẩy mái chèo một cách khoan thai, nhẹ nhàng. Chiếc xuồng nhỏ rẻ nước, lặng lờ trôi ngang đồn Nghĩa Quân. Tiếng đàn và tiếng hát nghe văng vẳng xa xa. Khi xuồng đến gần, Tím thấy một người lính đang ôm “cây đàn số 8” – do trẻ em trong làng đặt tên; vì không đứa nào biết cây đàn này tên là Guitar mà chỉ thấy thùng đàn giống như số 8 – ngồi trên hầm chống pháo kích.
Xe đò vừa vào Phan Rang thì kỷ niệm cũng vừa tràn về thốc tháo trong lòng bà, như làn gió nóng của miền Trung nắng cháy đang lùa vào các khung cửa xe một cách hăm hở. Bà gỡ đôi kính mát xuống để nhìn hai bên đường cho rõ hơn. Phan Rang. Con đường Thống Nhất. Bốn mươi năm. Nhưng bà ngạc nhiên vì thấy mình không đến nỗi lạc lõng sau những năm tháng dài như thế. So với nhiều thành phố khác, Phan Rang dường như không thay đổi gì mấy. Rõ ràng là con đường cũng như mấy thập kỷ qua, không được mở rộng ra chút nào. Từng hàng cây cổ thụ dễ đến trăm năm vẫn còn lác đác chạy dài theo hè phố. Nhà cửa có lô nhô nhiều căn cao hơn trước, nhưng chưa đủ để thành phố có một khuôn mặt khác lạ đối với người lữ khách lâu ngày vừa trở lại.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.