Hôm nay,  

Duyên Nợ Văn Tự

28/11/202500:00:00(Xem: 850)
 
duyen no 1
 
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương.
 
Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”. Khi thêm vài dấu chấm phết. Khi bớt đôi chữ “thì, là, mà”. Chị tôi, chị Hoàng Thanh Tâm, qua những hoạt động với trung tâm Độc Lập của Tây Đức, quen nhà báo Từ Nguyên, ông Trần Văn Ngô bên Pháp. Ông Từ Nguyên mời chị Thanh Tâm tham gia văn bút. Chị Thanh Tâm chuyển thư của ông Từ Nguyên đến tôi. Ông Từ Nguyên cho biết có làm việc với báo Thế Kỷ 21. Tôi thầm nghĩ, Thế Kỷ 21 “cao” quá. Được là độc giả đã quý rồi. Chứ nào dám mơ xa thêm. Đôi đũa tre mộc mạc của mình biết làm sao để “chòi” tới mâm son. 
 
Tôi gởi vài emails trao đổi, loanh quanh dọ ý ông Từ Nguyên. Tôi thu hết can đảm, gởi bài Giấc Mơ Thực Vật nhờ ông Từ Nguyên chuyển đến báo Thế Kỷ 21. Gởi đi, nhưng tôi không dám hy vọng, cũng không lóng ngóng trông thư trả lời. Vậy mà, ông chủ bút Phạm Xuân Đài đã dành cho Hoàng Quân ưu ái đặc biệt, ngay từ thuở Hoàng Quân chân ướt, chân ráo bước vào sinh hoạt chữ nghĩa. Ông cho đăng bài viết ngay trên số báo gần nhất, số 184, tháng Tám, 2004. Tôi nhận tờ Thế Kỷ 21, có đăng tựa đề Giấc Mơ Thực Vật ở trang bìa. Tôi vui mừng vô tả. Tôi hạnh phúc lâng lâng. Tôi cảm nhận đó là niềm vinh dự cho mình, được tờ báo có tầm vóc cao lớn đón nhận như vậy. Tôi vội vàng chụp hình trang bìa, níu tay gia đình, bạn bè, rộn ràng kể, hớn hở khoe. Như vậy đó, với Thế Kỷ 21 và chủ bút Phạm Xuân Đài, tôi đã trân trọng đặt khối gạch xây đắp căn nhà ước mơ thành văn sĩ của tôi.
         
Qua những lần liên lạc thư từ, các “ông” cho phép tôi gọi bằng anh, bớt phần khách sáo, xa cách. Mặc dầu, tính theo cả tên lẫn tuổi, tôi đi sau các anh rất xa. Sau đó, anh Từ Nguyên đưa địa chỉ email của anh Phạm Phú Minh, bảo, có thể gởi bài trực tiếp. Khi anh Phạm Phú Minh gởi tặng tôi tờ đặc san Xuân của báo Người Việt. Trên bao thư ghi người nhận Hoàng Quân, tên của cu Bê, con trai tôi. Nhận được bưu phẩm cho mình, gởi từ Mỹ, cu cậu ngạc nhiên, thích thú. Vội vàng mở quà, cầm tờ báo xuân xinh đẹp trên tay, cu cậu thắc mắc: “Ủa, ai tặng cho mình quà này lạ hè“. Tôi vội vàng giải thích: “Thì, hồi xưa, mẹ có kể cho Bê rồi. Mẹ thấy tên Bê hay quá, nên mẹ mượn làm bút hiệu khi viết văn“.
 
Cũng ở vùng nam California, văn sĩ Đặng Phú Phong là họ hàng bên Mạ tôi và bạn của Ba tôi. Ba tôi và anh Phong đã chia sẻ với nhau những ngày tháng trong trại cải tạo. Anh điện thoại thăm Ba tôi, tình cờ gặp tôi, chuyện trò qua lại, trao đổi bài vở. Năm 2009, mấy chị em tôi đưa Ba qua Mỹ ăn tết. Khi gặp nhau, Ba tôi và anh Phong mừng mừng, tủi tủi. Sau lần gặp gỡ đó, vợ chồng anh Đặng Phú Phong trở thành bạn bè của cả mấy anh chị em chúng tôi. Nhân dịp này, anh Đặng Phú Phong liên lạc anh Phạm Phú Minh. Đấy là lần đầu tiên Hoàng Quân đi cùng với thân phụ và người chị đến gặp ông chủ bút báo Thế Kỷ 21. Từ đó, Hoàng Quân thành “người nhà” của Thế Kỷ 21, hãnh diện được đứng gần cây cao bóng cả của nhiều tên tuổi trong làng chữ nghĩa.  
Duyen no 2
Westminster 02.2012
          Vợ chồng anh Đặng Phú Phong, vợ chồng Hoàng Quân, anh Phạm Phú Minh
 
Khi nghe tin báo Thế Kỷ 21 đình bản, tôi cảm thấy hụt hẫng. Như đánh mất điều gì rất thân thiết, quý giá. Anh Phạm Phú Minh chuyển qua làm tờ Phụ Nữ Diễn Đàn với dự định cải tổ hoàn toàn tờ PNDĐ thành một tờ báo có phẩm chất cao. Hoàng Quân cộng tác với PNDĐ một thời gian. Năm 2009, số báo có hình bìa rất mỹ thuật với tranh Đánh Thức Đồi Hoa của họa sĩ Đinh Cường, bài Tắt Nắng Buộc Gió của Hoàng Quân được “vai kề vai” với Soeur Sourire, Nụ Cười Hay Nước Mắt của nhà văn Đặng Mai Lan. Tôi lại vui mừng tở mở, hí hửng “rao tin” khắp bạn bè.
Về sau, anh Phạm Phú Minh cùng một số văn, thi sĩ... làm tờ báo điện tử Diễn Đàn Thế Kỷ. Tôi xem mình như thành viên trong gia đình văn nghệ DĐTK. Tôi rất vui, được đi lui tới trong vườn nhà. Đọc những bài rất nặng ký của những tên tuổi gạo cội trong diễn đàn chữ nghĩa, đôi khi, tôi ngài ngại, cảm thấy mình “bé bỏng” trong sinh hoạt này. Nhưng những lúc anh Phạm Phú Minh góp ý đôi câu cho bài mới gởi, hoặc hỏi bài cho số xuân, là niềm khích lệ rất lớn cho tôi, là thôi thúc cho tôi ngồi vào bàn viết, mở “thư viện” của mình để viết tiếp, mặc những bận rộn và áp lực của cuộc sống.
 
Tờ DĐTK phát triển nhanh và trở thành phổ biến trong thời gian ngắn. Số lượng người xem tăng nhiều. Qua DĐTK, tôi được nhiều mối duyên thú vị. Có lần, tôi nhận được email của chị bạn, gởi cho tôi link của DĐTK, đăng truyện Chàng Nghệ Sĩ. Chị bảo, “Chị thích bài viết đó, và nghĩ, chắc em cũng sẽ thích, nên giới thiệu với em.” Lúc đó, tôi mới thỏ thẻ với chị: “Dạ, Hoàng Quân là Hoàng Thị Ngọc Thúy đó chị.” Lần khác, chị của bạn tôi, gởi cho tôi Bài Ca Hạnh Ngộ, chị vừa “hái” được trong “vườn” DĐTK. Chị sôi nổi, “Tác giả không phải tên của em. Nhưng chị ‘chắc như bắp‘ là em. Vì thấy toàn là “người thật, việc thật”. Một ông bạn Ba tôi ở Texas, có máu văn nghệ, rất vui tính. Bác hay liên lạc với Ba tôi. Thỉnh thoảng, thay mặt Ba, tôi trả lời thư bác, gởi kèm vài bài viết của Hoàng Quân đến bác. Khi tôi gởi bài Nhật Ký Màu Tím, thì bác cười (trong email), rằng bác biết bài này, do hai người bạn của bác đã đọc trên DĐTK, chuyển bài đến cho bác.
 
Một độc giả thường trực của Diễn Đàn Thế Kỷ, vì thích những bài vở của Hoàng Quân, chị lên mạng “dò la” tông tích của tác giả. Chị gọi điện thoại đến tòa báo hỏi, có thể liên lạc với Hoàng Quân qua email. Lúc ấy, vợ chồng chúng tôi đang có mặt Nam California. Với một chuỗi tình cờ dễ thương, cộng thêm chút xếp đặt của anh Phạm Phú Minh, giờ đây độc giả đặc biệt ấy là người bạn tâm giao của tôi.
 
Năm nọ, anh Phạm Phú Minh chuyển cho tôi email của anh Song Thao. Anh Song Thao hỏi, “Hoàng Quân là ai mà viết... hay quá vậy. ” Ui chao, tôi nở phồng cả mũi. Khi đọc TK21, tôi rộn ràng tìm phần Phiếm của Song Thao. Đọc đâm ghiền như đọc truyện kiếm hiệp. Vậy mà, bây giờ được người mình “mê”, khen như vậy, hỏi sao không cảm thấy hạnh phúc mênh mang. Coi như anh Phạm Phú Minh bắt nhịp cầu tri âm cho tôi và và ông “trùm” Phiếm Song Thao. Sau đôi lần thư từ, anh Song Thao bảo, anh tính rủ tôi viết chung phiếm. Nghe ông trùm nói vậy, tôi rón rén viết thử Ngôn Ngữ, Chuyện Đó Đây. Tôi băn khoăn miết, rụt rè hỏi anh Song Thao, giống phiếm chưa, cần thêm mắm muối gì nữa không. Thì anh cười (tôi đoán vậy), bảo, phiếm đứt đuôi con nòng nọc rồi. Thế là tôi yên tâm, gởi bài đến tòa báo.
 
Xuân Kỷ Sửu, anh Phạm Phú Minh “rủ” họp mặt vào mồng một tết tại Quận Cam. Anh bảo, “chỉ một số nhỏ bạn thân thiết của anh như Trần Mộng Tú, Bùi Bích Hà, Võ Phiến... ” Lúc đó, tôi đang cùng thân phụ đi thăm họ hàng bè bạn ở bắc California. Hụt buổi hội ngộ tôi tiếc hùi hụi.
                              
Duyen no 3
     Bellevue 08.2015
Frank, Hoàng Quân, Trần Mộng Tú, Hoàng Thanh Tâm, Trần Văn Hải, Trương Trọng Lợi
 
Khi nghe tôi đi dự Hội Nghị Liên Trường Quảng Ngãi ở Seattle, anh Minh “đánh tiếng” với chị Trần Mộng Tú, thi sĩ khả ái với những vần thơ mượt mà... ngoài vườn đầy hoa nở, trong hồn ngập mộng mơ... Trong ngôi nhà xinh xắn trên triền đồi, nhìn xuống hồ thật thơ mộng ở thành phố Bellevue, tiểu bang Washington, chị Trần Mộng Tú và phu quân, anh Frank đã khoản đãi vợ chồng tôi, chị tôi và hai người bạn buổi trò chuyện thân mật, ấm cúng. Tôi không những yêu thích thơ văn của chị, mà còn khâm phục những sinh hoạt thiện nguyện của anh chị.  Tôi vẫn mong sẽ có một ngày rất gần, được trở lại nơi căn nhà với hai câu thơ trước của:  Khi trở về dẫu tuổi gầy sương tuyết, Bốn bàn chân sẽ làm ấm thềm nhà.
Rời Tây Bắc Hoa Kỳ, chúng tôi xuôi Nam, xuống quận Cam. Tôi có dịp tái ngộ chị Bích Huyền, người tôi rất ái mộ với giọng nói mượt mà, quyến rũ của hàng trăm chương trình thơ nhạc. Lòng tôi rạng rỡ niềm vui, nghe chị ngọt ngào: “Những câu chuyện của em thật thú vị...” 
                                    
Duyen no 4
Westminster, 08.2015
Hoàng Quân, Bích Huyền, Hoàng ThanhTâm, Phạm Phú Minh, Đặng Phú Phong
 
Mãi năm 2016, tôi mới “thấy” bài Lê Hữu Và Một Thời Âm Nhạc của anh Phạm Phú Minh/Phạm Xuân Đài (viết năm 2011). Đọc xong, tôi nhủ lòng, nhất định phải làm sao để đọc trọn cuốn sách mới được. Lại gõ cửa ông thám tử Gồ. Cuối cùng, tôi liên lạc được với anh Lê Hữu. Giờ đây tôi có trong tay cuốn Âm Nhạc Của Một Thời và gặp thêm một tâm hồn đồng cảm, đồng điệu với mình. Những ngày mê mẩn trong Âm Nhạc Của Một Thời, tôi bắt gặp đây kia những lời ca anh Lê Hữu rất yêu. Mà những câu hát đó, những “chàng nàng“ trong truyện của Hoàng Quân vẫn trìu mến trên môi. Đọc được cuốn sách hay cũng phải có cái duyên. Tôi lại cám ơn anh Phạm Phú Minh đã xe thêm một mối duyên văn nghệ cho tôi.

Kỳ nghỉ lễ cuối năm, tôi tìm được đôi chút thời gian rong ruổi trong Nét Xuân Sơn, trang nhà đăng lại một số bài viết của Phạm Xuân Đài. Khi “bắt gặp” Hoa Tím Bâng Khuâng của anh Phạm Phú Minh trong “vườn”, tôi ngạc nhiên lẫn thích thú: anh Phạm Phú Minh và tôi có bài viết về cùng một đề tài: hoa Jacaranda.

Anh Phạm Phú Minh viết Hoa Tím Bâng Khuâng từ thế kỷ trước, tháng năm 1993. Ngày ấy, khi ngắm phượng ở Quận Cam Hoa Kỳ, anh Minh đã miên man:

“Một niềm hạnh phúc bất chợt sẽ đến với bạn, khi bạn lái xe rẽ vào một con đường nhỏ êm đềm với những rặng hoa tím, tím ngát đất trời. Ngửng mặt nhìn vào đám mây tím lãng đãng ấy bạn sẽ lạc ngay vào một vùng tâm thức lạ lùng, vừa sửng sốt vừa phiêu diêu. Đó là một loại màu tím không giống bất cứ thứ tím nào bạn đã thấy.

Đọc xong bài Hoa Tím Bâng Khuâng, tôi ngẩn người, hỏi thầm mình, chơ bao lâu nay mắt mũi tôi cất đâu, mà không “thấy” được hoa tím bâng khuâng. Để mãi đến năm 2009, lúc đi làm ở Nam Phi, mới “khám phá” hoa tím, phải mằn mò hỏi quanh mới biết đấy là Jacaranda. Trong truyện ngắn Phượng Xưa tôi đã say đắm:

“... Qua nhiều ngõ phố, những hàng phượng tím hai bên đường như chụm đầu tình tự với nhau.
Từ vuông cửa sổ phòng khách sạn, tôi nhìn mông lung xuống thành phố bên dưới. Trong nắng chiều tà, những tàng phượng tím đẹp quyến rũ lạ lùng. Cuộc sống đôi khi có những tình cờ kỳ diệu. Bao lần đến Johannesburg, mảnh đất ở phương nam châu Phi vẫn tạo nhiều ấn tượng trong tôi. Nhưng mãi lần này, tôi mới thấy những hàng phượng tím. Những cây Jacaranda bao năm khoe sắc ở thành phố này, chứ đâu phải mới rộ nở cho tôi ngắm lần này đâu!
.... ”

Không biết khi anh Phạm Phú Minh đọc bài Phượng Xưa của tôi gởi đăng trên DĐTK, anh có mỉm cười, nhớ đến hoa tím của anh không. Riêng tôi, có niềm vui nhẹ nhàng, khi thấy hoa tím “của” mình ở Châu Phi và hoa tím “của” anh Phạm Phú Minh ở Châu Mỹ có những nét đáng yêu giống nhau.

Anh Phạm Phú Minh là ông chủ bút thật dễ thương. Anh khích lệ tinh thần, chỉ dẫn, góp ý cho tôi. Hơn nữa, anh rất “chiều lòng” cộng tác viên. Anh đã phải ghi chép cẩn thận để đăng bài Đứng Ngẩn Trông Vời đúng vào ngày 24.01, nhân sinh nhật con trai tôi. Hoặc đăng bài Tuổi Ngọc Cho Nàng Trên Xứ Người vào ngày 14.01, đúng ngày tôi sang Tây Đức mấy chục năm trước.

Mỗi khi tôi gởi bài, anh Phạm Phú Minh luôn có thư hồi đáp. Thỉnh thoảng, anh viết đôi dòng nhận xét, cảm nghĩ. Hoặc chỉ trả lời ngắn ngọn, ngộ nghĩnh. Lúc nhận Xiêm Áo Thênh Thang, anh trả lời: “Xiêm áo của Hoàng Quân đã đến Hoa Kỳ”. Nhận bài Yêu Lời Mẹ Ru, anh bảo: “Cảm động lắm. Đăng bài này thế nào ông Song Thao cũng lại khen, vì vợ ổng người Huế, ổng rất rành tiếng Huế... Phải một bà-mẹ-viết-văn mới viết được…”

Ngoài ra, anh luôn tìm những hình minh họa đặc sắc cho bài. Người Ấy Ngày Xưa có cánh phượng hồng rất đẹp. Tuần lễ đó, Người Ấy Ngày Xưa là một trong những bài viết được đọc nhiều nhất trong tuần. Có lẽ một phần nhờ hình minh họa bắt mắt. 

Anh Phạm Phú Minh đối với Hoàng Quân không chỉ đơn thuần là ông chủ bút đọc bài vở, chọn lọc để đưa lên báo. Ban đầu, tôi gởi bài đến tòa báo để dự đăng. Nhưng về sau, viết xong bài nào, tôi gởi đến anh Phạm Phú Minh, như thể gởi bạn thân, tri kỷ cùng chia sẻ những cảm nghĩ, suy tư của mình. Còn chuyện đăng báo là quyết định của chủ bút. Bài Người Cày Có Ruộng, tôi viết xong giữa khuya, kể lại “bi hài kịch” lên bờ, xuống ruộng, thời kỳ đi xin việc ở tuổi tri thiên mệnh của tôi. Gởi cho anh, giống như tìm người nghe mình tỉ tê tâm sự những chông chênh của cuộc sống. Anh như người bạn kiên nhẫn, lắng nghe chuyện, hiểu và cảm được những nỗi niềm của mình. Ngay trong khuya đó, anh trả lời thư, nói, đã đọc một mạch xong Người Cày Có Ruộng và muốn đăng ngay trong ngày hôm sau. Lúc ấy đã gần tết nguyên đán, vì trong bài viết có mấy câu... Chim én ơi, khi báo tin xuân đang về với trần gian... nên anh em chúng tôi đồng ý giữ bài chờ dịp tết. Tết đó, anh tìm hình tranh sơn dầu Đồng Quê Việt Nam tuyệt đẹp, đăng chung với bài viết.

Tôi muốn làm cuốn sách thứ hai, tập truyện Nhớ Tiếng À Ơi. Tôi ngỏ ý nhờ anh viết bài giới thiệu tập truyện, kiểu như lời tựa. Anh nhận lời viết, mặc dù thời gian ấy anh rất bận bịu với báo chí cũng như những chương trình sinh hoạt của anh. Đọc bài giới thiệu của anh Phạm Phú Minh, độc giả đã rỉ tai với Hoàng Quân. “Ông Phạm Phú Minh thật giỏi, khám phá mọi ngóc ngách trong tâm hồn của Hoàng Quân, đem lên cho thiên hạ đọc. Tuyệt vời.”  Hoặc, “Chưa thấy ai viết điểm sách mà nghiêm túc và sâu sắc như ông Phạm Phú Minh.” Hoặc “Ông Phạm Phú Minh thật xứng với những danh xưng, nhà văn, chủ bút của báo và nhà biên khảo. Bài ông ta viết thật hay, mạch lạc và đầy đủ... ” …

Bước đầu, tôi cộng tác với Măng Non, Văn Nghệ Trẻ, Làng Văn. Nhưng qua Thế Kỷ 21 và sau này Diễn Đàn Thế Kỷ, với chủ bút Phạm Phú Minh, Hoàng Quân mới thực sự là Hoàng Quân của ngày nay.
           
Như vậy đó, nhờ duyên lành, tôi gặp Thế Kỷ 21 và anh Phạm Phú Minh năm xưa. Mười mấy năm qua, tôi may mắn gặp thêm nhiều duyên lành khác, có thêm bạn văn, bạn đọc, bạn lòng. Để bây giờ, mặc những tất bật, áp lực của thế giới chung quanh, tôi vẫn tìm được niềm vui trong viết lách và vẫn tìm được những tâm hồn đồng điệu, dẫu không nhiều, nhưng đối với tôi, cũng đủ thăng hoa cuộc sống.

Như anh Phạm Phú Minh đã viết trong bài giới thiệu tập truyện Nhớ Tiếng À Ơi, Hoàng Quân đã đến với báo Thế Kỷ 21 như thế, cách đây đã 12 năm... chúng tôi vẫn còn duyên nợ văn tự với nhau... ” Ước mong chúng tôi vẫn duyên, vẫn nợ văn tự thật nhiều năm nữa.

Thuở tiểu học, tôi dùng bút mực ngòi lá tre nắn nót những bài tập làm văn. Lên trung học, tôi xài bút máy Pilot trau chuốt những bài luận văn. Tự lúc nào, ước mơ viết văn luôn quanh quẩn bên tôi. Giờ đây, quá nửa đời người, ngồi vào bàn phím viết tiếng Việt trở thành đam mê, là sinh hoạt cần thiết đối với tôi. Với người bạn Anh, Mỹ tôi sẽ reo lên: “I am really a lucky beggar.” Gặp bạn Đức tôi sẽ cao giọng rằng: “Ich bin echt ein Glückspilz.” Và với người Việt, tôi sẽ rạng rỡ: “Bạn ơi, tôi may mắn và hạnh phúc quá chừng.”
 
Hoàng Quânn 4.17 xong bài Duyên nợ rồi. Thiệt là hay. Sao nhớ giỏi quá vậy?  di' dỏm mà lôi cuốn.
 
Anh PPM cũng cư xử với Thà như vậy. Anh ấy nhận ra lối văn hiện thực ma quái của Thà. Chúng mình may mắn có được một chủ bút như vậy.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Rõ ràng thằng bé đã thức. Nhưng khi An bước đến bên giường, mắt cu cậu nhắm tịt lại vờ như đang ngủ. An cù vào nách con : — Giả bộ này. Giả bộ này… / Bin uốn éo người, cười khanh khách. An xốc con dậy, hôn vào đôi má phúng phính: / — Con đánh răng rồi ti sữa cho ngoan nhé. Mẹ đi làm đây. / Bin choàng vòng tay nhỏ xíu quanh cổ mẹ, giọng ngọng nghịu: / — Mẹ ứ đii… / Bà đưa tay đỡ lấy cu Bin: / — Sang đây bà bế. Chiều mẹ lại về với Bin nào. / Chỉ nũng nịu với mẹ chút thôi, chứ Bin rất ngoan. Chưa bao giờ em khóc nhè, vòi vĩnh như những đứa trẻ khác. Sự hiểu chuyện của con, nhiều khi làm An nghe buốt lòng.
Chiếc ghế đá hầu như rất quen thuộc, dù nó cũng như mọi chiếc ghế khác trong công viên. Tháng Sáu. Bầy ve kêu inh ỏi. Chúng vô tư thật! Đoan ngồi xuống. Mấy buổi chiều nay, tan học, Đoan ghé khu vườn rộng lớn này, như một người trở về, cảm giác thật khó tả. Chợt nghe trong đầu vẳng lại lời của một bài thơ:
Cuộc đời trung úy Đỗ Lệnh Dũng, một sĩ quan VNCH, là biểu tượng bi tráng của lòng trung thành, khí phách giữa chiến tranh tàn khốc, và là minh chứng cho nỗi đau kéo dài của những người lính và thương phế binh miền Nam sau cuộc chiến.
Lớn hơn anh Hợp một tuổi, tháng 4 năm 1975, anh Đăng chưa xong năm thứ nhất về Cơ khí ở Phú Thọ, vận nước xoay chiều, ba anh cũng phải đi "học tập cải tạo" như hơn ba trăm ngàn Sĩ quan QLVNCH. Là con trai đầu lòng, anh Đăng bỏ cả ước mơ, bỏ trường về quê, điền vào chỗ trống của người chủ gia đình mà ba anh bỏ lại. Anh sinh viên kính trắng của Phú Thọ bỗng chốc trở thành phụ xe, lơ xe, cũng đổi đời như gần hai chục triệu người dân miền Nam.
Bây giờ trời đã tối, nhiều người đi ngủ sớm. Bọn trẻ học bài dưới bóng ngọn đèn dầu ở ngoại ô, ngọn đèn đường gần bờ sông. Trước hàng rào kẽm gai, một người lính mang súng đi đi lại lại, một đôi tình nhân đi chơi về muộn. Ngọn đèn hỏa châu sáng bừng góc trời một lát rồi tắt. Người yêu quê hương đã đi ra khỏi mảnh đất của những hận thù dai dẳng mà vẫn muốn trở về. Người nông dân muốn cày lại thửa ruộng của mình. Người thợ sửa đồng hồ muốn ngồi lại cái ghế vải nhỏ thấp của mình sau tủ kiếng bày đồng hồ cũ và mới. Lò bánh mì chiếu sáng nhấp nhô bóng những đứa trẻ bán bánh mì đứng trước cửa sổ với bao tải lớn đựng bánh nóng mới ra lò. Con chim về ngủ muộn biến mất trong bụi cây chỗ anh đứng.
Em nằm im lặng nghe đêm thở | Tháng Tư mở đôi mắt trong đêm | Anh ạ, em nghe Tháng Tư khóc | Tháng Tư nhỏ những giọt lệ đen.(tmt)
Con người ngậm kín cái tốt vào lòng. Để khỏi mua lấy vạ hiềm nghi ghen ghét. Tôi nhìn đứa bé từ sau lưng, sự rung động khẽ của đôi vai nhỏ bé, vẻ hạnh phúc của cái gáy nhỏ xíu măng tơ. Phút này qua phút khác, có lẽ lâu lắm, cho đến khi đứa bé bắt đầu thỏa mãn, bú chậm lại, nhưng nó vẫn ôm lấy bầu ngực của người đàn bà lạ, ngủ thiếp đi.
Biển đêm như vô thức một màu đen mênh mông, nhưng biển chứa toàn bộ lịch sử con người từ lúc còn là tế bào phôi sống cho đến khi biến thành DNA, rồi từ thú vật tiến lên con người. Lịch sử đó đầy ngập dữ liệu nhưng chôn sâu dưới đáy nước. Hồi tưởng chỉ là những con sóng nổi dập dìu, cho dù sóng lớn dữ dằn trong bão tố vẫn không mang được hết đáy nước lên trên mặt. Vì vậy, biển lúc nào cũng bí mật. Vô thức cũng bí mật. Càng gây thêm khó khăn để chứng minh sự thật vì vô thức có khả năng biến đổi dữ liệu hồi tưởng. Chỉ những người thiếu bản lãnh mới tin vào trí nhớ của mình và của người khác. Nhưng toàn bộ nhân loại sống và tạo ra ý nghĩa hầu hết dựa vào bộ nhớ. Một số ít người hiểu rõ điều này, nhưng không làm gì khác hơn, vì hồi tưởng tự động và tự nhiên xuất hiện dù không đầy đủ, kể cả, khi con người kêu gọi ký ức đến, nó cũng đến trên xe lăn, hoặc chống nạn, hoặc bò lết như kẻ tàn tật.
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
Năm mươi năm nhìn lại, sau ngày 30 tháng 04, 1975, cái dấu mốc lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam, nói chung, và người dân miền Nam nói riêng. Sự thật lịch sử về ngày này đã được phơi bày rõ ràng trên mọi phương tiện truyền thông, tin tức, và trong thế giới sử. Ai cũng đã rõ, phe thắng trận, sai, phe thua trận, đúng. Điều này không cần bàn cãi nữa; cho dù kẻ chiến thắng cố tình viết lại lịch sử Việt Nam theo ý mình khi sức mạnh của họ nằm trên nòng súng. Phe thua cuộc lại là phe thắng được nhân tâm.
Tháng Tư chuếnh choáng. Say chẳng phải vì rượu dẫu chỉ nhấp môi hoặc thậm chí trong đám bạn có kẻ chẳng uống giọt nào. Nhưng họ vẫn say như thường. Những hồi ức tháng Tư lần lượt xuất hiện như một chất men nhưng không thể làm người ta quên mà chỉ là giây phút hiếm hoi nhắc nhớ để rồi quên. Quên tạm thời nỗi niềm chất chứa mà không làm sao quên hẳn.
Hai tên đeo băng đỏ đưa tôi đến một căn nhà nằm trên đường Tôn Thất Thuyết. Nay mới biết là cơ sở kinh tài của Việt Cộng. Vào bên trong, tôi thấy có một số người bị bắt trước ngồi trên băng ghế đặt ở góc một phòng lớn rộng rãi. Họ ngước mắt nhìn tôi có vẻ ái ngại. Tôi biết những người ngồi đó là thành phần đặc biệt nằm trong danh sách tìm bắt của chúng. Nhìn họ, tôi thấy mấy người quen quen. Hình như họ là viên chức Chính Phủ trong tỉnh. Tôi được đưa đến ngồi cạnh họ. Tất cả đều im lặng, không ai nói với ai lời nào ngay cả khi bất chợt nhìn thấy tôi. Có lẽ im lặng để che đậy cái lý lịch của mình, làm như không quen biết nhau, nếu có khai láo cũng không liên lụy đến người khác.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.