Hôm nay,  

Em Tôi

13/03/202600:00:00(Xem: 1270)

em toi
Chị Em- AI Gemini   
 
Em nhỏ hơn tôi đúng hai tuổi. Chúng tôi cùng chào đời vào tháng Ba, cách nhau hai ngày. Hồi nhỏ, chúng tôi trông sàn sàn nhau. Mạ chúng tôi thường may sắm cho hai đứa cùng lúc, từa tựa nhau. Tôi được bộ đồ có hình trái lê, em được hình trái táo. Nhưng em cũng có những ý thích riêng của mình. Mạ dẫn hai đứa ra hàng giày dép. Tôi chọn đôi dép màu ngà, không nổi, không chìm. Em chọn đôi dép quai màu hồng tươi chói chang, nổi bật trên bàn chân ham chạy nhảy, da dang nắng, đen thùi lui.
 
Suốt tuổi thơ, hai chị em có nhiều sinh hoạt chung, khắng khít bên nhau. Hai đứa bé con tưởng tượng mình là ca sĩ, vũ công, dùng kim băng, găm bốn góc của hai cái khăn tắm trên vai làm áo dài. Chúng tôi trình diễn hoạt cảnh có người con gái buông tóc thề, yểu điệu vuốt mái tóc... bum bê cụt ngủn. Hát múa chán chê, chúng tôi chuyển qua nấu nướng. Bộ nồi niêu chén bát đồ chơi bằng nhôm bé tí là gia sản quý báu của hai chị em. Cây trứng cá trong vườn cung cấp đầy đủ “thực phẩm” cho bếp núc chị em tôi. Trái trứng cá non xanh là bầu, trái chín đỏ là cà chua, lá cây là thịt bò. Chúng tôi òn ỉ xin Mạ chút cơm nguội bỏ vào nồi, bắt lên bếp nhôm, hai chị em phì phò đun củi lửa tưởng tượng nấu cơm. Chúng tôi đơm cơm vào chén, làm điệu bộ chan canh bầu và gắp thịt bò xào cà chua. Hai chị em sung sướng lùa mấy hột cơm khô queo vào miệng. Ôi, bữa ăn trẻ thơ sao ngon lạ lùng. Ăn xong, hai chị em mở trường dạy học. Đám học trò là những con thú bằng nhựa. Cô giáo say sưa giảng bài, lũ học trò thú nhựa nằm ngồi ngổn ngang. Tôi làm cô giáo thị uy la rầy, em tôi lồng tiếng cho con khỉ nhựa học trò vội vàng dạ thưa, làm học trò ngoan ngoãn. Hết giờ dạy học, hai chị em ra vườn trồng trọt. Thời tiểu học, chúng tôi không để ý những hoa lá “sang trọng” như hoa Ngọc lan, Trà mi... Chúng tôi chăm bẳm cây hoa “bình dân” Mồng gà màu đỏ thẫm. Bởi, cây hoa Mồng gà cho chúng tôi cơ hội phát triển “tài năng”. Chúng tôi lấy hoa đã già, lảy hạt nhỏ đen bóng, li ti như hạt é, cẩn thận gieo hạt đó đây trong vài ngóc ngách của vườn. Bận rộn chơi ô quan, đánh đũa cách mấy, hai chị em cũng không xao nhãng vườn tược. Khi thấy những cây Mồng gà con mọc nhu nhú, hai chị em vui mừng, ngắm nghía công sức của mình. Sau này, chúng tôi biết, cây Mồng gà rất dễ trồng, hạt rơi, cây tự động mọc lên, chẳng cần đến sự tiếp sức của chúng tôi. 
 
Những trò chơi chạy nhảy, em thường có “kỹ năng” cao hơn tôi. Lúc chơi u mọi, tôi bị phe kia bắt, em u u hơi thiệt dài, mạnh dạn xông vào cứu tôi. Chân cẳng thoăn thoắt, em nhảy cao, nhảy xa rất ngoạn mục khi chơi đi chợ, về chợ, nhảy cò cò, nhảy dây...
 
Tôi vào mẫu giáo, bắt đầu học vần. Rồi vào tiểu học, bắt đầu tập đọc. Tuy sau hai tuổi, em vẫn đồng hành với tôi. Nghe tôi học bài, em chăm chú nhìn tôi, bắt chước đọc theo. Tôi đọc đến đâu, em đọc theo đến đó, mặc dù em chẳng biết mặt chữ. Lên trung học, chúng tôi chơi chung bạn bè của nhau. Tôi theo em và các bạn cùng lớp em đạp xe ra biển Phú Thọ. Em theo tôi và bạn bè cùng lớp tôi đi cắm trại ở Lái Thiêu.
 
Năm 1975, Ba bị đi cải tạo, nhà cửa bị tịch thu, gia đình tứ tán. Mạ thu xếp cho chúng tôi từ từ vào Sài Gòn với hai chị lớn. Mạ cân nhắc cho tôi vào Sài Gòn trước, vì tôi sắp sửa xong trung học. Em là út gái, ở lại Quảng Ngãi với Mạ, phụ giúp Mạ buôn bán hàng cơm ở bến xe và bới xách thăm nuôi Ba trong trại cải tạo. Hoàn cảnh gia đình ngày càng khó khăn. Tết năm 1977, ở Quảng Ngãi chỉ còn Mạ với em. Anh kế của tôi đi làm xa, tận mãi trên núi Trà Bồng. Mạ mở hàng cơm suốt năm để có thu nhập đều đặn thăm nuôi Ba và chu cấp cho bầy con ở Sài Gòn. Mạ nghỉ bán chỉ mỗi ngày mồng Một tết. Sang mồng Hai, chưa có khách ăn cơm, Mạ bán chè. Nghe tin Mệ nội mất ở Huế, Mạ tức tốc đón xe về quê cho kịp làm đám tang. Tiền bạc eo hẹp. Đầu năm Mạ ngại, không dám hỏi mượn tiền ai. Mạ chỉ gởi gắm em với gia đình hàng xóm. Mạ nấu sẵn 30 chén chè nếp đậu phụng có gừng, dặn em bày bán, để có tiền tiêu trong mấy ngày Mạ vắng nhà. Ở với Mạ thêm một năm, em bị chính quyền địa phương làm khó dễ, việc học hành muôn vàn trắc trở, có nguy cơ thất học. Em đành phải xa Mạ, xa Quảng Ngãi, vô Sài Gòn ở với các chị em.
 
Qua Đức, hai chị em trở lại trường trung học để lấy tú tài. Chúng tôi xin nhà trường cho ở chung phòng trong ký túc xá. Hai chị em học khác lớp, nhưng vẫn luôn bên nhau trong nhiều sinh hoạt. Chơi vũ cầu trong sân sau của trường. Rủ nhau đi xem phim xưa ở rạp xi nê của làng. Tham gia những buổi disco dã chiến của học trò trong ký túc xá... 
 
Ngày tháng trôi qua, tôi lập gia đình. Vài năm sau, em cũng ra riêng. Chúng tôi vừa đi học, vừa gầy dựng gia đình nhỏ của mình. Ngoại trừ người anh cả du học từ năm 1971, vợ chồng em là người đầu tiên trong họ hàng mua nhà ở Đức. Như có sự sắp đặt của Ơn Trên, Ba Mạ và hai thằng em út dọn vào ở chung với gia đình em, trong ngôi nhà mới mua. Ông bà Ngoại đã có được những năm tháng hạnh phúc, vui vầy bên bầy cháu ngoại. Nhà của vợ chồng em là nơi hội ngộ của đại gia đình. Thời gian Mạ lâm bệnh, thường xuyên ra vào bệnh viện và cần chăm sóc đặc biệt, em đã xin bớt giờ làm việc. Mỗi tuần em làm việc bốn ngày, dành một ngày trống để có thể đưa Mạ lui tới bác sĩ. Chồng em ghé vai gánh việc lo cho ba đứa con, để em yên tâm chăm sóc Mạ. Bầy con mười đứa của Ba Mạ ở rải rác từ cực bắc xuống cực nam nước Đức. Chúng tôi thay phiên nhau vào những cuối tuần, ngày lễ, hoặc lấy ngày phép thường niên để về lo cho Mạ. Nhưng em vẫn là người gần Mạ nhiều nhất. Đã bao lần, nửa đêm, nửa hôm, em ngồi trong xe cấp cứu theo Mạ vào bệnh viện. 
 
Hai chị em có cuộc sống riêng của gia đình nhỏ, với chồng, với con. Nhưng chúng tôi vẫn có những lúc “sống chung”. Biết sở thích của nhau, thấy hoa lan đẹp, tôi mua hai chậu, cho em, cho tôi. Em đi coi triển lãm hàng mỹ nghệ, thể nào cũng tìm món quà đặc biệt cho tôi. Hơn nửa thế kỷ trước, hai chị em tôi, hai mái đầu xanh ríu rít bên nhau trong niềm vui trẻ thơ. Ngày nay, tóc trên đầu của cả hai, muối đã lấn tiêu, chúng tôi vẫn có những dịp rù rì kể chuyện nọ, chuyện kia. Hơn hai chục năm, vì công việc, tôi ở cách xa em gần 500 cây số. Bây giờ, duyên lành đưa đến, tôi dọn nhà, hai chị em ở gần nhau. Thả bộ mười phút, chúng tôi gặp nhau, để ngồi tán gẫu hàng tiếng đồng hồ, để trao đổi chậu hoa xinh xinh, để trình làng món ăn mới học...
 
Mới đây, có dịp bốn chị em gái đi chơi chung. Chúng tôi chụp hình cho nhau. Em kể, em khoe tấm hình của tôi với các bạn. Trong hình, tôi đội mũ lát, ngồi nghiêng nghiêng, không rõ mặt. Các bạn em khen xinh, em cười cười: “Không phải tao đâu. Đó là hình chị tao mà.” Tôi mỉm cười, chợt nhớ chuyện ngày xưa của em. Lúc xong tiểu học lên trung học, học trò có lệ tặng ảnh, gọi là để làm kỷ niệm những ngày xa nhau... Hồi ấy, em đã lấy hình tôi tặng cho bạn em. Đó, mấy chục năm sau, em vẫn là nhỏ em ngồ ngộ, đáng yêu ghê chưa.   
 
Hôm nay sinh nhật em. Mừng sinh nhật em. Cám ơn Ba Mạ, ngày này mấy chục năm trước đã mang em vào đời. Cám ơn em luôn tô những màu sắc hài hòa lên bức tranh gia đình. Chúc em được những ngày tháng trước mặt rộn ràng niềm vui, tiếng cười. Em tận hưởng cuộc sống an lành trong ngập tràn yêu thương của gia đình nhỏ, của gia đình lớn, của bạn bè, của nhân gian... nhé em tôi.
 
Hoàng Quân
 

Truyện đầu tiên kể nơi đây là kể về một tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca. Khi đó, ngài được gọi là một vị Bồ Tát. Ngày xưa rất là xưa, có hai người thợ săn, là hai vị thủ lĩnh của hai ngôi làng gần nhau. Hai vị trưởng làng đã lập một giao ước rằng nếu con của họ tình cờ khác giới tính, họ sẽ sắp xếp cho hai đứa con này kết hôn với nhau. Đó là một thời phần lớn hôn nhân là do sắp xếp của ba mẹ. Một vị trưởng làng có một cậu con trai được đặt tên là Dukūlakumāra, vì cậu bé được sinh ra trong một tấm vải bọc đẹp; vị trưởng làng kia có một cô con gái tên là Pārikā, vì cô bé được sinh ra ở bên kia con sông. Khi chàng trai và cô gái lớn lên, cha mẹ hai bên đã kết hôn cho hai người con này. Tuy nhiên, chàng trai Dukūlakumāra và cô gái Pārikā đã có nhiều kiếp tu, cùng giữ hạnh trong sạch, cho nên cô dâu và chú rể cùng cam kết bí mật với nhau rằng hai người sẽ ở chung nhà như vợ chồng, sẽ yêu thương nhau như vợ chồng nhưng sẽ không làm mất hạnh trong sạch của nhau.
Rõ ràng thằng bé đã thức. Nhưng khi An bước đến bên giường, mắt cu cậu nhắm tịt lại vờ như đang ngủ. An cù vào nách con : — Giả bộ này. Giả bộ này… / Bin uốn éo người, cười khanh khách. An xốc con dậy, hôn vào đôi má phúng phính: / — Con đánh răng rồi ti sữa cho ngoan nhé. Mẹ đi làm đây. / Bin choàng vòng tay nhỏ xíu quanh cổ mẹ, giọng ngọng nghịu: / — Mẹ ứ đii… / Bà đưa tay đỡ lấy cu Bin: / — Sang đây bà bế. Chiều mẹ lại về với Bin nào. / Chỉ nũng nịu với mẹ chút thôi, chứ Bin rất ngoan. Chưa bao giờ em khóc nhè, vòi vĩnh như những đứa trẻ khác. Sự hiểu chuyện của con, nhiều khi làm An nghe buốt lòng.
Chiếc ghế đá hầu như rất quen thuộc, dù nó cũng như mọi chiếc ghế khác trong công viên. Tháng Sáu. Bầy ve kêu inh ỏi. Chúng vô tư thật! Đoan ngồi xuống. Mấy buổi chiều nay, tan học, Đoan ghé khu vườn rộng lớn này, như một người trở về, cảm giác thật khó tả. Chợt nghe trong đầu vẳng lại lời của một bài thơ:
Cuộc đời trung úy Đỗ Lệnh Dũng, một sĩ quan VNCH, là biểu tượng bi tráng của lòng trung thành, khí phách giữa chiến tranh tàn khốc, và là minh chứng cho nỗi đau kéo dài của những người lính và thương phế binh miền Nam sau cuộc chiến.
Lớn hơn anh Hợp một tuổi, tháng 4 năm 1975, anh Đăng chưa xong năm thứ nhất về Cơ khí ở Phú Thọ, vận nước xoay chiều, ba anh cũng phải đi "học tập cải tạo" như hơn ba trăm ngàn Sĩ quan QLVNCH. Là con trai đầu lòng, anh Đăng bỏ cả ước mơ, bỏ trường về quê, điền vào chỗ trống của người chủ gia đình mà ba anh bỏ lại. Anh sinh viên kính trắng của Phú Thọ bỗng chốc trở thành phụ xe, lơ xe, cũng đổi đời như gần hai chục triệu người dân miền Nam.
Bây giờ trời đã tối, nhiều người đi ngủ sớm. Bọn trẻ học bài dưới bóng ngọn đèn dầu ở ngoại ô, ngọn đèn đường gần bờ sông. Trước hàng rào kẽm gai, một người lính mang súng đi đi lại lại, một đôi tình nhân đi chơi về muộn. Ngọn đèn hỏa châu sáng bừng góc trời một lát rồi tắt. Người yêu quê hương đã đi ra khỏi mảnh đất của những hận thù dai dẳng mà vẫn muốn trở về. Người nông dân muốn cày lại thửa ruộng của mình. Người thợ sửa đồng hồ muốn ngồi lại cái ghế vải nhỏ thấp của mình sau tủ kiếng bày đồng hồ cũ và mới. Lò bánh mì chiếu sáng nhấp nhô bóng những đứa trẻ bán bánh mì đứng trước cửa sổ với bao tải lớn đựng bánh nóng mới ra lò. Con chim về ngủ muộn biến mất trong bụi cây chỗ anh đứng.
Em nằm im lặng nghe đêm thở | Tháng Tư mở đôi mắt trong đêm | Anh ạ, em nghe Tháng Tư khóc | Tháng Tư nhỏ những giọt lệ đen.(tmt)
Con người ngậm kín cái tốt vào lòng. Để khỏi mua lấy vạ hiềm nghi ghen ghét. Tôi nhìn đứa bé từ sau lưng, sự rung động khẽ của đôi vai nhỏ bé, vẻ hạnh phúc của cái gáy nhỏ xíu măng tơ. Phút này qua phút khác, có lẽ lâu lắm, cho đến khi đứa bé bắt đầu thỏa mãn, bú chậm lại, nhưng nó vẫn ôm lấy bầu ngực của người đàn bà lạ, ngủ thiếp đi.
Biển đêm như vô thức một màu đen mênh mông, nhưng biển chứa toàn bộ lịch sử con người từ lúc còn là tế bào phôi sống cho đến khi biến thành DNA, rồi từ thú vật tiến lên con người. Lịch sử đó đầy ngập dữ liệu nhưng chôn sâu dưới đáy nước. Hồi tưởng chỉ là những con sóng nổi dập dìu, cho dù sóng lớn dữ dằn trong bão tố vẫn không mang được hết đáy nước lên trên mặt. Vì vậy, biển lúc nào cũng bí mật. Vô thức cũng bí mật. Càng gây thêm khó khăn để chứng minh sự thật vì vô thức có khả năng biến đổi dữ liệu hồi tưởng. Chỉ những người thiếu bản lãnh mới tin vào trí nhớ của mình và của người khác. Nhưng toàn bộ nhân loại sống và tạo ra ý nghĩa hầu hết dựa vào bộ nhớ. Một số ít người hiểu rõ điều này, nhưng không làm gì khác hơn, vì hồi tưởng tự động và tự nhiên xuất hiện dù không đầy đủ, kể cả, khi con người kêu gọi ký ức đến, nó cũng đến trên xe lăn, hoặc chống nạn, hoặc bò lết như kẻ tàn tật.
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
Năm mươi năm nhìn lại, sau ngày 30 tháng 04, 1975, cái dấu mốc lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam, nói chung, và người dân miền Nam nói riêng. Sự thật lịch sử về ngày này đã được phơi bày rõ ràng trên mọi phương tiện truyền thông, tin tức, và trong thế giới sử. Ai cũng đã rõ, phe thắng trận, sai, phe thua trận, đúng. Điều này không cần bàn cãi nữa; cho dù kẻ chiến thắng cố tình viết lại lịch sử Việt Nam theo ý mình khi sức mạnh của họ nằm trên nòng súng. Phe thua cuộc lại là phe thắng được nhân tâm.
Tháng Tư chuếnh choáng. Say chẳng phải vì rượu dẫu chỉ nhấp môi hoặc thậm chí trong đám bạn có kẻ chẳng uống giọt nào. Nhưng họ vẫn say như thường. Những hồi ức tháng Tư lần lượt xuất hiện như một chất men nhưng không thể làm người ta quên mà chỉ là giây phút hiếm hoi nhắc nhớ để rồi quên. Quên tạm thời nỗi niềm chất chứa mà không làm sao quên hẳn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.