Hôm nay,  

Ngứa

03/04/202600:00:00(Xem: 86)

ngua

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa.

 
Đêm không ngủ được, Khoa nằm nhìn trần nhà.

Không có lý do gì. Đó mới là vấn đề.

Người ta mất ngủ vì lo lắng, vì đau, vì hối hận, những thứ đó anh hiểu. Nhưng Khoa nằm trong phòng máy lạnh mười bảy độ, nệm tốt, gối mềm, và não cứ chạy như một cái máy không có nút tắt mà không sản xuất ra thứ gì cụ thể. Chỉ là... nhiều loại hình ảnh, câu hỏi, câu trả lời nửa chừng, nhảy vọt từ nơi này sang nơi kia, từ người này sang người nọ… một loại trật tự hỗn loạn của người không biết mình đang nghĩ gì.

Chợt Anh dừng lại ở khuôn mặt của Linh.

Không phải theo cách nhớ thương. Mà theo cách người ta nghĩ đến một đôi giày đã mang quen, vẫn còn dùng được, vẫn không rách, nhưng mỗi sáng xỏ vào là có cảm gì đó không vui, có vẻ hơi nặng hơn hôm qua một chút.

Linh không làm gì sai. Đó chính là cái khó.

Nếu cô ấy làm gì sai thì đơn giản hơn nhiều. Nhưng Linh vẫn gọi anh mỗi tối, vẫn nhớ anh không ăn được hành, vẫn gửi những tin nhắn buổi sáng với dấu chấm than theo kiểu người thật lòng chứ không phải người đang cố gắng. Và Khoa đọc những tin nhắn đó với cảm giác của người nhận quà mà trong lòng biết mình sẽ không giữ nhưng lịch sự đủ để mỉm cười, rồi đặt xuống. Quên.

Em không làm gì sai cả. Câu đó sẽ là câu đầu tiên. Sau đó là gì? Là sự thật: anh chán, anh muốn chia tay, anh không xấu nhưng cũng không đủ tốt để ở lại. Giả yêu là việc anh không muốn làm, vừa mất thời giờ vừa tăng thêm khó chịu. Không biết người khác sao, khi giả yêu mà phải hôn là một việc, ớn. Anh đã nói những câu đó bốn lần rồi: công việc bận, hai đứa không hợp, anh không xứng đáng với em. Lần nào anh cũng tin vào chúng trong lúc nói. Điều đó có nghĩa là anh thành thật. Hoặc có nghĩa là anh giỏi tự thuyết phục đến mức không còn phân biệt được đâu là lý do, đâu là cái cớ.

Nhưng những câu nói đó bị nước mắt của Linh trôi đi. Nan giải. Anh muốn chuyện xấu nhưng muốn làm tốt. Ngày mai, anh phải dứt khoát hơn. Nói thẳng rồi quay lưng. Đừng kịp thấy nước ướt.

Nhưng quyết định đó không làm cho ý nghĩ dừng lại. Nó vẫn xoay. Xoay tròn. Rối quá. Người nóng lên. Rồi anh cảm thấy ngứa sau lưng.

Lúc đầu chỉ là một điểm nhỏ, giữa hai bả vai, đúng chỗ tay không với tới. Anh cựa mình. Ngứa hơn. Cái kiểu ngứa không chịu đứng yên một chỗ, gãi chỗ này nó nhảy sang chỗ khác, như thể nó biết anh đang đuổi theo.

Anh nhìn quanh, thấy cái nĩa ăn cơm trên bàn đầu giường, còn lại từ tô mì khuya hôm qua. Bốn móng nhọn, cán nhựa. Anh đưa ra sau lưng, cào.

Ừ. Đó rồi. Chà, đã quá.

Nhưng chỉ một lúc. Ngứa chạy. Lần này chạy nhanh và chạy chia nhánh ra khắp nơi.

Bỏ cái nĩa. Hai tay gãi nơi này, cào nơi kia, trước ngực, bã vai, sau mông, háng, nách, cườm tay, bắp chân, gãi cuồng loạn.

Tụt hết vải trên người. Gãi điên.

Não anh, không mời, không báo trước, bỗng bật lên hình ảnh cô Tư ở quê. Anh nhớ năm anh mười hai tuổi, đứng ngoài cửa buồng nghe người lớn nói chuyện bằng giọng thấp. Bà cũng bắt đầu như thế này. Ngứa sau lưng. Rồi lan ra. Rồi da bắt đầu dày lên ở những chỗ kỳ lạ, ngón tay bà mất cảm giác dần, không phải mất đột ngột mà mất từ từ, như ánh sáng tắt trong một căn phòng mà người ta quên không vào.

Nhà anh không ai nhắc tên bệnh. Chỉ nói cô bị bệnh ngoài da rồi im lặng theo cách người ta im lặng về những thứ làm xấu mặt dòng họ. Mãi lớn anh mới hiểu. Phong. Cùi.

Khoa gần như ngồi bật dậy.

Không. Vô lý. Thời đại này rồi.

Nhưng sợ hãi không cần lô-gic. Nó chỉ cần một khe hở nhỏ, rồi tự mình rót vào. Đêm hai giờ sáng, một mình, đang ngứa sau lưng và khe hở đó đủ rộng.

Môt hộc tủ trong trí nhớ kín được kéo ra. Đêm đó, anh đang ngủ, giật mình dậy vì tiếng động. Bà cô Tư trần truồng vừa gãi vừa xối nước bên bờ giếng cho bớt ngứa. Cảnh hai tay vung múa, đôi chân nhún nhảy, tóc tai như bụi cây. Cô Tư trông kinh dị.

Khi độ kinh dị giảm xuống, thân thể của người phụ nữ tuổi ba mươi dưới ánh trăng lu nổi bật, hằn sâu trong tâm trí cậu trẻ.

Đây là lần đầu tiên Khoa nhớ cô Tư ngứa. Những lần trước anh nhớ thứ khác.

Não anh chạy theo đường ray của nỗi sợ với cái tốc độ mà bình thường anh dùng để lên kế hoạch, để thuyết phục, để quyến rũ: nếu đúng thì sao? Da sẽ dày lên. Ngón tay mất cảm giác. Khuôn mặt mà Linh thường vuốt ve mỗi tối, sẽ như thế nào? Công việc. Bạn bè. Những ánh mắt trên đường. Tất cả những thứ anh dùng để biết mình là ai. Nếu những thứ đó mất đi thì còn lại gì?

Câu hỏi đó đứng giữa bóng tối, Khoa không có câu trả lời.

Không phải vì câu hỏi quá khó. Mà vì anh chưa bao giờ nghĩ đến nó. Người ta không hỏi còn lại gì khi mọi thứ vẫn còn nguyên đó.

Anh cố nằm im. Ai đó bày, ngứa, càng gãi càng ngứa. Anh ráng nằm im. Hai chân móc vào nhau. Hai tay nắm chặt nhau. Lấy gân toàn thân.

Cơn ngứa tràn lên, thủy triều với đàn cua trên mặt da. Rồi đàn kiến cắn dưới làn da. Rồi bầy ong chíc vào những nơi hiểm. Anh lấy gân. Gồng cứng.

Đúng như họ nói, sau một hồi thịnh nộ, cơn ngứa phát tiết, nó từ từ dịu xuống. Chậm. Tưởng yên. Lại nổi lên tuy nhẹ hơn. Rồi dần.

Anh thở phào.

Đột nhiên, nhớ móng tay Linh khá dài, cứng và nhọn. Anh cười khẽ. Giá mà lúc ngứa có Linh bên cạnh. Cô sẽ căng, hoảng và gãi loạn xạ, gia nhập với hai tay của anh. Cô sẽ muốn ngứa giùm anh. Cô đã từng nói, cô muốn buồn giùm anh, khi anh thất nghiệp. A, con nhỏ này tốt bụng. Cảm giác ấm cúng khi hít hơi vào. Có lẽ, anh không nên nói lời chia tay.

Anh quyết định: sáng mai đi bác sĩ. Thử máu.

Quyết định xong, anh thở ra khá dài. Trong cái thở ra đó có một thứ gì đó hơi giống nhẹ nhõm, hơi giống xấu hổ.

Cảm giác nóng rát khắp người nhất là sau lưng và ngực.

Anh nhận ra móng tay mình dài.

Không phải dài bất thường. Chỉ là lâu không cắt, và trong bóng tối nhìn lại những mảng anh vừa cào lên da, những vùng đỏ, rướm hồng, không ngứa nữa nhưng hơi đau.  

Móng tay anh mọc âm thầm, anh không để ý. Nghĩ đến chuyện móng tay lén mọc. Rồi bất ngờ, chúng nó giải quyết chuyện ngứa. Không gì thừa. Không gì thiếu.

Đến lúc nên cắt móng tay. Anh mở ngăn kéo đầu giường. Không có cái cắt móng tay. Vào nhà tắm. Lục hộp đồ. Không có. Lục ngăn kéo bàn làm việc, túi áo khoác sau cửa, hộc tủ giày nơi không cất gì ngoài giày, ngăn bếp nơi không nấu ăn bao giờ, vẫn không có.

Phòng anh bừa bộn theo cái kiểu anh gọi là thoải mái: giày đây, sách đó, áo vắt qua lưng ghế, ly nước để lăn lóc trên bàn cà phê. Anh quen nhìn qua nó, đi qua nó, như người ta quen nhìn qua những thứ không còn thấy nữa vì thấy hoài. Nhưng lúc này, đang lục, anh nhận ra rằng mình không biết bất cứ thứ gì của mình ở đâu.

Anh đạp lên chiếc tất, trợt chân, ngã.

Không nặng. Hông đập xuống sàn gỗ, đau nhói một cái rồi lan ra thành âm ỉ. Anh nằm yên. Không phải vì đau quá không đứng được, vì cảm giác mệt mỏi. Nằm đâu cũng được.

Bên ngoài, thành phố vẫn sống. Tiếng xe xa, tiếng gió qua khe cửa sổ không đóng kín bao giờ vì anh chưa bao giờ để ý sửa. Trong căn phòng, mớ đồ đạc vừa lục tung nằm im như bằng chứng. Cái nĩa bốn móng nhọn vẫn trên giường.

Kỳ lạ, mọi thứ đều có vị trí của nó đúng vào không gian và thời gian. Cho dù chúng bị xáo trộn, bị xô đẩy, vất bỏ, kể cả con người, mà vẫn đúng chỗ. Tồn tại. Kể cả cơn ngứa, chọn xuất hiện đêm nay, mở lộ ra điều mà anh đã biết nhưng đêm nay thấy rõ thêm. Yêu không chỉ là cuồng nhiệt thân xác.

Anh bắt đầu xoay quanh sự kỳ lạ vừa khám phá. Một lát, ý nghĩ bắt đầu rối. Tại sao người ta lại muốn sắp đặt mọi thứ?  Hơi thở có cần phải sắp đặt hay lên kế hoạch không? Không cần sắp xếp gì cả, cứ trôi theo dòng chảy, đến đoạn cuối, anh sẽ ra sao? Hiện diện theo cách nào? Rối quá.

Rồi, mồ hôi. Người nóng lên. Cảm giác có thứ gì lăn tăn, một điểm nhỏ sau lưng, giữa hai bả vai. Bắt đầu.
 
Ngu Yên 
 

Đó là tháng 6-1989, lần đầu đến New York và vào một bảo tàng viện nổi tiếng ở đây, tôi tình cờ, tới chỗ treo một bức tranh trừu tượng khổng lồ, cao khoảng 2 mét, ngang khoảng 6 mét. Tôi kinh ngạc với sự giàu có ở đây, bảo tàng viện này dành riêng ra một căn phòng lớn, đơn giản, sang trọng, chỉ để trưng bày một bức tranh đó...
Tôi bị bắt tại huyện Tân Hiệp chiều ngày hai mươi, giáp Tết. Lý do, mang theo hàng không giấy phép. Thế là tiêu tan hết vốn lẫn lời mà tôi chắt chiu, dành dụm gần cả năm nay. Nhớ đến mẹ và gia đình trong những ngày Tết sắp tới, tôi vừa buồn vừa tức đến bật khóc. Xui rủi, biết trách ai. Tiễn, anh phụ lơ, đã cẩn thận cất dấu hàng cho tôi, vã lại anh cũng quá quen biết với đám công an trạm kiểm soát. Không ngờ chuyến nầy bọn công an tỉnh xuống giải thể đám địa phương, nên tôi bị “hốt ổ” chung cả đám. Đây không phải là lần đầu bị bắt, nhưng lại là lần đầu tiên tôi đi chuyến vốn lớn như vầy. Năm ký bột ngọt, năm ký bột giặt, hơn chục ống thuốc cầm máu và trụ sinh hàng ngoại. Bột ngọt, bột giặt không nói gì, nhưng hai thứ sau hiếm như vàng mà giới “chạy hàng” chúng tôi gọi là “vàng nước”. Nên thay vì đưa về khu tạm giam huyện chờ lập biên bản, hồ sơ xét xử tôi nghe bọn công an thì thầm, bàn tán giải thẳng về khám lớn tỉnh Rạch Giá.
Quỳnh Lâm báo tin sẽ đến Đức trong tuần lễ đầu tháng 10. Nisha vội vàng thu xếp “sự vụ lệnh“ để công du sang Đức. Nisha lo đi chợ sắm sửa đầy mấy tủ lạnh, tủ đá, để mấy cha con sống còn trong thời gian nữ tướng đi xa. Chúng tôi hồi hộp quá, ngày nào cũng thư từ, nhắn nhủ, dặn dò đủ điều tẳn mà, tẳn mẳn. Điện thư qua, về hoa cả mắt. Thư nào chúng tôi cũng nhắc nhở nhau giữ gìn sức khoẻ, vì đứa nào cũng “lão” rồi. Khi gặp nhau, tụi tôi nhất thiết phải đầy đủ tinh thần minh mẫn trong thân thể tráng kiện. Có hôm, đến trưa, chưa nghe tăm tiếng, tôi sốt ruột, xuất khẩu làm thơ... bút tre:
Sống ở đây an toàn và bình an gần như một trăm phần trăm trong hiện tại và tương lai, nhưng không thể bình thản hóa quá khứ. Cuộc chiến khốc liệt giữa thiên thần và ma quỉ luôn ám ảnh ông. Có những điều gì thao thức, âm thầm nghi hoặc, nhoi nhúc sâu thẳm trong ông. Lòng tin vào ông Gót có phần nào lung lay. Đông cảm thấy có lỗi khi nghi ngờ bố, người đã giúp đỡ, bảo vệ ông và Vá. Nhưng nghi ngờ là một thứ gì không thể điều khiển, không thể đổi đi, không thể nhốt lại. Nó vẫn đến, mỗi lần đến nó vạch rõ hơn, nhưng vẫn mù sương như đèn xe quét qua rồi trả lại sương mù.
Trâm gật đầu nhè nhẹ. Đoan nghĩ thật nhanh đến một cảnh diễn ra mỗi đầu tháng trong sân trường. Nơi đó, các sinh viên xúm xít cân gạo và các loại “nhu yếu phẩm”, mang phần của mình về nhà. Rồi thì trong khu phố, cảnh những người dân xếp hàng “mua gạo theo sổ” cũng diễn ra mỗi ngày. Nói “gạo” là nói chung thôi, thật ra trong đó phần “độn” chiếm đa số. Phần “độn” có thể là bo bo, có thể là bột mì, cũng có thể là khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô. Nồi cơm nấu từ gạo và một thứ khác được gọi là nồi “cơm độn.” Mỗi ngày hai bữa cơm độn. Bo bo thì quá cứng vì vỏ ngoài chưa tróc, nấu trước cho mềm rồi cho gạo vào nấu tiếp, trở thành một “bản song ca” chói tai. Khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô thường bị sượng, ghế vào cơm rất khó ăn. Chỉ có bột mì tương đối dễ ăn hơn, vì người nấu có thể chế biến thành bánh mì, nui hay mì sợi
Mùa đông, tuyết đóng dầy trên mái nhà. Ấy là lúc bà ngoại cũng lo là lũ chim - những con chim của ngoại - sẽ chết cóng. Nhưng bà không biết làm gì để cứu chúng nó. Ngoại đi tới đi lui từ phòng khách qua nhà bếp. Thở dài. Rên rỉ. Rồi lẩm bẩm, “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng.” Bà ngoại tội nghiệp những con chim chết lạnh. Sinh nhật ngoại, chúng tôi chung tiền mua quà. Một con sáo trong chiếc lồng tuyệt đẹp. Bà ngoại cưng nó hơn cưng chị em tôi. Cho nó ăn, ngắm nghía bộ lông đầy màu sắc của nó. Chăm chú lắng nghe tiếng hót véo von lúc chớm nắng bình minh và buổi hoàng hôn nắng nhạt. Rồi một buổi sáng nọ tiếng chim thôi líu lo. Bà ngoại chạy ra phòng khách. Hấp tấp tuột cả đôi guốc mộc. Con chim sáo nằm cứng sát vách lồng. Hai chân duỗi thẳng. Cổ ngoặt sang một bên. Con chim của ngoại đã chết. Bà ngoại buồn thiu cả tuần lễ. Bố mẹ tôi bàn tính mua con chim khác. Bà gạt ngang.
Tôi là người viết báo nghiệp dư. Từ khi khởi viết vào năm 1959, tay cầm viết luôn là nghề tay trái. Tôi sống bằng nghề tay phải khác. Cho tới nay, nghề chính của tôi là…hưu trí, viết vẫn là nghề tay trái. Tôi phân biệt viết báo và làm báo. Làm báo là lăn lộn nơi tòa soạn toàn thời gian hoặc bán thời gian để góp công góp sức hoàn thành một tờ báo. Họ có thể là chủ nhiệm, chủ bút, tổng thư ký, thư ký tòa soạn hay chỉ là ký giả, phóng viên. Nhưng tôi nghĩ người quan trọng nhất trong tòa soạn một tờ báo là ông “thầy cò”. Thầy cò ở đây không có súng ống hay cò bóp chi mà là biến thể của danh từ tiếng Pháp corrector, người sửa morasse. Morasse là bản vỗ một bài báo cần sửa trước khi in.
Sáu tuần. Nàng đã đi ra khỏi mụ mị từ trong mối tình hiện tại của mình. Cô bạn gái hỏi "Tỉnh chưa?". Tỉnh rồi, nhưng tỉnh không có nghĩa không yêu anh ấy nữa, chỉ là không còn mụ mị mê muội nữa thôi...
Trong bóng tối dày đặc, dọ dẫm từng bước một, hai tay vừa rờ vào hai bên vách hang động, vừa quơ qua quơ lại trước mặt, dù cố mở mắt lớn, chỉ thấy lờ mờ, nhiều ảo ảnh hơn là cảnh thật. Cảm giác bực bội vì đã trợt té làm văng mất ba lô, mất tất cả các dụng cụ, thực phẩm và nước uống cần thiết. Bối rối hơn nữa, đã rớt chiếc đèn bin cầm tay, mất luôn chiếc đèn bin lớn mang bên lưng và máy liên lạc vệ tinh có dự phòng sóng AM. Giờ đây, chỉ còn ít vật dụng tùy thân cất trong mấy túi quần, túi áo khoát và hoàn toàn mất phương hướng. Chỉ nhớ lời chỉ dẫn, hang động sẽ phải đi lên rồi mới trở xuống. Trang nghĩ, mình có thể thoát ra từ lối biển. Là một tay bơi có hạng, nàng không sợ.
Cô người Nha Trang, lớn lên và đi học ở đó. Cô sinh trưởng trong một gia đình gia giáo, mẹ cô đi dậy học, ông thân cô cũng là hiệu trưởng một trường trung học lớn ở Phú Yên. Năm 22 tuổi, cô học năm cuối đại học văn khoa Huế thì gặp gỡ chú Hiếu trong một dịp hội thảo sinh viên do các biến động thời cuộc miền Trung bắt đầu nhen nhúm. Chú Hiếu lúc đó đang theo cao học luật. Họ thành đôi bạn tâm giao tuổi trẻ, sau thành đôi uyên ương. Ba năm sau khi Trang vừa 25 tuổi, Hiếu đã nhậm chức chánh án tòa thượng thẩm.
Nhà trẻ kế bên bệnh xá. Trong góc một trại giam. Nhà trẻ có sáu đứa con nít. Bệnh xá có mấy bệnh nhân già. Coi bệnh xá là một tù nam nguyên là y tá ngoài đời. Coi nhà trẻ là một tù nữ án chung thân. Coi cả hai nơi ấy là một công an mà mọi người vẫn gọi là bác sĩ! Sáu đứa con nít đều là con hoang. Mẹ chúng nó là nữ tù bên khu B, đừng hỏi cha chúng đâu vì chúng sẽ không biết trả lời thế nào. Cũng đừng bao giờ hỏi mẹ chúng nó về chuyện ấy vì rằng đó là chuyện riêng và cũng là những chuyện rất khó trả lời. Thảng hoặc có ai đó được nghe kể thì lại là những chuyện rất tình tiết ly kỳ lâm ly bi đát… chuyện nào cũng lạ, chuyện nào cũng hay
Thăm nuôi năm thứ mười: trại Z30D Hàm Tân, dưới chân núi Mây Tào, Bình Tuy. Cuối năm 1985, mấy trăm người tù chính trị, trong đó có cánh nhà văn nhà báo, được chuyển từ trại Gia Trung về đây. Hồi mới chuyển về, lần thăm nuôi đầu, còn ở bên K1, đường sá dễ đi hơn. Cảnh trí quanh trại tù nặng phần trình diễn, thiết trí kiểu cung đình, có nhà lục giác, bát giác, hồ sen, giả sơn... Để có được cảnh trí này, hàng ngàn người tù đã phải ngâm mình dưới nước, chôn cây, đẽo đá suốt ngày đêm không nghỉ. Đổi vào K2, tấm màn hoa hòe được lật sang mặt trái: những dãy nhà tranh dột nát, xiêu vẹo. Chuyến xe chở người đi thăm nuôi rẽ vào một con đường ngoằn nghoèo, lầy lội, dừng lại ở một trạm kiểm soát phía ngoài, làm thủ tục giấy tờ. Xong, còn phải tự mang xách đồ đạc, theo đường mòn vào sâu giữa rừng, khoảng trên hai cây số.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.