Xã Hội Thiếu Đàn Ông

08/08/202417:12:00(Xem: 1578)
Potrait of Valentine 1937
Tranh: Roland Penrose
Portrait of Valentine (1937)




Buổi sáng nhỏ giọt trên những vạt rau bị dập
như giọt mồ hôi trên đường nét bàn tay tôi
Tôi bò trên mặt đất
với thân cây và miệng nhăn nheo
mặt trời nhô lên trong những kênh đào của đám lá khổng lồ
phục hồi nghĩa trang nơi trú ẩn những ngôi nhà
với cùng một lòng nhiệt thành xanh tươi dính
sức mạnh đáng lo ngại, lướt qua tâm trí tôi
sự phi lý của những nhóm người
trong dãy nhà san sát này
như lỗ chân lông trên da
trong khoảng không đau thương của không gian trên mặt đất
Tôi nghe thấy tiếng kêu của những chú chim mà người ta từng kể
rằng chúng hót và không thể lay chuyển như đá
Tôi thấy những đàn nhà đang gặm nhấm không khí
những nhà máy hót như chim từng hót
những con đường mất hút trong những vụ thu hoạch muối
những mảnh trời trở nên khô cằn trên rêu xanh
tiếng cót két của ròng rọc cho ta biết một cái gầu đang nổi lên trong giếng
chứa đầy máu trong suốt
bốc hơi dưới ánh mặt trời
không gì khác có thể làm phiền mạch điện này trên mặt đất
cho đến tối
run rẩy dưới hình dạng con bướm khổng lồ bị ghim chặt
ở lối vào một nhà ga bất động.

Pierre Unik
Nguyễn Man Nhiên dịch


Nguồn: Nguyễn Man Nhiên chuyển ngữ bài thơ "The Manless Society" của nhà thơ Pierre Unik, từ bản dịch tiếng Anh của David Gascoyne.
Pierre Unik (1909–1945) là một nhà thơ, nhà biên kịch và nhà báo siêu thực người Pháp. Unik là một trong những người cuồng nhiệt nhất của nhóm Siêu thực, từ năm 1925 đến năm 1932. Unik đã xuất bản văn bản Siêu thực đầu tiên của mình trên tạp chí La Révolution surréaliste. Là tác giả của hai tập thơ, ông cũng viết kịch bản. Ông đã làm việc với Luís Buñuel - một đạo diễn phim người Tây Ban Nha, trong ba bộ phim.

Năm 1940, Pierre Unik bị bắt trong một trại tù binh chiến tranh ở Silesia. Vào tháng 2 năm 1945, Unik trốn thoát khỏi trại tập trung và sau đó biến mất một cách bí ẩn. Ông được tuyên bố là đã chết, lúc đó là mùa đông ở Tiệp Khắc. Điều gì đã xảy ra với ông, rất ít thông tin được viết. Trong cuốn tự truyện My Last Sigh của Luís Buñuel, tác giả đã mô tả Pierre Unik là "một chàng trai trẻ tuyệt vời, thông minh và nóng nảy". Ông cũng than thở rằng "Unik đã hoàn toàn bị quên lãng!"

Bài thơ "Xã hội thiếu đàn ông" (The Manless Society) của Pierre Unik truyền tải một thông điệp mang tính viễn kiến: cách tự động hóa sẽ khiến nhân loại trở nên thừa thãi và cả tác động mà con người đã gây ra cho thế giới. Thực sự chúng ta quan trọng đến mức nào? Tầm thường đến mức nào? Hay chúng ta chỉ là những cục u của một xã hội bất ổn? Có lẽ Pierre Unik đã suy nghĩ vượt ra ngoài phạm vi đơn giản của công việc và giải trí và mối quan hệ yêu/ghét với thế giới hiện đại.
...

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Em làm sao biết được | khó khăn là bao nhiêu | Anh cũng không tìm được | món quà cho em yêu
Ngày hôm đó ở Ui-dong | mưa tuyết rơi | và thân xác tôi, người bạn đồng hành với linh hồn, | run rẩy theo từng giọt lệ rơi.
Đã ly biệt đến rồi sao? Đó là những ngày của tháng 11, giữa mùa thu 2023, qua điện thoại. Tắt. Ngẩn người. Giữa đêm khuya gửi bài thơ ngắn. Trên giường bệnh, những giây phút cuối cùng, thơ gửi qua email, Tuệ Sỹ gõ gửi lại mấy giòng thơ cuối. Là lời giã biệt. Vậy mà chưa hết, sau bài thơ của hai chị em, vài ngày trước khi viên tịch, điện thoại reo. Người nằm trên giường bệnh. Hỏi. Không trả lời. Lặng lẽ. Nghe Thầy em đọc lời kinh cuối. Nghe được tiếng cười qua sinh tử. Tắt. Một năm qua rồi! Lễ tiểu tường Tuệ Sỹ. Vô cùng thương nhớ. Nhã Ca
Có những cửa sổ | muốn được phóng thích khỏi khung | để chạy đùa với hươu nai | băng qua | cánh đồng dã thảo sau nhà.
bài thơ độc có thể đóng khung cơn cuồng nộ | rồi treo nó lên tường, | bài thơ độc có thể làm bồ đặt chân lên xứ Trung Hoa, | bài thơ độc có thể làm cho một tâm hồn tan vỡ bay lượn,
Anh đánh vảy một con sông Sông tuồn đi chín khúc Chiếc cọc nhọn đứng khựng Thất tung chim bói cá Thủy triều vá một tấm áo xanh Bờ đá vô tăm chìm nghỉm
Bài thơ này đăng trên Việt Báo vào ngày 10 tháng 8 2024. Người dịch nói rằng “…Bài này hợp với tinh thần Phật Giáo…” Tác giả Henry Wadsworth Longfellow là một nhà thơ nổi tiếng vào bậc nhất ở Mỹ trong thế kỷ 19. Trong tiểu sử không thấy nhắc ông có nghiên cứu về Phật Giáo. Có thể giải thích rằng những gì thuộc về chân lý, sự thật thì sẽ mãi mãi tồn tại, bất kể Đức Phật có thuyết giảng hay không.
tôi trôi về đâu? | cuốn theo dòng chảy về phía trước | hay giữa lưng chừng đâu đó dạt về sau
Vẫn mang tâm hồn hoang dại, ngu ngơ | Người lữ hành xuyên qua hai thế kỷ | Sao vẫn thấy | Xa lạ với chính mình | Trước những con đường | Trước phố chợ
tôi hát lẩm nhẩm | như bông sen tưới tỏa | ngợp ngời tôi làm thơ loạn kinh thiên | trên dưới ngang dọc bần thần | lúc hừng hực lúc câm