Hôm nay,  

Em Tôi

13/03/202600:00:00(Xem: 58)

em toi
Chị Em- AI Gemini   
 
Em nhỏ hơn tôi đúng hai tuổi. Chúng tôi cùng chào đời vào tháng Ba, cách nhau hai ngày. Hồi nhỏ, chúng tôi trông sàn sàn nhau. Mạ chúng tôi thường may sắm cho hai đứa cùng lúc, từa tựa nhau. Tôi được bộ đồ có hình trái lê, em được hình trái táo. Nhưng em cũng có những ý thích riêng của mình. Mạ dẫn hai đứa ra hàng giày dép. Tôi chọn đôi dép màu ngà, không nổi, không chìm. Em chọn đôi dép quai màu hồng tươi chói chang, nổi bật trên bàn chân ham chạy nhảy, da dang nắng, đen thùi lui.
 
Suốt tuổi thơ, hai chị em có nhiều sinh hoạt chung, khắng khít bên nhau. Hai đứa bé con tưởng tượng mình là ca sĩ, vũ công, dùng kim băng, găm bốn góc của hai cái khăn tắm trên vai làm áo dài. Chúng tôi trình diễn hoạt cảnh có người con gái buông tóc thề, yểu điệu vuốt mái tóc... bum bê cụt ngủn. Hát múa chán chê, chúng tôi chuyển qua nấu nướng. Bộ nồi niêu chén bát đồ chơi bằng nhôm bé tí là gia sản quý báu của hai chị em. Cây trứng cá trong vườn cung cấp đầy đủ “thực phẩm” cho bếp núc chị em tôi. Trái trứng cá non xanh là bầu, trái chín đỏ là cà chua, lá cây là thịt bò. Chúng tôi òn ỉ xin Mạ chút cơm nguội bỏ vào nồi, bắt lên bếp nhôm, hai chị em phì phò đun củi lửa tưởng tượng nấu cơm. Chúng tôi đơm cơm vào chén, làm điệu bộ chan canh bầu và gắp thịt bò xào cà chua. Hai chị em sung sướng lùa mấy hột cơm khô queo vào miệng. Ôi, bữa ăn trẻ thơ sao ngon lạ lùng. Ăn xong, hai chị em mở trường dạy học. Đám học trò là những con thú bằng nhựa. Cô giáo say sưa giảng bài, lũ học trò thú nhựa nằm ngồi ngổn ngang. Tôi làm cô giáo thị uy la rầy, em tôi lồng tiếng cho con khỉ nhựa học trò vội vàng dạ thưa, làm học trò ngoan ngoãn. Hết giờ dạy học, hai chị em ra vườn trồng trọt. Thời tiểu học, chúng tôi không để ý những hoa lá “sang trọng” như hoa Ngọc lan, Trà mi... Chúng tôi chăm bẳm cây hoa “bình dân” Mồng gà màu đỏ thẫm. Bởi, cây hoa Mồng gà cho chúng tôi cơ hội phát triển “tài năng”. Chúng tôi lấy hoa đã già, lảy hạt nhỏ đen bóng, li ti như hạt é, cẩn thận gieo hạt đó đây trong vài ngóc ngách của vườn. Bận rộn chơi ô quan, đánh đũa cách mấy, hai chị em cũng không xao nhãng vườn tược. Khi thấy những cây Mồng gà con mọc nhu nhú, hai chị em vui mừng, ngắm nghía công sức của mình. Sau này, chúng tôi biết, cây Mồng gà rất dễ trồng, hạt rơi, cây tự động mọc lên, chẳng cần đến sự tiếp sức của chúng tôi. 
 
Những trò chơi chạy nhảy, em thường có “kỹ năng” cao hơn tôi. Lúc chơi u mọi, tôi bị phe kia bắt, em u u hơi thiệt dài, mạnh dạn xông vào cứu tôi. Chân cẳng thoăn thoắt, em nhảy cao, nhảy xa rất ngoạn mục khi chơi đi chợ, về chợ, nhảy cò cò, nhảy dây...
 
Tôi vào mẫu giáo, bắt đầu học vần. Rồi vào tiểu học, bắt đầu tập đọc. Tuy sau hai tuổi, em vẫn đồng hành với tôi. Nghe tôi học bài, em chăm chú nhìn tôi, bắt chước đọc theo. Tôi đọc đến đâu, em đọc theo đến đó, mặc dù em chẳng biết mặt chữ. Lên trung học, chúng tôi chơi chung bạn bè của nhau. Tôi theo em và các bạn cùng lớp em đạp xe ra biển Phú Thọ. Em theo tôi và bạn bè cùng lớp tôi đi cắm trại ở Lái Thiêu.
 
Năm 1975, Ba bị đi cải tạo, nhà cửa bị tịch thu, gia đình tứ tán. Mạ thu xếp cho chúng tôi từ từ vào Sài Gòn với hai chị lớn. Mạ cân nhắc cho tôi vào Sài Gòn trước, vì tôi sắp sửa xong trung học. Em là út gái, ở lại Quảng Ngãi với Mạ, phụ giúp Mạ buôn bán hàng cơm ở bến xe và bới xách thăm nuôi Ba trong trại cải tạo. Hoàn cảnh gia đình ngày càng khó khăn. Tết năm 1977, ở Quảng Ngãi chỉ còn Mạ với em. Anh kế của tôi đi làm xa, tận mãi trên núi Trà Bồng. Mạ mở hàng cơm suốt năm để có thu nhập đều đặn thăm nuôi Ba và chu cấp cho bầy con ở Sài Gòn. Mạ nghỉ bán chỉ mỗi ngày mồng Một tết. Sang mồng Hai, chưa có khách ăn cơm, Mạ bán chè. Nghe tin Mệ nội mất ở Huế, Mạ tức tốc đón xe về quê cho kịp làm đám tang. Tiền bạc eo hẹp. Đầu năm Mạ ngại, không dám hỏi mượn tiền ai. Mạ chỉ gởi gắm em với gia đình hàng xóm. Mạ nấu sẵn 30 chén chè nếp đậu phụng có gừng, dặn em bày bán, để có tiền tiêu trong mấy ngày Mạ vắng nhà. Ở với Mạ thêm một năm, em bị chính quyền địa phương làm khó dễ, việc học hành muôn vàn trắc trở, có nguy cơ thất học. Em đành phải xa Mạ, xa Quảng Ngãi, vô Sài Gòn ở với các chị em.
 
Qua Đức, hai chị em trở lại trường trung học để lấy tú tài. Chúng tôi xin nhà trường cho ở chung phòng trong ký túc xá. Hai chị em học khác lớp, nhưng vẫn luôn bên nhau trong nhiều sinh hoạt. Chơi vũ cầu trong sân sau của trường. Rủ nhau đi xem phim xưa ở rạp xi nê của làng. Tham gia những buổi disco dã chiến của học trò trong ký túc xá... 
 
Ngày tháng trôi qua, tôi lập gia đình. Vài năm sau, em cũng ra riêng. Chúng tôi vừa đi học, vừa gầy dựng gia đình nhỏ của mình. Ngoại trừ người anh cả du học từ năm 1971, vợ chồng em là người đầu tiên trong họ hàng mua nhà ở Đức. Như có sự sắp đặt của Ơn Trên, Ba Mạ và hai thằng em út dọn vào ở chung với gia đình em, trong ngôi nhà mới mua. Ông bà Ngoại đã có được những năm tháng hạnh phúc, vui vầy bên bầy cháu ngoại. Nhà của vợ chồng em là nơi hội ngộ của đại gia đình. Thời gian Mạ lâm bệnh, thường xuyên ra vào bệnh viện và cần chăm sóc đặc biệt, em đã xin bớt giờ làm việc. Mỗi tuần em làm việc bốn ngày, dành một ngày trống để có thể đưa Mạ lui tới bác sĩ. Chồng em ghé vai gánh việc lo cho ba đứa con, để em yên tâm chăm sóc Mạ. Bầy con mười đứa của Ba Mạ ở rải rác từ cực bắc xuống cực nam nước Đức. Chúng tôi thay phiên nhau vào những cuối tuần, ngày lễ, hoặc lấy ngày phép thường niên để về lo cho Mạ. Nhưng em vẫn là người gần Mạ nhiều nhất. Đã bao lần, nửa đêm, nửa hôm, em ngồi trong xe cấp cứu theo Mạ vào bệnh viện. 
 
Hai chị em có cuộc sống riêng của gia đình nhỏ, với chồng, với con. Nhưng chúng tôi vẫn có những lúc “sống chung”. Biết sở thích của nhau, thấy hoa lan đẹp, tôi mua hai chậu, cho em, cho tôi. Em đi coi triển lãm hàng mỹ nghệ, thể nào cũng tìm món quà đặc biệt cho tôi. Hơn nửa thế kỷ trước, hai chị em tôi, hai mái đầu xanh ríu rít bên nhau trong niềm vui trẻ thơ. Ngày nay, tóc trên đầu của cả hai, muối đã lấn tiêu, chúng tôi vẫn có những dịp rù rì kể chuyện nọ, chuyện kia. Hơn hai chục năm, vì công việc, tôi ở cách xa em gần 500 cây số. Bây giờ, duyên lành đưa đến, tôi dọn nhà, hai chị em ở gần nhau. Thả bộ mười phút, chúng tôi gặp nhau, để ngồi tán gẫu hàng tiếng đồng hồ, để trao đổi chậu hoa xinh xinh, để trình làng món ăn mới học...
 
Mới đây, có dịp bốn chị em gái đi chơi chung. Chúng tôi chụp hình cho nhau. Em kể, em khoe tấm hình của tôi với các bạn. Trong hình, tôi đội mũ lát, ngồi nghiêng nghiêng, không rõ mặt. Các bạn em khen xinh, em cười cười: “Không phải tao đâu. Đó là hình chị tao mà.” Tôi mỉm cười, chợt nhớ chuyện ngày xưa của em. Lúc xong tiểu học lên trung học, học trò có lệ tặng ảnh, gọi là để làm kỷ niệm những ngày xa nhau... Hồi ấy, em đã lấy hình tôi tặng cho bạn em. Đó, mấy chục năm sau, em vẫn là nhỏ em ngồ ngộ, đáng yêu ghê chưa.   
 
Hôm nay sinh nhật em. Mừng sinh nhật em. Cám ơn Ba Mạ, ngày này mấy chục năm trước đã mang em vào đời. Cám ơn em luôn tô những màu sắc hài hòa lên bức tranh gia đình. Chúc em được những ngày tháng trước mặt rộn ràng niềm vui, tiếng cười. Em tận hưởng cuộc sống an lành trong ngập tràn yêu thương của gia đình nhỏ, của gia đình lớn, của bạn bè, của nhân gian... nhé em tôi.
 
Hoàng Quân
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Lớn hơn anh Hợp một tuổi, tháng 4 năm 1975, anh Đăng chưa xong năm thứ nhất về Cơ khí ở Phú Thọ, vận nước xoay chiều, ba anh cũng phải đi "học tập cải tạo" như hơn ba trăm ngàn Sĩ quan QLVNCH. Là con trai đầu lòng, anh Đăng bỏ cả ước mơ, bỏ trường về quê, điền vào chỗ trống của người chủ gia đình mà ba anh bỏ lại. Anh sinh viên kính trắng của Phú Thọ bỗng chốc trở thành phụ xe, lơ xe, cũng đổi đời như gần hai chục triệu người dân miền Nam.
Bây giờ trời đã tối, nhiều người đi ngủ sớm. Bọn trẻ học bài dưới bóng ngọn đèn dầu ở ngoại ô, ngọn đèn đường gần bờ sông. Trước hàng rào kẽm gai, một người lính mang súng đi đi lại lại, một đôi tình nhân đi chơi về muộn. Ngọn đèn hỏa châu sáng bừng góc trời một lát rồi tắt. Người yêu quê hương đã đi ra khỏi mảnh đất của những hận thù dai dẳng mà vẫn muốn trở về. Người nông dân muốn cày lại thửa ruộng của mình. Người thợ sửa đồng hồ muốn ngồi lại cái ghế vải nhỏ thấp của mình sau tủ kiếng bày đồng hồ cũ và mới. Lò bánh mì chiếu sáng nhấp nhô bóng những đứa trẻ bán bánh mì đứng trước cửa sổ với bao tải lớn đựng bánh nóng mới ra lò. Con chim về ngủ muộn biến mất trong bụi cây chỗ anh đứng.
Em nằm im lặng nghe đêm thở | Tháng Tư mở đôi mắt trong đêm | Anh ạ, em nghe Tháng Tư khóc | Tháng Tư nhỏ những giọt lệ đen.(tmt)
Con người ngậm kín cái tốt vào lòng. Để khỏi mua lấy vạ hiềm nghi ghen ghét. Tôi nhìn đứa bé từ sau lưng, sự rung động khẽ của đôi vai nhỏ bé, vẻ hạnh phúc của cái gáy nhỏ xíu măng tơ. Phút này qua phút khác, có lẽ lâu lắm, cho đến khi đứa bé bắt đầu thỏa mãn, bú chậm lại, nhưng nó vẫn ôm lấy bầu ngực của người đàn bà lạ, ngủ thiếp đi.
Biển đêm như vô thức một màu đen mênh mông, nhưng biển chứa toàn bộ lịch sử con người từ lúc còn là tế bào phôi sống cho đến khi biến thành DNA, rồi từ thú vật tiến lên con người. Lịch sử đó đầy ngập dữ liệu nhưng chôn sâu dưới đáy nước. Hồi tưởng chỉ là những con sóng nổi dập dìu, cho dù sóng lớn dữ dằn trong bão tố vẫn không mang được hết đáy nước lên trên mặt. Vì vậy, biển lúc nào cũng bí mật. Vô thức cũng bí mật. Càng gây thêm khó khăn để chứng minh sự thật vì vô thức có khả năng biến đổi dữ liệu hồi tưởng. Chỉ những người thiếu bản lãnh mới tin vào trí nhớ của mình và của người khác. Nhưng toàn bộ nhân loại sống và tạo ra ý nghĩa hầu hết dựa vào bộ nhớ. Một số ít người hiểu rõ điều này, nhưng không làm gì khác hơn, vì hồi tưởng tự động và tự nhiên xuất hiện dù không đầy đủ, kể cả, khi con người kêu gọi ký ức đến, nó cũng đến trên xe lăn, hoặc chống nạn, hoặc bò lết như kẻ tàn tật.
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
Năm mươi năm nhìn lại, sau ngày 30 tháng 04, 1975, cái dấu mốc lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam, nói chung, và người dân miền Nam nói riêng. Sự thật lịch sử về ngày này đã được phơi bày rõ ràng trên mọi phương tiện truyền thông, tin tức, và trong thế giới sử. Ai cũng đã rõ, phe thắng trận, sai, phe thua trận, đúng. Điều này không cần bàn cãi nữa; cho dù kẻ chiến thắng cố tình viết lại lịch sử Việt Nam theo ý mình khi sức mạnh của họ nằm trên nòng súng. Phe thua cuộc lại là phe thắng được nhân tâm.
Tháng Tư chuếnh choáng. Say chẳng phải vì rượu dẫu chỉ nhấp môi hoặc thậm chí trong đám bạn có kẻ chẳng uống giọt nào. Nhưng họ vẫn say như thường. Những hồi ức tháng Tư lần lượt xuất hiện như một chất men nhưng không thể làm người ta quên mà chỉ là giây phút hiếm hoi nhắc nhớ để rồi quên. Quên tạm thời nỗi niềm chất chứa mà không làm sao quên hẳn.
Hai tên đeo băng đỏ đưa tôi đến một căn nhà nằm trên đường Tôn Thất Thuyết. Nay mới biết là cơ sở kinh tài của Việt Cộng. Vào bên trong, tôi thấy có một số người bị bắt trước ngồi trên băng ghế đặt ở góc một phòng lớn rộng rãi. Họ ngước mắt nhìn tôi có vẻ ái ngại. Tôi biết những người ngồi đó là thành phần đặc biệt nằm trong danh sách tìm bắt của chúng. Nhìn họ, tôi thấy mấy người quen quen. Hình như họ là viên chức Chính Phủ trong tỉnh. Tôi được đưa đến ngồi cạnh họ. Tất cả đều im lặng, không ai nói với ai lời nào ngay cả khi bất chợt nhìn thấy tôi. Có lẽ im lặng để che đậy cái lý lịch của mình, làm như không quen biết nhau, nếu có khai láo cũng không liên lụy đến người khác.
Trong cuộc đời, ắt hẳn bạn đã nhiều lần bước trên lối mòn giữa một cánh đồng cỏ hay trong một khu rừng? Thoạt đầu, lối mòn ấy cũng đầy hoa hoang cỏ dại như chung quanh, nhưng những bước chân người dẫm lên qua ngày tháng đã tạo thành một con đường bằng phẳng. Ký ức chúng ta cũng tương tự như lối mòn ấy. Những trải nghiệm với cảm xúc mạnh mẽ trong quá khứ được nhớ đi nhớ lại như những bước chân đi trên lối mòn góp phần hình thành ký ức, và cả con người chúng ta. Người Mỹ gọi loại ký ức này là “core memory” mà ta có thể dịch ra Việt ngữ là ký ức cốt lõi. Với tôi, ký ức cốt lõi ấy là những gì xẩy ra cho tôi và gia đình trong quãng thời gian kể từ khi thị xã Ban Mê Thuột thất thủ ngày 12 tháng Ba năm 1975, kéo theo sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam chưa đến bẩy tuần sau đó. Tôi vẫn nhớ, và nhớ rất rõ.
Vốn là một quân nhân, sau khi triệt thoái từ miền Trung về Saigon, tôi được bổ xung cho một đơn vị pháo binh đang hành quân ở vùng Củ Chi, Tỉnh Tây Ninh, yểm trợ sư đoàn 25 Bộ BinhB. Khoảng ba tuần trước khi mất nước tôi bị thương ở chân. Nằm trong quân y viện Tây Ninh vài ngày, bác sĩ cho về nhà dưỡng thương một tháng ở Saigon.
Ngày xưa, thông thường, chồng của cô giáo được gọi là thầy, cũng như vợ của thầy giáo được gọi là cô. Cho dù người chồng hoặc vợ không làm việc trong ngành giáo dục. Nhưng trường hợp cô giáo tôi, cô Đỗ Thị Nghiên, trường Nữ Tiểu Học Quảng Ngãi thì khác. Chồng của cô, thầy Nguyễn Cao Can, là giáo sư dạy trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi. Cô Đỗ Thị Nghiên dạy lớp Bốn, trường Nữ Tiểu Học. Trong mắt nhìn của tôi, của con bé mười tuổi thuở ấy, cô Nghiên là một cô giáo rất đặc biệt. Cô nói giọng bắc, giọng nói trầm bổng, du dương. Tóc cô ngắn, ôm tròn khuôn mặt. Da cô trắng nõn nà. Có lần ngoài giờ học, trên đường phố của thị xã Quảng Ngãi, tôi thấy hai vợ chồng thầy Can, cô Nghiên đèo nhau trên xe gắn máy. Cô mặc jupe, mang kính mát, ngồi một bên, tréo chân, khép nép dựa vai thầy. Ấn tượng để lại trong trí của con bé tiểu học là hình ảnh của đôi vợ chồng sang trọng, thanh lịch, tân thời, cùng mang thiên chức cao cả: dạy dỗ lũ trẻ con nên người.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.