Phật Tích

09/05/202219:45:00(Xem: 3642)

but_tung kinh

 


Chuyện tích xưa, nơi kinh thành Xá Vệ

Cung điện nguy nga, lộng lẫy cõi nhân gian

Vua Tịnh Phạn, trên ngai vàng tối thượng

Hoàng hậu Ma Da, ngôi phượng các uy nghi.

 

Nơi thượng giới, Đức Nhiên Đăng cổ Phật

Soi thấu muôn loài, nơi hạ giới trầm luân

Ngài kiếm tìm, hàng Thánh Đức hiển linh

Truyền Bồ Tát, Phật Thích Ca giáng trần.

 

Một ngày kia, nơi kinh thành Xá Vệ"

Thư các thâm nghiêm, thiên giới báo điềm lành

Hoàng hậu Ma Da sẽ hoài thai Thái Tử

Đức Thế Tôn, đại giác ngộ Đản Sanh.

 

Hoàng hậu Ma Da ngưuời "khai hoa nở nhụy"

Con đầu lòng, Thái Tử  Tất-Đạt-Đa

Hoàng Hậu qua đời, đột ngột mấy hôm sau

Lìa nhân thế, lên Cung Trời Đao Lợi.

 

Đoàn tùy tùng, đưa Ngài về Xá Vệ

Đến cổng thành, quân sỹ tướng cung nghinh

Rước kiệu Ngài, vào kinh thành tráng lệ

Gặp Vua Cha, Tịnh Phạn ngự ngôi cao.

 

Vua khoản đãi, tiệc tùng mừng Thái Tử

Mời công hầu, khanh tướng, khắp lân bang

Các đạo sỹ, Bà La Môn thượng phẩm

Chúc tụng Ngài, Thái Tử Tất Đạt Đa.

 

Tất Đạt Đa, nơi cung vàng điện ngọc

Sống êm đềm, trong nhung gấm cao sang

Nhân cách Ngài, vốn hiền từ, đôn hậu

Lâm Tỳ Ni, vườn thượng uyển dấu chân Ngài.

 

Thái Tử, Ngài, rất thông minh đĩnh ngộ

Thạo kiếm, cung, thông triết lý cao siêu

Luận văn chương, thi phú, rất phi phàm

Lầu kinh sử, thánh thư điều binh, tướng.

 

Một ngày kia, nước lân bang kén rể

Công chúa Đương Triều, vừa đến tuổi cập kê

Thái Tử lên đường, vâng Thánh lệnh Vua cha

Đoàn hộ giá, ngựa xe cùng phẩm vật.

 

Vua lân bang, đãi đằng đoàn dự thí

Nào Vương Tôn, Hoàng Tử khắp xa, gần

Tất Đạt Đa, Ngài song toàn văn võ

Thắng cuộc thi, thành Phò Mã đương kim.

 

Lời chúc tụng, râm ran trong tiệc cưới

Phò Mã đương triều, làm lễ kính ơn trên

Da Du Đà La, cùng Thái Tử nên đôi

Đoàn hộ giá, trở về Thành Xá Vệ.

 

Rồi ngày tháng trôi qua, Da Du Đà La sanh con quý

Thái Tử vui mừng, trong hạnh phúc vô ưu

Vua Tịnh Phạn, thiết triều mời quốc khách

Mừng La Hầu La, Thế Tử cõi Vương triều.

 

Một ngày nọ, du hành nhân thế

Bốn cổng thành, sinh, bệnh, lão thảm thương

Và nơi kia, tử thi nằm co quắp

Cảnh cơ hàn, manh áo rách che thân.

 

Ngài tra vấn, người hầu trai Sa Nặc

Những người kia, hàng dân dã bần cùng

Còn như ta, là Đương Kim Thái Tử

Sa Nặc ơi, ta có ngoại trừ không?

 

Sa Nặc đáp, rằng Ngài không ngoại lệ

Như muôn loài, vạn vật chốn trần gian

Cũng tử, sinh, cũng già, bệnh luân hồi

Không tránh khỏi, dù Ngài là Thái Tử.

 

Về Điện Ngọc, Ngài hằng đêm thao thức

Suy nghĩ cạn cùng, tìm nguyên lý cao thâm

Da Du Đà La, công chúa đến hỏi han

Ngài lơ đễnh, lắng sâu vào tư tưởng.

 

Vua Tịnh Phạn, lo rầu không kể xiết

Nên loan truyền, mời các bậc danh y

Ban vàng, bạc, ngựa, xe cùng châu báu

Chế linh đơn, thần Dược cứu Vua con.

 

Nhưng Thái Tử, vẫn không ngừng suy ngẫm

Ngài thưa trình, cùng Tịnh Phạn Vua Cha

Nêu ước nguyện, xuất cung tầm Đạo học

Mong muốn viên thành, chánh quả độ Nhân Sinh.

 

Vua Tịnh Phạn, phừng phừng cơn thịnh nộ

Truyền quân hầu, quản thúc Tất Đạt Đa

Và ngăn cản, Ngài không rời cung cấm

Bỏ ngai vàng, đi học Đạo Tầm Sư.

 

Cùng Sa Nặc, rời kinh thành Xá Vệ

Ngựa phi nhanh, lao vùn vụt trên đường

Rong ruổi đêm ngày, xa khuất nẻo trời mây

Xuyên làng mạc, băng núi dài sông rộng.

 

Đến bìa rừng, Ngài ghìm cương xuống ngựa

Trao hoàng bào, mặc lấy áo gai thô

Ngài dặn dò, người hầu trai lần cuối

Sa Nặc ơi, khuyên ngươi hãy đi xa

 

Ngài ân cần, thốt lên lời tha thiết

Ngươi theo ta, cũng đã bấy lâu rồi

Hoàng bào này, ngươi đổi vài nén bạc

Để phòng thân trong những lúc cơ hàn.

 

Sa Nặc khóc, trong giụa giàn nước mắt

Thái Tử ơi, xin trở lại Kinh Thành

Sao lìa bỏ uy quyền và ngôi báu

Chọn nơi này, chốn cùng cốc thâm sơn.

 

Sa Nặc ơi, hãy lau dòng nước mắt

Hãy vơi đi, bao thương cảm trong lòng

Hãy để ta, lìa cung vàng cõi tạm

Mong cầu tìm, nguồn chân lý cao siêu.

 

Ngài cầu học, bậc đại tiên, hiền triết

Bậc cao minh, xuất chúng trí siêu phàm

Bậc đại sư cái thế chốn thâm sơn

Bậc ẩn sỹ, nơi làng quê hẻo lánh.

 

Ngài làm bạn, cùng chim muông, thú dữ

Chốn rừng thiêng, suối mát khí trong lành

Ngồi tịnh thiền, bên gốc cây nghìn tuổi

Mặt trời lên, trăng tròn, khuyết, sao khuya.

 

Ngài thực hành, pháp môn tu khổ hạnh

Thân thể gầy gò, tiều tụy tựa xương khô

Nhấm nháp qua ngày, vài quả khô nhặt nhạnh

Năm tháng hao mòn, Ngài bền chí chuyên tâm.

 

Đệ tử Ngài, Kiều Trần Như năm vị

Theo pháp môn, tu khổ hạnh kiên trì

Không nản lòng, xao nhãng chí tâm tu

Cầu tinh tấn, mong đắc thành chánh quả.

 

Ngài phát nguyện, gắng suy tìm chân lý

Cội Bồ Đề, ngồi tĩnh tọa hành thâm

Ngài quán chiếu, lý vô thường, nhân quả

Luật trả vay, vay trả kiếp luân hồi.

 

Vì mải miết, gắng soi tìm chánh pháp

49 ngày, Ngài không uống không ăn

Thân thể hao mòn, da bọc xương tiều tụy

Đôi mắt mờ, chân bủn rủn tay run.

 

Ngài suy xét, pháp môn tu khổ hạnh

Không đạt thành, đạo lý quá cao thâm

Nếu thân này, cùng chánh Tâm hiện hữu

Mới viên thành, chánh giác độ Nhân Sinh.

 

Rồi ròng rã, bốn mưoi năm thuyết pháp

Giảng Đạo Độ Đời, Ngài điển nhãn khai thông

Cõi Ta Bà, Ngài vân hành cứu độ

Nơi Đạo Tràng, Ngài truyền pháp tùy duyên.

 

Đã bao đời, đã hằng thiên niên kỷ

Đạo pháp Ngài, gieo hạt giống Từ Bi

Trượng pháp Ngài, tỏa hào quang Hỷ Xả

Lưu dấu muôn đời, vạn kiếp Đức Từ Tôn

 

-- Chúc Thanh & Chúc Liên

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chiều về trên sông Giã từ vũ khí / Người đi qua đời tôi Dừng bước giang hồ
Những cái chết chưa bao / giờ có thật những cái / chết chưa bao giờ xảy / ra như chúng ta sinh
Vũ điệu không vần là một công trình nghiên cứu đồ sộ, nghiêm cẩn và sâu sắc do nhà thơ Khế Iêm viết rải rác từ trên 20 năm qua, gồm những bài viết chủ yếu là luận giải về thơ Tân Hình thức.
Tác giả bài thơ này là nhà thơ Mỹ Dana Gioia trích trong cuốn Rebel Angels: 25 Poets of The New Formalism, nhà xuất bản Story Line Press, 1996. Tôi đặc biệt yêu thích bài thơ.
LỜI PHI LỘ-Tôi được đọc bài thơ này lần đầu tiên khi nó được phổ biến trên báo VĂN, nếu tôi không nhầm, vào những năm 80 của thế kỷ trước. Có điều đáng chú ý cuối bài thơ báo VĂN có ghi rõ Vô Danh, nghĩa là không rõ tác giả. Nhưng tôi tin rằng báo VĂN biết rõ tác giả nhưng không tiện nói ra vì tác giả vào thời khoảng ấy còn ở trong nước. Chỉ cần đọc bài thơ qua một lần, xuyên qua văn phong, ai cũng cảm nhận tác giả của bài thơ này là Thanh Tâm Tuyền.
Em nhìn qua bờ tóc bạc của anh đi / Như nhìn qua khung cửa sổ
Kính tiễn Giác Linh Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ
Đen đúa. Sần sùi. Không đáng một xu / Dzụt gốc xoài. Quạ không thèm mổ / Quăng tận ổ. Kiến không thèm bu / Phơi giữa trại tù, cai tù không ngó
Loang loáng / chuông ngân / vong hồn những hạt bụi
Vũ Hán Những ngôi nhà cửa bị đóng đinh những cánh cổng bị bịt lại bằng những then gỗ hình chữ X người nhốt người trong đó không hề nghĩ họ sẽ sống thế nào nếu không còn thuốc nếu không còn thức ăn