Hôm nay,  

Bên Kia

10/03/202602:57:00(Xem: 291)

Bên Kia 

Mưa xuống chậm.

Không phải kiểu mưa có gì để nói. Chỉ là mưa, đều, nhỏ, như thứ gì đã quyết định rơi và không còn lý do để dừng lại.

Tôi ngồi đây từ lúc nào không nhớ. Chiếc ghế mây - lưng tôi đã quen nó. Chăn đắp qua đầu gối không phải vì lạnh, chỉ vì có những thứ cần được phủ lên dù không biết để làm gì. Bàn tay tôi nằm trên đùi, hai bàn tay của người đã học cách không nắm chặt nữa, vì nắm chặt tốn sức mà sức thì không còn nhiều để tốn.

Hơi thở vào phải nhớ. Hơi thở ra thì tự đi.

Mùi đất bốc lên từ khu vườn nhỏ trước mặt, mùi kim loại loãng trong nước, mùi rêu bị đánh thức, mùi của những thứ sống dưới mặt đất đang nhận ra đây là lúc của chúng. Tôi ngồi hít mùi đó và không nghĩ gì. Không nghĩ không phải vì bình an. Là vì có những buổi chiều mà suy nghĩ trở thành việc quá lớn so với những gì còn lại trong người.

Rồi con cóc nhảy ra.

Nó chui lên từ khe gạch sát bồn hoa, chậm, như thể không phải nhảy mà được đất đẩy lên.

Tôi nhìn nó.

Da xù xì, sần, màu của bùn khô và rêu cũ. Không đẹp theo bất kỳ nghĩa nào người ta hay dùng chữ đẹp. Nhưng mưa rơi xuống lưng nó khác với mưa rơi xuống xi măng. Trên xi măng mưa vỡ ra và chảy đi. Trên lưng nó, từng giọt nằm lại một khoảnh khắc, như thể cần được hỏi xem có muốn vào không, rồi chậm chậm thấm xuống theo những rãnh nhỏ mà mắt thường không thấy.

Tôi từng đọc đâu đó rằng cóc uống nước qua da. Không có miệng uống. Không cần cúi xuống. Chỉ cần đứng trong mưa và để nước tự tìm đường vào. Da nó là cửa, là miệng, là phổi, là tất cả những gì cần thiết để tiếp nhận thứ trời cho.

Tôi nghĩ đến hai lá phổi của mình. Không phải bằng ngôn ngữ. Bằng cảm giác của chúng vào buổi sáng, nặng hơn buổi sáng trước một chút, nặng theo cách không đo được nhưng biết.

Con cóc không biết nó đang làm gì đẹp đến vậy.

Nó nhảy một cái, nhỏ, không đi đâu cả, chỉ để đặt chân xuống chỗ ướt hơn. Rồi đứng lại. Cái cổ họng phồng lên xẹp xuống theo nhịp mà tôi ngồi nhìn mãi không chán, không hiểu sao không chán. Có lẽ vì nhịp đó không hỏi gì. Không cần được kiểm tra, không cần được theo dõi, không cần kết quả để tiếp tục. Cứ phồng. Cứ xẹp. Cứ vậy.

Nó há miệng kêu một tiếng. Khàn, nhỏ, không vọng xa. Âm thanh đi được vài tấc rồi bị mưa nuốt mất. Nhưng nó đã kêu. Không phải để được nghe. Chỉ để rung lên trong chính lồng ngực nó, để cái rung đó xác nhận một điều gì đó mà không cần tên.

Tôi ngồi nghe tiếng kêu đó tan vào mưa và nghĩ, lờ mờ, có những thứ người ta làm không phải để đến đâu. Chỉ để làm. Chỉ để còn đang làm.


Bàn tay tôi trên đùi, không nắm, không buông, chỉ nằm.

Con cóc bắt đầu di chuyển về phía đường.

Từng cú nhảy ngắn, kiên nhẫn, như thể không gian trước mặt là thứ cần được thương lượng chứ không phải chinh phục. Nó dừng lại ở mép sân, nhìn qua bên kia đường, nơi có bãi cỏ hoang và mương nước đục mà từ đây tôi không thấy rõ nhưng biết là có.

Bên kia.

Tôi không biết bên kia với nó là gì. Không biết nó biết không. Có thể không có khái niệm bên kia trong người nó. Chỉ có mùi nước, mùi cỏ ướt, mùi của nơi da nó sẽ được thở đầy hơn. Cơ thể nó biết phải đi về hướng đó mà không cần hỏi tại sao, không cần biết có gì chờ, không cần tính xem đáng hay không đáng.

Tôi muốn nói với nó: ở đây thôi. Mưa bên này cũng vậy.

Nhưng tôi không nói. Vì biết nó không hiểu, và vì một phần rất nhỏ trong tôi nghĩ rằng có thể nó không cần hiểu, mới đúng.

Nó nhảy xuống đường.

Chiếc xe lao ra từ góc phố.

Không kịp nghĩ. Ánh đèn quét ngang, hắt lên lưng cóc một vệt sáng trắng chói rồi tắt ngay. Bánh xe lướt qua cách nó một gang tay, có thể chưa đến. Nước bắn tung, phủ kín thân hình nhỏ bé kia trong một giây.

Tôi không thở.

Tiếng xe mất dần về cuối phố. Mưa lại đều.

Con cóc đứng giữa đường, ướt hơn lúc nãy. Khựng lại đúng một nhịp, không hơn. Rồi tiếp tục nhảy.

Không ngoái lại. Không run. Không biết.

Nó không biết bánh xe vừa lướt qua. Không biết tôi vừa nín thở. Không biết khoảnh khắc đó tồn tại. Với nó, không có khoảnh khắc đó. Chỉ có mưa trước mặt, cỏ ướt bên kia, và da đang khát.

Nó nhảy thêm vài cái, dài hơn, về phía bãi cỏ hoang. Rồi biến mất giữa những thân cỏ tối. Chỉ còn vài vòng tròn nhỏ trên mặt nước mưa vừa tụ, lan ra, mờ dần, rồi mặt nước lại phẳng như chưa có con cóc nào từng đứng đó.

Tôi ngồi nhìn chỗ nó vừa mất đi.

Tay vẫn trên đùi. Chăn vẫn qua đầu gối. Hít vào vẫn phải nhớ, thở ra vẫn tự đi.

Ở đâu đó bên kia đường, trong bóng cỏ ướt, có một sinh vật nhỏ đang sống hoàn toàn, không thiếu một phần nào, không thừa một lo lắng nào.

Chỉ vậy thôi. Và chỉ vậy thôi đã là tất cả.

 

Tôi ngẩng mặt lên.

Để mưa rơi vào trán. Lạnh, nhỏ, không phân biệt.

Và trong khoảnh khắc đó, không từ đâu, một thứ gì đó bên trong tôi đặt xuống. Không phải vì xong. Không phải vì hiểu ra điều gì. Chỉ vì đã nắm lâu quá, tay mỏi, và mưa vẫn rơi.

Tôi ngồi đó và không nghĩ gì thêm nữa.

Chỉ ngồi.

Như con cóc đứng trong mưa.

Ngu Yên

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Bài viết “Đánh Trận Là Một Nghệ Thuật” đã được đăng trên “The Journal of Military History” số 68 vào năm 2004. Đây là một quyển báo rất có uy tín của quân đội Hoa Kỳ từ năm 1937, chuyên đăng những bài nghiên cứu có giá trị về lịch sử quân đội của mọi nơi trên thế giới. Dù đã ra đời mười sáu năm, bài viết này có một giá trị lịch sử đặc biệt vì người viết đã tham khảo rất công phu nhiều tài liệu của cả Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ và Bắc Việt. Bài viết này đã được Cố Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, Cựu Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa nhận định là chính xác đến 95%.
Máu đã đổ suốt từ thời chiến tranh cho tới lúc hòa bình 45 năm nay, những giọt máu của người dân trong nước khao khát nền Tự Do Dân Chủ vẫn còn chảy trong nhà tù với những bản án khắc nghiệt dành cho họ và những người đã chết đều có thật. Rất thật.
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Dù tôi đã sống trên đất Mỹ nhiều năm rồi, nhưng thỉnh thoảng, trong giấc ngủ hằng đêm, tôi vẫn gặp ác mộng về những lần trốn chạy kinh hoàng của một người bị săn đuổi. Choàng tỉnh dậy giữa đêm, tôi nhớ lại rất rõ nét những giấc mơ vừa trải qua, mồ hôi toát ra như tắm vì tôi như vẫn còn nghe văn vẳng đâu đây tiếng kẻng báo thức rõ mồn một, tiếng kẻng của các trại giam cộng sản Việt Nam được làm bằng những cái niềng (rim) xe hơi và dùng 1 thanh sắt gõ vào tạo thành 1 âm thanh vang rất xa. Ai từng ở tù hay bị đày ra những trại cưỡng bức lao động, hoặc trại tập trung cải tạo của cộng sản Việt Nam thì không bao giờ quên được tiếng kẻng này.
46 năm sau biến cố cưỡng chiếm Hoàng Sa 1974, và 32 năm sau vụ thảm sát Gạc Ma nơi quần đảo Trường Sa 1988, cả hai đều do bàn tay vấy máu của Trung Cộng. Không chỉ bằng vũ lực, Bắc Kinh nay còn viện dẫn Công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng ký như bằng chứng pháp lý gây khó khăn cho Việt Nam trong tranh chấp chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Kim lái chiếc xe Honda đi biếu cái bánh chưng cuối cùng vào lúc 7 giờ sáng ngày 30 Tết năm 1975. Tuy có bao nhiêu lần thức khuya học bài, nhưng đây là lần đầu tiên Kim thức trắng đến sáng, cái đầu nhức như búa bỗ, óc trống rỗng, người lâng lâng như muốn bay lên mây...
Mở đầu nhật ký tuần này xin được góp phần tưởng nhớ các nhân viên y tế, đặc biệt là các y tá (những thành viên trong đội ngũ thiên thần áo trắng ở tuyến đầu chống dịch bệnh Vũ Hán) ở khắp nơi trên thế giới đã "sinh nghề tử nghiệp". Tính đến đầu tháng 4 năm 2020, đã có hơn 100 "thiên thần áo trắng" qua đời vì bị lây nhiễm Coronavirus từ bệnh nhân, hơn một nửa là nhân viên y tế ở Ý.
Những dòng ký sự và nhận định sau đây, tường thuật lại những biến cố xảy ra tại Trường Y Sàigòn từ năm 1967-1971 và sau đó...do sự can thiệp của phái bộ Hội Đoàn Bác sĩ Mỹ -American Medical Association tại Saigòn (AMA-SAIGON) vào nội bộ Trường Y Saigon. Những sử liệu của bài nhận định này đều dựa trên những điều tường thuật của quyển sách thời danh SAIGON MEDICAL SCHOOL do 3 người viết: CH William Ruhe MD, Norman Hoover MD và Ira Singer PhD, tất cả ba vị này đều là nhũng người lãnh đạo và cố vấn cho cuộc can thiệp của phái bộ AMA vàoTrường Y Saigon từ năm 1967. Tập sách SAIGON MEDICAL SCHOOL do chính cơ quan AMA, xuất bản tại Mỹ năm 1988.
Dạo đó, đầu thập niên 70, dưới giàn hoa giấy, trong khoảng sân nhỏ nhà chúng tôi, thỉnh thoảng có những người lính thuộc mọi binh chủng của Quân lực VNCH. Họ ngồi hút thuốc, hay tay đàn miệng hát vì trong cư xá Đoàn Văn Cự ở Biên Hòa có khá nhiều chị đang học lớp 12 rất đẹp. Nhà chúng tôi ở đầu cư xá nên các chị thường phải đi ngang nhà chúng tôi trước khi về nhà mình.
Mẹ tôi bán thuốc tây để dành được một ít tiền cho chị em tôi đi vượt biên. Chuyến đầu mẹ cho ba chị em tôi đi nhưng bị đổ bể, đợt hai mẹ cho chị tôi đi với gia đình dì, và được Cap Anamur Đức vớt, đưa đến Đức vào năm 80. Một năm sau mẹ gửi hai anh em tôi cho cô chủ tàu ở Cần Thơ và chúng tôi được đưa lên tàu đánh cá nhỏ có 89 người.Thuyền rời bến, ngày đầu chúng tôi được phát nước uống, qua ngày thứ hai thì không còn giọt nước nào. Lúc đó vào tháng năm, nắng nóng, thuyền lại không có mui che nên ai cũng mệt lả, thuyền đông người lại quá chật hẹp không cựa quậy gì được, tôi chỉ cần nhút nhích một chút là bị người ta nhéo. Lúc đó tôi chỉ thấy chung quanh là biển rộng mênh mông, tôi nhớ nhà và cầu mong sao cho bị bắt để được về nhà lại.Trên thuyền bắt đầu có một chị bị sảng vì thiếu nước uống, rồi thì không biết ai đó lấy lon Guigoz truyền nước uống cho nhau nhưng ai hớp vô rồi cũng phun ra vì đó là nước biển, mặn quá, tôi cũng không ngoại lệ.
Trời Chicago cuối tháng Tư vẫn còn lạnh. Tuy thế anh em đi dự buổi họp điều-trị-tâp-thể đông hơn thường lệ. Nhiều anh em sĩ quan ở các nhóm khác, không phải họp hôm nay, họ cũng đến. Phòng họp dành cho buổi điều-trị-tập-thể của các anh em sĩ quan H.O. tại Asian Human Services -Chicago rộng rãi và tươm tất, được trang hoàng trang nhã với những bức tranh ấn tượng của Claude Monet, màu sắc hàì hòa gợi nhớ về một thuở thanh bình.
Thôi thì khỏi nói, mọi người tay bắt mặt mừng, ai ai cũng vui như hội. Bà Tám đầu hẻm oang oang: - Thằng nhỏ coi bộ phổng phao ghê vậy ta, hồi còn ở đây gầy nhom, da bánh mật. Nó qua bển một thời gian giờ thay da đổi thịt quá, nếu đi ngoài đường chắc tui nhận hổng ra. Cả nhà quây quần tíu tít, bia bọt khui lốp bốp. Tuị bạn ngày xưa bá vai kề cổ giờ cũng ra ông nọ bà kia hết trơn. Chỉ có mỗi thằng An là lẹt đẹt làm anh công chức quèn thôi!
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.