Con Cá Lưu Vong

29/05/202512:24:00(Xem: 1436)
ann phong
Tranh Ann Phong

                                 

 

Sáng nay tôi đi chợ

mua nải chuối

mua mớ rau

rồi rẽ sang hàng Cá

 

Cá hôm nay khá nhiều

hai cái tủ kính bầy kín cá

năm mười cái thùng gỗ đựng đầy nước đá vụn

những con cá nhiều cỡ, nhiều màu nằm trên những viên đá lạnh

 

Những con cá mặc dù đã chết

nhưng vẫn còn tươi

những cặp mắt trong veo

những chiếc vảy lấp lánh

chúng có những cái tên nghe rất lạ

cái tên như ở một vùng sông nước nào

rất đỗi xa xăm

 

Không phải Cá Salmon, Cá Trout hay Cá Black Cod.…

mà người bản xứ quen mua

 

Chúng là những con Cá Nhập Cư

Tôi không biết chúng từ đâu tới

và ai đã kéo chúng vào bờ

hay chúng tự bơi vào lưới

 

Tôi cầm lên một con Cá

Bỗng nghe tiếng sóng dội quanh mình

 

Ở ngoài phố

Người ta đang lùng bắt những kẻ vượt qua rào cản

Những kẻ đang ẩn trốn trong thành phố

Họ bắt được

Và họ mang trả lại những cánh rừng

Những bãi cát

Những mỏm núi

Những bờ sông, bãi biển

Những con người khốn khỏ đó

Lại trở về nguyên quán

 

Có cả người Việt Nam

Dân tôi đấy

Những con người

Vẫn trốn ra đi

Sau 50 năm đất nước thanh bình

Những con người đáng thương đó

như những con cá lạ

đang nằm phơi mình trong thùng nước đá

 

Bờ bãi nào nhận con cá đã bơi đi.

 

Trần Mộng Tú
3/14/2025

 

 

*Chính phủ Panama vừa thả 7 người Việt Nam trong số 112 người bị Hoa Kỳ trục xuất, sau nhiều tuần họ bị nước này giam giữ tại một trại tị nạn xa xôi. Nhà chức trách Panama thông báo cho họ 30 ngày để rời khỏi đất nước, khiến nhiều người rơi vào tình trạng bấp bênh về mặt pháp lý. (VOA,3/14/2025)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Gerald McCarthy vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ năm 17 tuổi, phục vụ tại Việt Nam trong hai năm 1966-1967, trong Tiểu Đoàn 1 Công Binh Chiến Đấu Hoa Kỳ (1st Combat Engineer Battalion) tại Chu Lai và rồi tại Đà Nẵng. Sau một nhiệm kỳ trong quân ngũ, McCarthy đào ngũ, bị bắt vào một nhà tù dân sự rồi chuyển vào quân lao. Những bài thơ đầu tiên của ông gom lại ấn hành trong thi tập War Story, ghi lại các suy nghĩ với kinh nghiệm tại Việt Nam. Sau đó, ông tham gia các hoạt động phản chiến và in nhiều thi tập khác. Nhà thơ D.F. Brown sinh năm 1948 tại Springfield, Missouri. Ông phục vụ trong Lục quân Hoa Kỳ từ 1968 tới 1977, trong đó từng giữ nhiệm vụ lính cứu thương trong tiểu đoàn Bravo, 1/14th Infantry tại chiến trường Việt Nam các năm 1969–70. Năm 1984, Brown in tập thơ đầu tay, nhan đề Returning Fire, trong đó, bài thơ ngắn nhất có nhan đề ghi bằng tiếng Pháp “L’Eclatante Victoire de Khe Sanh” (Chiến Thắng Huy Hoàng tại Khe Sanh).
Mariupol | không phải Sài gòn | mà trái tim tôi nặng trĩu | có bất công không | tôi và trái tim | đã chồng bốn mươi bảy năm của nỗi đau trường kỳ lên vai Mariupol
nói lời giã biệt với một ly cà phê không đường | có cần gì mật ngọt | một ngày nào hồi tưởng | mỉm cười ta đã thử mọi hương vị của tình yêu | mối tình không đi tới đâu, dấu chấm than tất nhiên là những hớp cà phê đậm
sau bấy nhiêu năm / con dốc không già hơn / không nghèo hơn / không trơ trọi hơn / nó chỉ biến / nó chỉ mất / không để lại một dấu tích...
tháng tư / mùa xuân trở mình / lung lay những ký ức và phế thải ngủ quên...
Trở về rồi, Thầy có thấy gì không? / Đôi mắt em, trên hàng cây phượng đỏ / Khi đầu hè hoa trổ bông rực rỡ / Sợ ngày chia tay lá khép chờ mong...
Chuyện tích xưa, nơi kinh thành Xá Vệ / Cung điện nguy nga, lộng lẫy cõi nhân gian / Vua Tịnh Phạn, trên ngai vàng tối thượng / Hoàng hậu Ma Da, ngôi phượng các uy nghi...
Mẹ giờ ở phía mây bay / Có khi tịnh độ phương Tây niết bàn / Có khi hồn phách miên man / Lối về quê với hàng hàng sương giăng...
em tôi sanh 7 tháng 5 / thua tôi năm tuổi / năm năm cuộc đời / rừng màu em mãi rong chơi / đêm rung hương bố / ngày vung cọ màu...
Nhã Ca với tập thơ đầu tay Nhã Ca Mới, đoạt giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1965. Giải Khăn Sô Cho Huế (1969) đoạt Giải Văn Chương Toàn Quốc về văn năm 1970, và Tuệ Mai đã đoạt giải Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1966 với thi phẩm Không Bờ Bến. Thơ. Họ là cột mốc đánh dấu cho sự chuyển mình khai phá bứt ra khỏi phong cách thi ca tiền chiến. Thi ngữ, thi ảnh nơi họ khơi gợi ở người đọc cảm xúc mới mẻ, thi pháp tuy còn giữ nhiều về thể luật của các loại thơ vần điệu, nhưng được chở dưới nhạc điệu cấu tứ mới – kể cả lục bát – nên cũng có thể nói họ đã cách tân những thể loại thơ này vào thời đó, đặc biệt, ở thể loại tự do, với Nhã Ca, một luồng gió mạnh thổi bật gốc rễ của trói buộc ngôn từ, định kiến.