Hôm nay,  

Đó Là Tết…

31/01/202500:00:00(Xem: 3917)
Capture
Ảnh: Xuân vui. Photo: Tanya Trương
 
Không nhớ từ bao giờ đã không còn ngồi xuống bàn trà, tay bốc miếng mứt hạt sen bỏ vô miệng, vị ngọt tươm ra không quá gắt như ăn miếng mứt bí, vị ngọt nhẹ, thanh, kích thích vị giác bởi hương sen quyện ngọt điệu đà, tới khi nhai cái hạt sen đã ấm ấm trong miệng nên không còn cứng cũng không quá mềm như khoai lang luộc. Độ dẻo của hạt sen khi đã sên mứt rất mê hoặc và cũng đâu có gì vội để nuốt đi cho mau, cứ ngậm mà nghe hương vị đất trời tinh khiết của hương sen xông lên khoang mũi làm cho người thưởng thức lâng lâng cảm giác xuân đã về. Có thể nói món gì có hạt sen góp mặt cũng ngon như món vịt tiềm có nhân bên trong là thịt bằm, nấm mèo, táo tàu, gia vị nhiều thứ, nhưng những hạt sen luôn khêu gợi những đôi đũa gắp vì hấp dẫn và ngon lạ miệng. Nhưng đã nhiều năm không ăn mứt hạt sen sao vẫn nhớ khá rõ hương vị độc đáo của hạt sen trong món ngọt ăn chơi ngày tết, hay món mặn ăn tiệc đều ngon. Đến món nhậu trên đường phiêu bạt như cái lẩu dê cũng không thể thiếu củ sen, phải chăng mùi vị toàn thân của sen luôn kích thích người thưởng thức từ hoa lá sen đến hạt sen, củ sen, ngó sen cũng ngon thơm hơn bất cứ loài rau củ nào đem trộn gỏi nên người ta không nói gỏi tôm, mực trộn ngó sen mà nói gỏi ngó sen trộn tôm hay mực.  Xét theo ngôn ngữ Việt, nguyên liệu chính trong một món ăn được nói trước nên với món gỏi thì ngó sen là chính, các loại hải sản hay thịt trộn gỏi được nói sau, cho thấy ngó sen là chính, là linh hồn, trung tâm của món gỏi. Trong thực đơn ở nhà hàng Việt, người ta ghi ra cho thực khách chọn lựa là canh chua cá lăng, canh chua cá lóc chứ không ghi là cá lăng nấu canh chua hay cá lóc nấu canh chua để nhấn mạnh đặc trưng của món canh này là chua, nấu với cá lăng hay cá lóc đều là món phụ theo cho thực khách thích ăn loại cá nào.
  
Và đến khi thời gian không ăn hạt sen đã nhiều năm, khoảng cách địa lý đã xa mù, thời gian xa quê đã mốc meo mới chợt nhận ra thêm vị độc đáo của hạt sen là người Việt thì ai không thuộc bài ca dao, “Trong đầm gì đẹp bằng sen/ lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng/ nhụy vàng bông trắng lá xanh/ gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.” Nên tượng Phật thường toạ trên đài sen, hoa sen cúng Phật, ao sen trong sân chùa… đi quanh xóm làng dễ thấy hoa sen bởi sự gần gũi trong đời sống, có gía trị tâm linh nên tâm lý con người chưa ăn đã thấy ngon về sen. Bỏ thức gì vào miệng cũng cần thời gian để thẩm thấu độ ngon của thức ấy, nhưng chưa bỏ hạt sen vào miệng đã thấy ngon. Cái ngon tâm lý của người ăn làm cho vị trí của sen trong ẩm thực tăng lên phần nào.
  
Thôi thì lầm lũi một phương trời, ăn tết với hương xưa còn nhớ cho đỡ quạnh hiu cũng chẳng sao, coi như vừa hưởng hương vị đất trời qua miếng mứt hạt sen. Bây giờ uống ngụm trà móc câu không quá nóng cũng không nguội, trà mộc Thái nguyên như sự trở về sau khi ra đời những loại trà ướp đủ thứ hương hoa, người thưởng thức trở về nguyên bản là trà mộc, không pha tẩm gì hết mới thấm thía linh hồn với hương trà đặc sản vùng miền, phong thổ Thái nguyên là để trồng trà cho người biết thưởng thức, nuốt ngụm trà nghe ấm lòng cuối năm, đầu năm. Ba trăm sáu mươi lăm ngày qua với biết bao mưa nắng nhọc nhằn, buồn vui lẫn lộn. Tất cả một năm qua chỉ còn hương thơm trà mộc trên nóc họng, vị ngọt dư hậu của vị đắng trà lưu luyến nơi cổ họng là vị ngọt không giống bất cứ vị ngọt nào trên đời bởi vị ngọt dư hậu của trà ngon là vị ngọt không có chất đường. Đó là tết. Cái tết đã ở lại quê nhà từ khi bước chân đi.
  
Ở đây có trà móc câu Thái nguyên, có mứt hạt sen Đồng tháp, có thời gian để thưởng thức, có tiền mua hương vị quê nhà, có hết… chỉ không có tết ở trong lòng nên tết hải ngoại mâm cao cỗ đầy, danh trà hảo hạng đến đâu cũng không có tết vì thiếu cái không khí sáng mùng một thường se lạnh, ngoài đường vắng ngắt vắng tanh. Trời sương nhiều hay ít tùy năm nhưng năm nào sáng mùng một tết cũng sương giăng giăng ngoài ngõ, không khí vương vương mùi thuốc pháo đêm qua chưa tan hết vì hầu như đêm giao thừa nào cũng lặng gió, trời về sáng lại sương mù nên khói pháo chậm bay. Trong ngôi nhà ở quanh năm suốt tháng đi về không thấy gì lạ ngoài con lớn vợ già hơn năm trước thì hễ tết là nó lạ trong sáng mùng một tết với ly trà mộc, cắn cái hạt sen trong hộp mứt. Nhìn bàn thờ gia tiên thơm thoảng khói hương, nhành mai không khoe sắc đua hương với những bình hoa, chậu hoa du nhập đắt đỏ, nhưng năm nào hoa mai cũng vô chung kết hoa hậu hoa tết trong căn nhà nhỏ của người chân quê. Hoa đào len lỏi vào Sài gòn như cô gái bắc lạc loài, da trắng má hồng cũng hay hay đấy nhưng chỉ để nhìn cho vui mắt tết chứ tình anh chân quê đã thuộc về hoa mai với má xấp nhỏ. Đó là tết. Cái tết đã ở lại quê nhà từ khi bước chân đi.
 
  
Nhớ những cái tết khi mới đến Mỹ, được bạn bè còn trong nước gởi qua cho cuốn lịch treo tường, gói bông mai giả bằng nhựa thật vô giá vì mùi mực mới của lốc lịch, hình ảnh bông mai vàng; cả hai cùng kém phẩm chất từ in ấn trong nước thời đó đến kỹ nghệ làm đồ nhựa cũng chưa tinh xảo, nhưng trên hết vẫn là tình thân, tình bạn trong nước làm cho cảm giác lá xa cành chưa đến nỗi bị dòng đời cuốn trôi. Chút tâm tư cuối năm lắng đọng lòng biết ơn những người còn nhớ đến người trốn chạy. Thế là mặc thêm áo lạnh, lái xe đi Home Depot mua bao xi măng trộn sẵn. Trên đường về lại nhà thiếu gì cành nhánh trụi lá hai bên đường, cứ ghé lại là chặt được một nhánh cây khô giống cây mai, nhành mai, nhánh mai. Về nhà loay hoay với vợ con tới chiều cùng nhau ghim hoa lên cành, dính keo và nhìn ngắm sao cho giống thật. Cuối cùng cho vào cái xô nhựa, đổ xi măng. Hôm sau đi làm về lại tiếp tục dán giấy bóng kiếng hình bông hoa tết lên cái xô nhựa đã thành chậu là nhà có gốc mai ăn tết. Gốc mai giả vô tri vô giác nhưng chứa đựng biết bao ân tình của người thân, bạn bè còn trong nước gởi ra ngần ấy đã bay hết tháng lương của bạn còn đi dạy học. Hai vợ chồng “mất dạy” rồi mới hiểu thế nào là nỗi nhớ quê xa trong những ngày giáp tết, lòng hoài hương là gì, tình bạn không xa mặt cách lòng là gì trong cõi lẻ loi xứ người. Đó là tết. Những cái tết xa xứ đã thành cổ tích.
   
Tết trong lòng đã già, tim chai sạn thương tích đã thành thương tật, vết thương nào cũng có phần lỗi của người thọ thương để bình tâm sống đời còn lại. Sáng nay tuyết rơi đẹp tuyệt ngoài khung cửa, những bông tuyết đầu mùa ở xứ nóng đương nhiên muộn hơn trên miền bắc nhưng tuyết miền nam cũng giống tuyết miền bắc là êm đềm rơi xuống nhân gian những bông tuyết tinh khiết đến nao lòng nhìn lại, nhớ đến những bông tuyết  êm đềm như cuộc sống quen thân, những bông tuyết cuồng nộ trong những cơn bão tuyết cuộc đời, những bông tuyết vay mượn từ trong tiểu thuyết cho đời bớt khô khan, gấp quyển truyện lại chỉ còn ta với tuyết đang rơi ngoài khung cửa. Trong những trang sách về triết lý nhân sinh có trang nói, “thật ra về già người ta chẳng cần người bạn nào hết…” đọc có vẻ phũ phàng, cảm xúc bàng hoàng đến không lâu khi nhìn ra những bông tuyết đẹp đẽ nhẹ rơi xuống nhân gian này tạo thành lớp tuyết trên sân cỏ ngày một dày hơn. Ai mà đếm được đã bao nhiêu những bông tuyết đẹp đẽ bị vùi chôn đưới những bông tuyết đẹp đẽ tiếp tục rơi tới bông tuyết cuối cùng, để rồi tất cả đều tan chảy khi nắng lên. Cõi người cũng giẫm lên nhau mà sống để về chung nơi gió cát phù du. Có bông tuyết nào hiểu về sự hình thành của mình nhưng tất cả đều hiểu sự tan chảy vào hư vô vì cùng rơi xuống nhân gian. Người ta cũng không biết mình từ đâu đến, vùi giập lên chính đồng loại với bản năng sinh tồn, hỷ nộ ái ố nào cũng qua khi tất cả cùng về cát bụi bởi đã họp mặt trong nhân gian này. Chắc chắn có những giải thích về từ “gian” theo tôn giáo, theo khoa học, theo triết học nhưng tuyết rơi ngoài kia là bài học về không gian, thời gian, trần gian, nhân gian đều không có thực. Nhân quần trong cõi tạm này đều chờ giải thoát theo những quan niệm tôn giáo, tín giáo khác nhau. Đích đến của sinh mệnh mới quan trọng, mọi người chỉ sống ở trạm trung chuyển này một cuộc đời, thuận buồm xuôi gíó hay bơi trên dòng nước ngược đều chào đời không mảnh vải che thân, hồi đi đến cái cúc áo cũng lắt lại. Hiểu mình quan trọng hơn cả đời đã lãng phí thời gian đi tìm hiểu người khác. Hãy làm bạn với chính mình, hiểu người bạn này là giải thoát trong nhân gian nên chẳng có ai cứu rỗi người khác. Trò chuyện với những bông tuyết đầu năm. Đó là tết. Cái tết của giác ngộ.
 
phan
tết 2025
  

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Mẹ tôi bán thuốc tây để dành được một ít tiền cho chị em tôi đi vượt biên. Chuyến đầu mẹ cho ba chị em tôi đi nhưng bị đổ bể, đợt hai mẹ cho chị tôi đi với gia đình dì, và được Cap Anamur Đức vớt, đưa đến Đức vào năm 80. Một năm sau mẹ gửi hai anh em tôi cho cô chủ tàu ở Cần Thơ và chúng tôi được đưa lên tàu đánh cá nhỏ có 89 người.Thuyền rời bến, ngày đầu chúng tôi được phát nước uống, qua ngày thứ hai thì không còn giọt nước nào. Lúc đó vào tháng năm, nắng nóng, thuyền lại không có mui che nên ai cũng mệt lả, thuyền đông người lại quá chật hẹp không cựa quậy gì được, tôi chỉ cần nhút nhích một chút là bị người ta nhéo. Lúc đó tôi chỉ thấy chung quanh là biển rộng mênh mông, tôi nhớ nhà và cầu mong sao cho bị bắt để được về nhà lại.Trên thuyền bắt đầu có một chị bị sảng vì thiếu nước uống, rồi thì không biết ai đó lấy lon Guigoz truyền nước uống cho nhau nhưng ai hớp vô rồi cũng phun ra vì đó là nước biển, mặn quá, tôi cũng không ngoại lệ.
Trời Chicago cuối tháng Tư vẫn còn lạnh. Tuy thế anh em đi dự buổi họp điều-trị-tâp-thể đông hơn thường lệ. Nhiều anh em sĩ quan ở các nhóm khác, không phải họp hôm nay, họ cũng đến. Phòng họp dành cho buổi điều-trị-tập-thể của các anh em sĩ quan H.O. tại Asian Human Services -Chicago rộng rãi và tươm tất, được trang hoàng trang nhã với những bức tranh ấn tượng của Claude Monet, màu sắc hàì hòa gợi nhớ về một thuở thanh bình.
Thôi thì khỏi nói, mọi người tay bắt mặt mừng, ai ai cũng vui như hội. Bà Tám đầu hẻm oang oang: - Thằng nhỏ coi bộ phổng phao ghê vậy ta, hồi còn ở đây gầy nhom, da bánh mật. Nó qua bển một thời gian giờ thay da đổi thịt quá, nếu đi ngoài đường chắc tui nhận hổng ra. Cả nhà quây quần tíu tít, bia bọt khui lốp bốp. Tuị bạn ngày xưa bá vai kề cổ giờ cũng ra ông nọ bà kia hết trơn. Chỉ có mỗi thằng An là lẹt đẹt làm anh công chức quèn thôi!
Kính Anh Chị Lê Thanh Tôi nhận được thư anh chị cách đây mươi ngày. Tôi định viết thư trả lời anh chị hay liền, và cám ơn anh chị đã nhiệt tình đỡ đầu hai quyển sách đầu tay của tôi mà tôi tự xuất bản. Nhưng không hiểu tại sao tôi mãi chần chờ. Đêm nay, tự dưng thức giấc, đọc lại thư anh viết, lòng cảm thấy bồn chồn. Lời thư anh mộc mạc, ngắn gọn, chứa chan tình cảm và nhiều suy nghĩ. Suy nghĩ của anh, của người tuổi đã ngoài 70. Anh đã đi qua nhiều chặng đường lịch sử của đất nước.
Như mọi buổi sáng, tôi vừa dùng điểm tâm vừa xem tin tức trên Internet. Sau đó, tôi vào Inbox để xem emails của bạn hữu. Khi thấy youtube tình khúc Hai Vì Sao Lạc – do ông Trần Nắng Phụng chuyển – cũng là lúc tôi chợt nhớ trái avocado để quên nơi bếp. Tôi “bấm” vào youtube rồi rời phòng computer, đi xuống lầu, với dụng ý khi tôi trở lên thì phần nhạc dạo đầu sẽ chấm dút.
Tháng ba, dường như mùa đông chỉ mới bắt đầu sau một tháng thời tiết ấm áp. Nấc đo màu đỏ của hàn thử biểu nằm trên dương độ và có khi vượt qua khỏi con số mười. Mọi người hân hoan cho rằng Paris năm nay không có mùa đông. Nhưng những cơn mưa ướt át, những luồng gió lạnh lẽo từ một cơn bão nào đó đã ào ạt thổi về trên phố từ mấy ngày nay. Con đường trước nhà lúc nào cũng vắng hay tôi chỉ nhìn thấy nó mỗi khi không còn ai. Thói quen trước khi vào giường ngủ và thức dậy khi đêm chuẩn bị tạ từ. Đèn vàng và sương mù, những ngôi nhà, cây cành đổ bóng ngoài khung cửa là nơi của quá khứ tôi, nơi hồi tưởng, dù vui dù buồn. Nhớ lại trong đêm nay… cả trăm điều muốn khóc1, một lời hát lấy từ một bài thơ của một nhà thơ quá cố mà tôi rất thích và tôi nghĩ đâu phải riêng tôi mới có cả trăm điều muốn khóc. Của chúng ta, bao người ly hương, làm gì lại chẳng có những đêm nhớ lại với trăm điều.
Thứ hai 6 tháng 4 South Carolina tiểu bang cuối cùng của các tiểu bang nằm dọc theo phía Đông của sông Mississippi (giòng sông dài thứ nhì của Bắc Mỹ) ban hành lệnh "Shelter in place". Cùng lúc, Indiana kéo dài "lệnh cấm túc" thêm 14 ngày nữa trên toàn tiểu bang.
Bài viết này lấy cảm hứng từ tựa đề của một tác phẩm nổi tiếng trong nền văn học Việt Nam Cộng Hoà. Đó là tựa đề “Những người không chịu chết” (1972), một trong những vở kịch nổi tiếng của kịch tác gia Vũ Khắc Khoan. Lúc vở kịch ra đời, tôi hãy còn nhỏ lắm, nhưng cũng phần nào đủ trí khôn để thưởng thức vở kịch này. Tôi được đọc vở kịch trước rồi sau mới xem kịch trên truyền hình. Đã mấy mươi năm rồi nên bây giờ tôi chỉ còn nhớ lờ mờ rằng vở kịch đó nói về một nhóm tượng người mẫu, cứ đêm đêm đêm lại trở thành người, sống, ăn nói và sinh hoạt như bao con người bình thường khác, với đầy đủ tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố, thất tình lục dục. Bài viết này mượn cảm hứng đó để nói về—không hẳn chỉ là những con người—mà còn là những thực thể khác, cũng không hề chịu chết, qua dòng lịch sử nghiệt ngã của nước Việt, tính từ ngày 30 tháng Tư năm 1975.
Tiếng giày cao gót lụp cụp tiếp theo sự xuất hiện của một cô gái làm Vinh ngơ ngẩn đến lặng người. Trời ơi! Sao trên đời lại có người đẹp thế này! Nàng mặc nguyên cái áo dài màu xanh da trời đồng phục của tiếp viên hàng không Air VietNam với huy hiệu rồng vàng nổi bật trên cổ áo ôm lấy một bờ ngực vun đầy và vòng eo chết người. Gương mặt trái soan với đôi má hây hây điểm trên làn da trắng mịn màng, bờ môi mộng đỏ hình trái tim, cộng thêm đôi mắt bồ câu đen long lanh với viền mi cong vút dài rậm(thiệt đúng là chí lớn trong thiên hạ không đong đầy đôi mắt mỹ nhân). Tất cả như muốn nhốt cả hồn Vinh trong ngây dại chìm đắm.
Tiếng niệm chú rì rầm trầm hùng vang rền cả đại điện, bóng các tăng sĩ trong màu áo huyết dụ lắc lư, tay lần tràng hạt trong ánh đèn bơ lung lay trông thành kính vô cùng. Toàn bộ mọi người như nhập thần vào câu chú, thân người ngồi đó mà thần thức như ở cung trời nào chứ chẳng phải trên mặt đất này. Khói trầm phảng phất bay lên, pho tượng Phật trên toà tay bắt ấn kiết tường, mắt mở to như nhìn thấu những tấn tuồng của trò đời, thông suốt những nỗi đau của chúng sanh, biết tường tận tâm can của của mỗi người.
Chiếc đồng hồ treo trên vách gõ nhịp nhàng hai tiếng thảnh thót giữa đêm khuya tĩnh mịch. Từ đàng xa, vài con chó trong xóm vắng gầm gừ sủa ma nghe thấy lành lạnh người. Tiếng gió đưa xào xạc mấy hàng dừa bụi chuối bên hè cộng thêm giọng ểnh ương oàng oạc tạo thành khúc nhạc êm ái đặc biệt hắt hiu của đồng quê miền Nam. Mùi hương hoa bưởi hoa cau cũng nương theo làn gió đêm len lén vào nhà nghe thoang thoảng nhẹ nhàng. Cho tới giờ này mà Phi vẫn chưa ngủ được, nó cứ nằm lăn qua trở lại với nỗi buồn nhức thịt nhức da, đau buốt tâm can vì sáng mai này nó phải chia tay với con Hồng Thắm, người chị láng giềng lớn hơn nó hai tuổi và cũng là người mà nó thân thiết nhất xóm, còn hơn cả con Mai em gái của nó nữa . Mà nói nào ngay thì Hồng Thắm có đi xa xôi cách trở gì cho cam, chị chỉ qua Mỹ Tho học mà từ nhà tụi nó ở ngay chợ Ngã Tư An Khánh-Bình Đại (Bến Tre) qua có cái Bắc Rạch Miễu là đã tới nơi rồi.
An cười, nhưng chợt khựng lại với ý nghĩ không biết bao giờ mới có thể cùng Mẹ đến những chỗ đông vui như vậy. Hơn hai tuần lễ thực hiện điều “ở yên trong nhà” mà thấy lâu như cả năm. Mặc dù An đã kéo hết công việc về làm tại nhà, không phải đi đến sở, An thấy vẫn còn nhiều thì giờ trống. Chính là những lúc trước đây dành cho việc chạy bộ tập thể dục, là những lúc đẩy xe cho Mẹ đi dạo để hít thở chút khí trời trong lành, là những buổi họp mặt bạn bè, đàn ca hát xướng cho vui… Nhiều lắm! Khi bình thường không ai để ý những điều đó, đến khi phải sống trong một bầu không khí mới, sẽ thấy có sự khác biệt rõ ràng.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.