Hôm nay,  

Đó Là Tết…

31/01/202500:00:00(Xem: 3915)
Capture
Ảnh: Xuân vui. Photo: Tanya Trương
 
Không nhớ từ bao giờ đã không còn ngồi xuống bàn trà, tay bốc miếng mứt hạt sen bỏ vô miệng, vị ngọt tươm ra không quá gắt như ăn miếng mứt bí, vị ngọt nhẹ, thanh, kích thích vị giác bởi hương sen quyện ngọt điệu đà, tới khi nhai cái hạt sen đã ấm ấm trong miệng nên không còn cứng cũng không quá mềm như khoai lang luộc. Độ dẻo của hạt sen khi đã sên mứt rất mê hoặc và cũng đâu có gì vội để nuốt đi cho mau, cứ ngậm mà nghe hương vị đất trời tinh khiết của hương sen xông lên khoang mũi làm cho người thưởng thức lâng lâng cảm giác xuân đã về. Có thể nói món gì có hạt sen góp mặt cũng ngon như món vịt tiềm có nhân bên trong là thịt bằm, nấm mèo, táo tàu, gia vị nhiều thứ, nhưng những hạt sen luôn khêu gợi những đôi đũa gắp vì hấp dẫn và ngon lạ miệng. Nhưng đã nhiều năm không ăn mứt hạt sen sao vẫn nhớ khá rõ hương vị độc đáo của hạt sen trong món ngọt ăn chơi ngày tết, hay món mặn ăn tiệc đều ngon. Đến món nhậu trên đường phiêu bạt như cái lẩu dê cũng không thể thiếu củ sen, phải chăng mùi vị toàn thân của sen luôn kích thích người thưởng thức từ hoa lá sen đến hạt sen, củ sen, ngó sen cũng ngon thơm hơn bất cứ loài rau củ nào đem trộn gỏi nên người ta không nói gỏi tôm, mực trộn ngó sen mà nói gỏi ngó sen trộn tôm hay mực.  Xét theo ngôn ngữ Việt, nguyên liệu chính trong một món ăn được nói trước nên với món gỏi thì ngó sen là chính, các loại hải sản hay thịt trộn gỏi được nói sau, cho thấy ngó sen là chính, là linh hồn, trung tâm của món gỏi. Trong thực đơn ở nhà hàng Việt, người ta ghi ra cho thực khách chọn lựa là canh chua cá lăng, canh chua cá lóc chứ không ghi là cá lăng nấu canh chua hay cá lóc nấu canh chua để nhấn mạnh đặc trưng của món canh này là chua, nấu với cá lăng hay cá lóc đều là món phụ theo cho thực khách thích ăn loại cá nào.
  
Và đến khi thời gian không ăn hạt sen đã nhiều năm, khoảng cách địa lý đã xa mù, thời gian xa quê đã mốc meo mới chợt nhận ra thêm vị độc đáo của hạt sen là người Việt thì ai không thuộc bài ca dao, “Trong đầm gì đẹp bằng sen/ lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng/ nhụy vàng bông trắng lá xanh/ gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.” Nên tượng Phật thường toạ trên đài sen, hoa sen cúng Phật, ao sen trong sân chùa… đi quanh xóm làng dễ thấy hoa sen bởi sự gần gũi trong đời sống, có gía trị tâm linh nên tâm lý con người chưa ăn đã thấy ngon về sen. Bỏ thức gì vào miệng cũng cần thời gian để thẩm thấu độ ngon của thức ấy, nhưng chưa bỏ hạt sen vào miệng đã thấy ngon. Cái ngon tâm lý của người ăn làm cho vị trí của sen trong ẩm thực tăng lên phần nào.
  
Thôi thì lầm lũi một phương trời, ăn tết với hương xưa còn nhớ cho đỡ quạnh hiu cũng chẳng sao, coi như vừa hưởng hương vị đất trời qua miếng mứt hạt sen. Bây giờ uống ngụm trà móc câu không quá nóng cũng không nguội, trà mộc Thái nguyên như sự trở về sau khi ra đời những loại trà ướp đủ thứ hương hoa, người thưởng thức trở về nguyên bản là trà mộc, không pha tẩm gì hết mới thấm thía linh hồn với hương trà đặc sản vùng miền, phong thổ Thái nguyên là để trồng trà cho người biết thưởng thức, nuốt ngụm trà nghe ấm lòng cuối năm, đầu năm. Ba trăm sáu mươi lăm ngày qua với biết bao mưa nắng nhọc nhằn, buồn vui lẫn lộn. Tất cả một năm qua chỉ còn hương thơm trà mộc trên nóc họng, vị ngọt dư hậu của vị đắng trà lưu luyến nơi cổ họng là vị ngọt không giống bất cứ vị ngọt nào trên đời bởi vị ngọt dư hậu của trà ngon là vị ngọt không có chất đường. Đó là tết. Cái tết đã ở lại quê nhà từ khi bước chân đi.
  
Ở đây có trà móc câu Thái nguyên, có mứt hạt sen Đồng tháp, có thời gian để thưởng thức, có tiền mua hương vị quê nhà, có hết… chỉ không có tết ở trong lòng nên tết hải ngoại mâm cao cỗ đầy, danh trà hảo hạng đến đâu cũng không có tết vì thiếu cái không khí sáng mùng một thường se lạnh, ngoài đường vắng ngắt vắng tanh. Trời sương nhiều hay ít tùy năm nhưng năm nào sáng mùng một tết cũng sương giăng giăng ngoài ngõ, không khí vương vương mùi thuốc pháo đêm qua chưa tan hết vì hầu như đêm giao thừa nào cũng lặng gió, trời về sáng lại sương mù nên khói pháo chậm bay. Trong ngôi nhà ở quanh năm suốt tháng đi về không thấy gì lạ ngoài con lớn vợ già hơn năm trước thì hễ tết là nó lạ trong sáng mùng một tết với ly trà mộc, cắn cái hạt sen trong hộp mứt. Nhìn bàn thờ gia tiên thơm thoảng khói hương, nhành mai không khoe sắc đua hương với những bình hoa, chậu hoa du nhập đắt đỏ, nhưng năm nào hoa mai cũng vô chung kết hoa hậu hoa tết trong căn nhà nhỏ của người chân quê. Hoa đào len lỏi vào Sài gòn như cô gái bắc lạc loài, da trắng má hồng cũng hay hay đấy nhưng chỉ để nhìn cho vui mắt tết chứ tình anh chân quê đã thuộc về hoa mai với má xấp nhỏ. Đó là tết. Cái tết đã ở lại quê nhà từ khi bước chân đi.
 
  
Nhớ những cái tết khi mới đến Mỹ, được bạn bè còn trong nước gởi qua cho cuốn lịch treo tường, gói bông mai giả bằng nhựa thật vô giá vì mùi mực mới của lốc lịch, hình ảnh bông mai vàng; cả hai cùng kém phẩm chất từ in ấn trong nước thời đó đến kỹ nghệ làm đồ nhựa cũng chưa tinh xảo, nhưng trên hết vẫn là tình thân, tình bạn trong nước làm cho cảm giác lá xa cành chưa đến nỗi bị dòng đời cuốn trôi. Chút tâm tư cuối năm lắng đọng lòng biết ơn những người còn nhớ đến người trốn chạy. Thế là mặc thêm áo lạnh, lái xe đi Home Depot mua bao xi măng trộn sẵn. Trên đường về lại nhà thiếu gì cành nhánh trụi lá hai bên đường, cứ ghé lại là chặt được một nhánh cây khô giống cây mai, nhành mai, nhánh mai. Về nhà loay hoay với vợ con tới chiều cùng nhau ghim hoa lên cành, dính keo và nhìn ngắm sao cho giống thật. Cuối cùng cho vào cái xô nhựa, đổ xi măng. Hôm sau đi làm về lại tiếp tục dán giấy bóng kiếng hình bông hoa tết lên cái xô nhựa đã thành chậu là nhà có gốc mai ăn tết. Gốc mai giả vô tri vô giác nhưng chứa đựng biết bao ân tình của người thân, bạn bè còn trong nước gởi ra ngần ấy đã bay hết tháng lương của bạn còn đi dạy học. Hai vợ chồng “mất dạy” rồi mới hiểu thế nào là nỗi nhớ quê xa trong những ngày giáp tết, lòng hoài hương là gì, tình bạn không xa mặt cách lòng là gì trong cõi lẻ loi xứ người. Đó là tết. Những cái tết xa xứ đã thành cổ tích.
   
Tết trong lòng đã già, tim chai sạn thương tích đã thành thương tật, vết thương nào cũng có phần lỗi của người thọ thương để bình tâm sống đời còn lại. Sáng nay tuyết rơi đẹp tuyệt ngoài khung cửa, những bông tuyết đầu mùa ở xứ nóng đương nhiên muộn hơn trên miền bắc nhưng tuyết miền nam cũng giống tuyết miền bắc là êm đềm rơi xuống nhân gian những bông tuyết tinh khiết đến nao lòng nhìn lại, nhớ đến những bông tuyết  êm đềm như cuộc sống quen thân, những bông tuyết cuồng nộ trong những cơn bão tuyết cuộc đời, những bông tuyết vay mượn từ trong tiểu thuyết cho đời bớt khô khan, gấp quyển truyện lại chỉ còn ta với tuyết đang rơi ngoài khung cửa. Trong những trang sách về triết lý nhân sinh có trang nói, “thật ra về già người ta chẳng cần người bạn nào hết…” đọc có vẻ phũ phàng, cảm xúc bàng hoàng đến không lâu khi nhìn ra những bông tuyết đẹp đẽ nhẹ rơi xuống nhân gian này tạo thành lớp tuyết trên sân cỏ ngày một dày hơn. Ai mà đếm được đã bao nhiêu những bông tuyết đẹp đẽ bị vùi chôn đưới những bông tuyết đẹp đẽ tiếp tục rơi tới bông tuyết cuối cùng, để rồi tất cả đều tan chảy khi nắng lên. Cõi người cũng giẫm lên nhau mà sống để về chung nơi gió cát phù du. Có bông tuyết nào hiểu về sự hình thành của mình nhưng tất cả đều hiểu sự tan chảy vào hư vô vì cùng rơi xuống nhân gian. Người ta cũng không biết mình từ đâu đến, vùi giập lên chính đồng loại với bản năng sinh tồn, hỷ nộ ái ố nào cũng qua khi tất cả cùng về cát bụi bởi đã họp mặt trong nhân gian này. Chắc chắn có những giải thích về từ “gian” theo tôn giáo, theo khoa học, theo triết học nhưng tuyết rơi ngoài kia là bài học về không gian, thời gian, trần gian, nhân gian đều không có thực. Nhân quần trong cõi tạm này đều chờ giải thoát theo những quan niệm tôn giáo, tín giáo khác nhau. Đích đến của sinh mệnh mới quan trọng, mọi người chỉ sống ở trạm trung chuyển này một cuộc đời, thuận buồm xuôi gíó hay bơi trên dòng nước ngược đều chào đời không mảnh vải che thân, hồi đi đến cái cúc áo cũng lắt lại. Hiểu mình quan trọng hơn cả đời đã lãng phí thời gian đi tìm hiểu người khác. Hãy làm bạn với chính mình, hiểu người bạn này là giải thoát trong nhân gian nên chẳng có ai cứu rỗi người khác. Trò chuyện với những bông tuyết đầu năm. Đó là tết. Cái tết của giác ngộ.
 
phan
tết 2025
  

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ánh nắng chói chang như thiêu đốt nhức cả mắt, cháy cả da thịt, da dẻ ai cũng sạm đen thô ráp, đầu bù tóc rối, môi nút nẻ tứa máu, có vệt đã khô, có vệt mới còn tươi. Mọi người nằm rũ rượi như những tàu lá chuối bị hơ lửa, áo quần nhàu nát, dơ dáy, xốc xếch trông như những hình nhân.
Ôi, Sài Gòn của Ngà, cái Sài Gòn xưa với đủ mọi sắc màu tươi thắm lấm lem, cổ tích với dân dã, ngọt ngào lẫn tủi cực, cái Sài Gòn mà người ta nhất quyết bôi xóa, nó đã mọc lên ở đây, ở cái khe đất người bản xứ không chú ý, như những cây me con con đã nhờ gió thổi hạt bay tứ phương rồi lén lút trồi lên ở bất cứ rãnh đất trống nào, trong khi Sài Gòn ngày nay ở quê nhà lại như những con phố ngoại quốc lòe loẹt cửa hàng thời trang với những tòa nhà chọc trời che hết thổi bay hết các sắc mùi quê hương yêu dấu.
Ba tôi là một sĩ quan truyền tin của quân đội VNCH. Gia đình tôi sống trong Bộ Tổng Tham Mưu, gần sát phi trường Tân Sơn Nhất. Vì sống trong trung tâm của Bộ Tổng Tham mưu nên ba tôi nói rất nguy hiểm và ba đã xây một cái hầm cho mẹ con tôi trốn đạn. Mẹ nói ba làm rất cực để giữ an toàn cho gia đình. Ba vì công việc nên đi hoài, mẹ ở nhà mỗi khi nghe đạn pháo nổ dắt chúng tôi chạy xuống hầm trốn đạn. Và ngày ấy đạn pháo bay như mưa, tôi còn nhớ cứ lâu lâu nghe tiếng súng bắn và nghe người ta la "chết rồi, máy bay cháy", hoặc "chết rồi, nổ rồi, cháy ..cháy" và trên radio thì cứ nghe bài hát "một cánh tay đưa lên, hàng ngàn cánh tay đưa lên quyết đấu tranh…. ".
Bài viết “Đánh Trận Là Một Nghệ Thuật” đã được đăng trên “The Journal of Military History” số 68 vào năm 2004. Đây là một quyển báo rất có uy tín của quân đội Hoa Kỳ từ năm 1937, chuyên đăng những bài nghiên cứu có giá trị về lịch sử quân đội của mọi nơi trên thế giới. Dù đã ra đời mười sáu năm, bài viết này có một giá trị lịch sử đặc biệt vì người viết đã tham khảo rất công phu nhiều tài liệu của cả Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ và Bắc Việt. Bài viết này đã được Cố Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, Cựu Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa nhận định là chính xác đến 95%.
Máu đã đổ suốt từ thời chiến tranh cho tới lúc hòa bình 45 năm nay, những giọt máu của người dân trong nước khao khát nền Tự Do Dân Chủ vẫn còn chảy trong nhà tù với những bản án khắc nghiệt dành cho họ và những người đã chết đều có thật. Rất thật.
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Dù tôi đã sống trên đất Mỹ nhiều năm rồi, nhưng thỉnh thoảng, trong giấc ngủ hằng đêm, tôi vẫn gặp ác mộng về những lần trốn chạy kinh hoàng của một người bị săn đuổi. Choàng tỉnh dậy giữa đêm, tôi nhớ lại rất rõ nét những giấc mơ vừa trải qua, mồ hôi toát ra như tắm vì tôi như vẫn còn nghe văn vẳng đâu đây tiếng kẻng báo thức rõ mồn một, tiếng kẻng của các trại giam cộng sản Việt Nam được làm bằng những cái niềng (rim) xe hơi và dùng 1 thanh sắt gõ vào tạo thành 1 âm thanh vang rất xa. Ai từng ở tù hay bị đày ra những trại cưỡng bức lao động, hoặc trại tập trung cải tạo của cộng sản Việt Nam thì không bao giờ quên được tiếng kẻng này.
46 năm sau biến cố cưỡng chiếm Hoàng Sa 1974, và 32 năm sau vụ thảm sát Gạc Ma nơi quần đảo Trường Sa 1988, cả hai đều do bàn tay vấy máu của Trung Cộng. Không chỉ bằng vũ lực, Bắc Kinh nay còn viện dẫn Công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng ký như bằng chứng pháp lý gây khó khăn cho Việt Nam trong tranh chấp chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Kim lái chiếc xe Honda đi biếu cái bánh chưng cuối cùng vào lúc 7 giờ sáng ngày 30 Tết năm 1975. Tuy có bao nhiêu lần thức khuya học bài, nhưng đây là lần đầu tiên Kim thức trắng đến sáng, cái đầu nhức như búa bỗ, óc trống rỗng, người lâng lâng như muốn bay lên mây...
Mở đầu nhật ký tuần này xin được góp phần tưởng nhớ các nhân viên y tế, đặc biệt là các y tá (những thành viên trong đội ngũ thiên thần áo trắng ở tuyến đầu chống dịch bệnh Vũ Hán) ở khắp nơi trên thế giới đã "sinh nghề tử nghiệp". Tính đến đầu tháng 4 năm 2020, đã có hơn 100 "thiên thần áo trắng" qua đời vì bị lây nhiễm Coronavirus từ bệnh nhân, hơn một nửa là nhân viên y tế ở Ý.
Những dòng ký sự và nhận định sau đây, tường thuật lại những biến cố xảy ra tại Trường Y Sàigòn từ năm 1967-1971 và sau đó...do sự can thiệp của phái bộ Hội Đoàn Bác sĩ Mỹ -American Medical Association tại Saigòn (AMA-SAIGON) vào nội bộ Trường Y Saigon. Những sử liệu của bài nhận định này đều dựa trên những điều tường thuật của quyển sách thời danh SAIGON MEDICAL SCHOOL do 3 người viết: CH William Ruhe MD, Norman Hoover MD và Ira Singer PhD, tất cả ba vị này đều là nhũng người lãnh đạo và cố vấn cho cuộc can thiệp của phái bộ AMA vàoTrường Y Saigon từ năm 1967. Tập sách SAIGON MEDICAL SCHOOL do chính cơ quan AMA, xuất bản tại Mỹ năm 1988.
Dạo đó, đầu thập niên 70, dưới giàn hoa giấy, trong khoảng sân nhỏ nhà chúng tôi, thỉnh thoảng có những người lính thuộc mọi binh chủng của Quân lực VNCH. Họ ngồi hút thuốc, hay tay đàn miệng hát vì trong cư xá Đoàn Văn Cự ở Biên Hòa có khá nhiều chị đang học lớp 12 rất đẹp. Nhà chúng tôi ở đầu cư xá nên các chị thường phải đi ngang nhà chúng tôi trước khi về nhà mình.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.