chút tháng tư | qua khung cửa mùa xuân

01/05/202517:59:00(Xem: 1336)
ann phong oil spill
Minh họa ANN PHONG

 

chút tháng Tư

 

tháng tư

có chút mưa ngoài vườn

lá hoa nói lời đầm ấm

như trái tim tình nhân mở rộng

 

tháng tư

có chút lệ trong lòng

xen qua khe hở

thấm ướt những thất thập mông lung

 

tháng tư

có chút chữ trên giấy cũ

hình ảnh chưa nhạt phai 

sợi tóc bạc thương thân ngày gió

 

tháng tư 

có chút đời lãng mạn

trái tim cằn cỗi nhìn trời mây

ký ức ngoi lên réo gọi

 

tháng tư 

có một chút gì 

thật nhớ thật thương… 

 

thy an 

cuối 04-2025

*

qua khung cửa mùa xuân


qua khung cửa

tôi thấy mặt trời và hàng lá xanh

như che giấu những bí ẩn

của buổi sáng mùa xuân cởi mở

 

tháng tư thức dậy

nghe một chút mỏi mòn

khát khao cháy lên như que diêm

soi sáng khe đời hôm nay sao mềm dịu

một lời cho sông một lời cho núi

một lời cho bước chân về vội

một lời cho bàn tay vẫy đưa

 

rồi nghe những tin thời sự

buồn bã lướt qua cỏ cây

bạo lực vẫn lan tràn

nước mắt rơi xuống đại dương chuyển động

kể lể cùng bạn già những chuyện nắng mưa

quơ tay vui đùa

thế giới tung tăng như con chim nhỏ

không đầu không cuối

 

có phải mùa xuân lững thững trở về?

tưởng tượng ngàn hoa nở trong tim

nhân ảnh nhảy mừng và ca hát

bên xác người im lặng

người đàn bà đọc kinh

tôi sẽ nhớ về ngọn đồi lộng gió

một chút tình thật khẽ

đậu lên giấc mơ thật ngắn

  

nụ cười của ai đi ngang quá khứ

hoa vàng hé nụ bên tường rêu

hoang dã những chậu sành rạn nứt

có điều gì đổi thay

hay mùa bình yên vẫn qua phố nhỏ ?

tự do đem lại hương tình yêu

thật nhỏ thật êm đềm

như trăm năm cổ tích…

 

thy an – 04-2025

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Gerald McCarthy vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ năm 17 tuổi, phục vụ tại Việt Nam trong hai năm 1966-1967, trong Tiểu Đoàn 1 Công Binh Chiến Đấu Hoa Kỳ (1st Combat Engineer Battalion) tại Chu Lai và rồi tại Đà Nẵng. Sau một nhiệm kỳ trong quân ngũ, McCarthy đào ngũ, bị bắt vào một nhà tù dân sự rồi chuyển vào quân lao. Những bài thơ đầu tiên của ông gom lại ấn hành trong thi tập War Story, ghi lại các suy nghĩ với kinh nghiệm tại Việt Nam. Sau đó, ông tham gia các hoạt động phản chiến và in nhiều thi tập khác. Nhà thơ D.F. Brown sinh năm 1948 tại Springfield, Missouri. Ông phục vụ trong Lục quân Hoa Kỳ từ 1968 tới 1977, trong đó từng giữ nhiệm vụ lính cứu thương trong tiểu đoàn Bravo, 1/14th Infantry tại chiến trường Việt Nam các năm 1969–70. Năm 1984, Brown in tập thơ đầu tay, nhan đề Returning Fire, trong đó, bài thơ ngắn nhất có nhan đề ghi bằng tiếng Pháp “L’Eclatante Victoire de Khe Sanh” (Chiến Thắng Huy Hoàng tại Khe Sanh).
Mariupol | không phải Sài gòn | mà trái tim tôi nặng trĩu | có bất công không | tôi và trái tim | đã chồng bốn mươi bảy năm của nỗi đau trường kỳ lên vai Mariupol
nói lời giã biệt với một ly cà phê không đường | có cần gì mật ngọt | một ngày nào hồi tưởng | mỉm cười ta đã thử mọi hương vị của tình yêu | mối tình không đi tới đâu, dấu chấm than tất nhiên là những hớp cà phê đậm
sau bấy nhiêu năm / con dốc không già hơn / không nghèo hơn / không trơ trọi hơn / nó chỉ biến / nó chỉ mất / không để lại một dấu tích...
tháng tư / mùa xuân trở mình / lung lay những ký ức và phế thải ngủ quên...
Trở về rồi, Thầy có thấy gì không? / Đôi mắt em, trên hàng cây phượng đỏ / Khi đầu hè hoa trổ bông rực rỡ / Sợ ngày chia tay lá khép chờ mong...
Chuyện tích xưa, nơi kinh thành Xá Vệ / Cung điện nguy nga, lộng lẫy cõi nhân gian / Vua Tịnh Phạn, trên ngai vàng tối thượng / Hoàng hậu Ma Da, ngôi phượng các uy nghi...
Mẹ giờ ở phía mây bay / Có khi tịnh độ phương Tây niết bàn / Có khi hồn phách miên man / Lối về quê với hàng hàng sương giăng...
em tôi sanh 7 tháng 5 / thua tôi năm tuổi / năm năm cuộc đời / rừng màu em mãi rong chơi / đêm rung hương bố / ngày vung cọ màu...
Nhã Ca với tập thơ đầu tay Nhã Ca Mới, đoạt giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1965. Giải Khăn Sô Cho Huế (1969) đoạt Giải Văn Chương Toàn Quốc về văn năm 1970, và Tuệ Mai đã đoạt giải Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1966 với thi phẩm Không Bờ Bến. Thơ. Họ là cột mốc đánh dấu cho sự chuyển mình khai phá bứt ra khỏi phong cách thi ca tiền chiến. Thi ngữ, thi ảnh nơi họ khơi gợi ở người đọc cảm xúc mới mẻ, thi pháp tuy còn giữ nhiều về thể luật của các loại thơ vần điệu, nhưng được chở dưới nhạc điệu cấu tứ mới – kể cả lục bát – nên cũng có thể nói họ đã cách tân những thể loại thơ này vào thời đó, đặc biệt, ở thể loại tự do, với Nhã Ca, một luồng gió mạnh thổi bật gốc rễ của trói buộc ngôn từ, định kiến.