Hôm nay,  

Văn Hóa và Cải Cách

16/05/202420:51:00(Xem: 2393)
van hoa

VĂN HÓA
được hiểu một cách đơn giản là NHỮNG GÌ CÒN LẠI. Còn lại ở đây không có nghĩa là còn lại trong phút chốc, trong một giai đoạn ngắn mà là còn lại với ý nghĩa là tồn tại qua nhiều biến động, qua nhiều giai đoạn lich sử rất lâu dài cả trăm năm, cả ngàn năm mặc cho vật đổi sao dời. Trong suốt bốn nghìn năm lịch sử trong đó hơn một nghìn năm bị Tàu đô hộ và đồng hóa, người Việt Nam vẫn giữ được ngôn ngữ của mình, đó là cái còn lại quí báu nhất, thiêng liêng nhất. Tiếng Việt ( bao gồm tiếng nói và chữ viết) là một thứ văn hóa đặc biệt của người Việt, nó đã có từ thuở người Việt xuất hiện trên hành tinh này và tồn tại cho đến bây giờ. Chữ Việt dùng để ghi tiếng Việt theo cách phát âm đã có từ thời Alexandre de Rhodes, theo mẫu tự La tinh, đã trở thành chữ Quốc Ngữ từ mấy trăm năm, tồn tại đến ngày hôm nay và sẽ tồn tại lâu dài.
    Những ai có âm mưu xóa bỏ văn hóa, tiêu diệt một nền văn hóa, cho dầu nhân danh là cải cách , là cách mạng hay gì gì đi nữa, cũng  chỉ là những kẻ điên rồ vì điều này không thể thực hiện được. Sau năm 1975, người Cộng sản dùng bạo lực cưỡng chiếm miền Nam, họ chủ trương tiêu diệt nền văn hóa rất nhân bản, kế thừa từ nền văn hóa lâu đời của tổ tiên cùng nền văn hóa tiên tiến, tự do của Tây phương. Họ nói nền văn hóa thời Việt Nam Cộng Hòa là văn hóa đồi trụy, phản động. Họ cho người đi đến từng nhà để tịch thu và tiêu hủy tất cả sách vở, báo chí, kể cả sách giáo khoa, sách y học, phim ảnh, băng đĩa và mọi sản phẩm của nền văn hóa Việt Nam Cộng Hòa. Họ tịch thu các nhà sách, cửa hàng sách của tư nhân và bỏ tù chủ nhân các nhà sách đó. Họ lùng bắt và bỏ tù các văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, soạn giả…là những người đã làm ra những sản phẩm văn hóa, họ gọi những người làm văn hóa là “ biệt kích văn nghệ”. Những thứ không tịch thu được thì họ ra lệnh cấm phổ biến dưới mọi hình thức, thí dụ trong nhân dân, trong các trại tù thì họ cấm hát “ nhạc vàng ”. Người Cộng sản chủ trương tiêu diệt một cách toàn diện và triệt để nền văn hóa dân tộc bị họ xem như kẻ thù nhưng họ đã không làm được, họ đã thất bại. Sau gần năm mươi năm nền văn hóa nhân bản Việt Nam Cộng Hòa vẫn sống âm thầm trong quần chúng và trổi dậy mạnh mẽ trong mấy năm gần đây: Các sách báo, truyện, tiểu thuyết, văn, thơ, nhạc, phim ảnh, tuồng cải lưởng, sản phẩm văn học, nghệ thuật,…đã được in lại và phổ biến sâu rộng trong nhân dân. Một dẫn chứng : Các nhạc phẩm gọi là nhạc vàng, trong đó có giai điệu bolero đã phục hồi sức sống, đã được cổ vũ, được hát lại và trình bày trong các sân khấu, trong các cuộc thi hát từ Nam chí Bắc, từ trong nước ra đến hải ngoại. Lý do là gì ? Vì nó đã trở thành một thứ văn hóa, được người dân chấp nhận, đã ăn sâu vào tim óc, tình cảm của người dân thì không ai có thể thay thế, hủy diệt được. Người ta có thể dùng bạo lực để tiêu diệt một chánh quyền nhưng không thể dùng bạo lực để tiêu diệt một nền văn hóa. Để thực hiện chủ trương tiêu diệt nền văn hóa dân tộc, nhân bản và tiên tiến thời VNCH, người Cộng sản chỉ có thể làm được một việc là từ chối không dùng  một số từ ngữ rất hay trước đây và thay vào bằng những cụm từ xa lạ, vô nghĩa hoặc rất dở như hoành tráng, bức xúc, diễu hành, hộ khẩu, hộ chiếu, nhà trắng, hội chữ thập đỏ, lính thủy đánh bộ, xưởng đẻ, vân vân…Sau năm 1975 khi đem hàng từ trên xe xuống thì họ nói “giải phóng” xe, làm sạch hay dọn dẹp một nơi nào đó thì họ nói là giải phóng mặt bằng.( Chúng tôi sẽ trở lại đề tài này trong bài viết khác ) Hiện nay trên các trang mạng và báo chí Việt Nam ta thấy xuất hiện thường xuyên cụm từ “ tự sướng” mà người dùng nó không biết đó là một từ rất khiếm nhã, được dùng khi đề cập đến chuyện thủ dâm.
    Ông Bùi Hiền có bằng Tiến Sĩ, là Phó giáo sư, từng là hiệu phó trường đại học sư phạm ngoại ngữ Hà Nội, phó Viện trưởng viện Nội dung & Phương pháp dạy học phổ thông, sao lại không biết  và không rút ra được bài học về âm mưu tiêu diệt nền văn hóa Việt Nam Cộng Hòa của Cộng sản? Sao  lại đưa ra chủ trương cải tiến chữ Việt một cách ngớ ngẩn, điên rồ, bất khả thi ? Có người nói ông muốn làm chuyện đội đá vá trời để lưu danh muôn thuở ? Cũng có người nói đàng sau đề nghị cải tiến tiếng Việt của ông là một âm mưu chánh trị đen tối nhầm định hướng dư luận, muốn dư luận chú ý đến vấn đề do ông đưa ra mà quên đi những vấn đề nhức nhối khác đang xảy ra tại Việt Nam, sâu xa hơn là thực hiện âm mưu Hán hóa người Việt của Tàu qua con đường Văn Hóa, ngôn ngữ vì ông là người đã được Trung quốc đào tạo từ năm 1954 tại đại học nhân dân Trung Quốc ! Đây là vấn đề lớn khác, không nằm trong nội dung bài viết này nên chúng tôi không đề cập đến ở đây.
    Đặc điểm của chữ quốc ngữ là viết ra theo cách phát âm và mỗi chữ viết ra đều có ý nghĩa khác nhau. Thí dụ chữ cái C phát âm là cờ, CH phát âm là chờ. Ghép các chữ cái lại với nhau thành ra một chữ có ý nghĩa và cách đọc hoàn toàn khác nhau. Thí dụ CA đánh vần là cờ- a- ca, viết là CA. Chữ CHA đánh vần là chờ-a- cha, đọc là CHA, là người sinh ra mình, khác với CA, là đồ dùng để múc nước. Cũng vậy, chữ CHẶT hoàn toàn khác với chữ CẶT. Vậy mà ông Bùi Hiền đưa ra sáng kiến thay thế chữ CH và chữ TR bằng chữ C, hậu quả là ngôn ngữ tiếng Việt mới sẽ không còn chữ CHẶT nữa mà chỉ cỏn chữ CẶT thôi. Cũng như không còn chữ CHUYỆN và TRUYỆN nữa mà chỉ còn một chữ CUYỆN thôi ! Chữ CẶT thì đọc được nhưng đến chữ CUYỆN của ông Bùi Hiền thì đọc ra làm sao và ý nghĩa của nó là gì đây ?! Không ai hiểu được. Thật ra, bản thân ông Bùi Hiền không phân biệt được cách đánh vần, cách phát âm giữa mẫu tự C và Q ( cái cuốc và tổ quốc ). Ông nói hai chữ đó phát âm giống nhau cho nên ông bỏ nó và thay bằng K, đưa tới lối viết tầm bậy tầm bạ, làm rối loạn ngôn ngữ Việt Nam.
    Tiếng nói và chữ viết không thể tách rời nhau, chính nó là văn hóa của một dân tộc, không chỉ để ghi chép mà nó còn nói lên tính chất đặc thù của một dân tộc qua lịch sử, tôn giáo, phong tục tập quán, nhân sinh quan, giá trị đạo đức, triết lý sống của một dân tộc đó, thể hiện dưới hình thức ca dao, tục ngữ, truyện, tuồng, bài hát từ ngàn xưa cho tới bây giờ cùng với những sản phẩm văn hóa khác. Văn bản, chữ viết còn là phương tiện ghi chép, lưu giữ quan điểm , đường lối, chính sách của nhà nước từng thời kỳ cũng như phương tiện giao lưu hàng ngày, hàng giờ giữa cá nhân với nhau thì không ai có tư cách, quyền hạn, phương tiện để sửa đổi theo ý riêng của mình để làm sai lệch ý nghĩa ban đầu của nó. Chữ viết trong văn bản không chỉ dùng để đọc và hiểu mà từ đó người ta có thể thưởng thức cái hay, nét đẹp rất độc đáo chỉ riêng ngôn ngữ Việt Nam mới có như lời ca, tiếng hát, câu hò, điệu lý, từng cách luyến lái trong thơ ca của từng loại khác nhau. Thật ra, nhờ các dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng mà tiếng Việt cất lên thì êm ái nhẹ nhàng như là lời ru, nói mà giống như hát, không giống như tiếng Tàu, nói mà như cãi lộn vậy ! Trong khi đó thứ tiếng Việt cải cách của ông Bùi Hiền đưa ra thì hoàn toàn xa lạ với chữ quốc ngữ chúng ta, đọc lên thì nghe như đọc thần chú thì làm sao mà hát, hò cho được, nói chi là đi vào lòng người. Trừ những kẻ làm tay sai cho Tàu, những kẻ rắp tâm bán nước cho Tàu, riêng chúng ta, những người yêu nước và yêu mến tiếng Việt, muốn gìn giữ sự trong sáng cho tiếng Việt không thể cho phép và chấp nhận các cụm từ “Tiếng Việt” viết thành “ tiếq Việt”, “ giáo dục” thành ra “ zao zuk ”, “ trục trặc” trở thành “ cụk cặk”, “đi chợ” thành ra “di cợ”…
    Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du đã trở thành một tài sản thiêng liêng, quốc hồn quốc túy của dân tộc, được thế giới công nhận. Tác phẩm Truyện Kiều có giá trị về tư tưởng và văn chương, được dịch ra nhiều thứ tiếng. Từ giới trí thức tới giới bình dân, già cũng như trẻ, là người Việt Nam không ai mà không biết  đến Truyện Kiều, không ai mà không thuộc năm ba câu Kiều, nó được đưa vào chương trình văn học sử bậc trung học thời VNCH. Người ta không những đọc Kiều mà còn ngâm, vịnh, lẫy Kiều. Phạm Quỳnh, một nhà văn hóa, một học giả lỗi lạc, đã từng phát biểu ( trong ngày lễ giỗ Nguyễn Du 8/12/1924 ) “ Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn ”. Câu hỏi đặt ra cho ông Bùi Hiền là có sửa văn bản truyện Kiều và lịch sử theo lối chữ cải cách của ông hay không ? Nếu có thì sửa bằng cách nào ? Nếu không thì thế hệ trẻ em sau này học tiếng Việt theo chữ của ông sẽ không đọc được truyện Kiều cũng như kho tàng văn hóa đồ sộ của ông cha ta để lại cũng như không đọc, không hiểu được lịch sử oai hùng của tổ tiên từ thời dựng nước. Như vậy, con đường vong bản, mất gốc đã nhìn thấy trước mặt. Lúc đó ông chính là thủ phạm cắt đứt con đường sinh mệnh của dân tộc nối liền quá khứ, hiện tại và tương lai vì một khi hiện tại và quá khứ bị cắt đứt thì tương lai chỉ còn là màu đen u tối. Ngoài Nguyễn Du, Phạm Quỳnh, thế kỷ này đã có một Phạm Duy, nhạc sĩ tài ba, với lòng yêu nước, yêu tiếng Việt nồng nàn, được sống trong môi trường tự do, ông đã sáng tác và để lại một sự nghiệp âm nhạc đồ sộ với trên một ngàn bản nhạc mà đa số là nhạc hay, góp phần làm phong phú nền văn học nước nhà. Nhạc Phạm Duy đi vào lòng người, với sức lan tỏa mạnh, kêu gọi, đánh thức được lòng yêu nước, yêu tiếng Việt của người nghe bằng những ca từ, giai điệu thiết tha, êm ái, nhẹ nhàng và sâu lắng. Có ai nghe nhạc Phạm Duy mà không thấy tâm hồn lâng lâng, bay bổng với niềm thương cảm, yêu nước dạt dào : “ Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời….Mẹ hiền ru những câu xa vời…Tiếng nước tôi…bốn nghìn năm ròng rả buồn vui…Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi…’’
Rất may cho chúng ta và thế hệ con cháu sau này : Đến nay đã có những sự kiện, chỉ dấu cho thấy phương án cải cách tiếng Việt của ông Bùi Hiền đã bị phá sản : Cộng đồng mạng và nhân dân trong, ngoài nước kịch liệt lên án, phản đối, bộ Giáo Dục & Đào Tạo tuyên bố không đủ thẩm quyền, chánh phủ thì nói không có chủ trương cải tiến tiếng Việt trong lúc này.
 

Duy Nhân

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Thương nhớ. Cảm động. Ngậm Ngùi. Và ước mơ một ngày quê nhà sẽ có dân chủ, khi đó Sài Gòn sẽ được hồi phục tên cũ. Đêm nhạc Trần Chí Phúc với chủ đề Sài Gòn Một Thoáng 50 Năm vào chiều Thứ Bảy 19/4/2025 đã chạm rất ngọt ngào và cay đắng vào trái tim của những người con Sài Gòn.
“Năm nay mang một ý nghĩa đặc biệt sâu sắc, là cột mốc 50 năm kể từ ngày những người tị nạn Việt Nam đầu tiên đặt chân đến Hoa Kỳ. Nửa thế kỷ kiên cường, dựng xây và tái định nghĩa thế nào là người Mỹ gốc Việt. Trong suốt hành trình đó, nghệ thuật kể chuyện đã đóng một vai trò thiết yếu—lưu giữ lịch sử, mở rộng tương lai, và thắt chặt cộng đồng. Chính vì thế, chúng tôi vô cùng tự hào được mang đến cho quý vị VietBook Fest năm nay—không chỉ một lễ hội sách, mà một không gian để kết nối, đối thoại và tôn vinh Bản Sắc Người Việt 50 Năm.”
Ngày Thứ Bảy 29 tháng 3 năm 2025 tại Citadel Art Gallery, một buổi Ra Mắt Thơ kèm thêm Triển Lãm đã được tổ chức rầm rộ và được sự hưởng ứng nồng nhiệt của khách thưởng ngoạn. Buổi hội ngộ văn học, nghệ thuật hy hữu này có sự góp mặt của nhiều tác giả với nhiều hình thái nghệ thuật như hội hoạ, điêu khắc, nhiếp ảnh, văn, thơ, sách, và âm nhạc. Gần 200 quan khách hiện diện đã làm bầu không khí nghệ thuật bừng sáng.
Sự ra đi lặng lẽ của họa sĩ Nguyễn Đồng là một một dư vang trầm mặc trong ký ức nghệ thuật Miền Nam – một miền nghệ thuật từng sống động, tự do, nơi mà hội họa được đặt ngang hàng với văn học, triết học, và cả chính trị. Ông không những là một trong những họa sĩ tiêu biểu của thời Đệ Nhị Cộng Hòa, mà còn là nhân chứng của một nền văn hóa từng rực rỡ trước khi bị chôn vùi dưới lớp bụi chiến tranh và chính trị hóa nghệ thuật.
Buổi ra mắt tuyển tập "Nguyễn Thị Khánh Minh, Bằng hữu & Văn chương – Tạp chí Ngôn Ngữ ấn bản đặc biệt" cho thấy sự đóng góp, quý trọng của nhiều nhà văn, nhà thơ đối với nhà thơ nữ này. Độ dày sách này là 544 trang, dày gấp nhiều lần các thi tập trước kia của nhà thơ nữ này. Nơi đây cũng lưu giữ những ký họa, tranh bìa, thủ bút, thơ tặng, bình luận từ hơn 40 văn nghệ sĩ cho Nguyễn Thị Khánh Minh, trong đó có các tên tuổi lớn như Thầy Tuệ Sỹ, Bùi Giáng, Đinh Cường, Đinh Trường Chinh, Trịnh Cung, Trương Đình Uyên, Lê Thánh Thư, Đỗ Hồng Ngọc, và nhiều người khác.
Họa sĩ Hồ Thành Đức sinh năm 1940 tại Đà Nẵng, Quảng Nam. Ông tốt nghiệp Cao Đẳng Quốc Gia Mỹ Thuật Sài Gòn, sáng lập viên của Hội Họa sĩ Trẻ Việt Nam (1968-1975), Giáo sư hội họa Viện Đại Học Vạn Hạnh (1969-1975), Khoa trưởng ngành Họa Thực Tiễn tại Đại Học Phương Nam (1974-1975). Ông đã có rất nhiều cuộc triển lãm trong và ngoài nước. Tranh của ông cũng có mặt tại nhiều viện bảo tàng danh tiếng trên thế giới trong đó phải kể đến Viện Bảo Tàng Nghệ Thuật Smithsonian tại thủ đô Washington. Tranh của ông được đánh giá cao bởi nhiều cây bút phê bình hội họa trong và ngoài nước..
“Để có thể nối kết đồng cảm ý nghĩa và tình tự của một ca khúc với người nghe, người hát cần hiểu ca từ sâu sắc và rung động với tâm tình trong lời và nhạc.”
Một lần tôi bất chợt nghe Khánh Ly hát: Ta không thấy em từ bấy lâu nay, mùa mưa làm rừng đước dâng đầy/trên cao gió hát mây như tóc/tràm đứng như em một dáng gầy. Mỗi con lạch là mỗi xót xa, mỗi giòng sông là mỗi tuổi già, thành phố đâu đây khuất hình khuất dạng, cuộc chiến già nua theo mỗi tiếng ca…. (Thơ U Minh- Nguyễn Tiến Cung, Phạm Duy phổ nhạc.) Tiếnh hát của chị rời rạc, kể lể. Bài hát không có tiếng súng tiếng bom nào cả, nhưng qua cái giọng nhừa nhựa chẫm rãi của chị ta thấy như những trang sách viết về chiến tranh đang lật từng tờ và người lính đó đang bì bõm trong rừng đước U Minh. Anh không bao giờ còn gặp lại người yêu nữa. Anh tử trận hay người yêu đã bỏ đi xa? Kết thúc nào cũng buồn cả. Tôi nghe đi nghe lại nhiều lần đoạn hát giản dị này và lúc nào nghe cũng ứa nước mắt.
Lần đầu tiên tôi có cơ hội được một mình ngồi trò chuyện với cô Khánh Ly là một ngày của Tháng 3 cách đây tròn 15 năm – khi được sếp phân công phỏng vấn viết bài về sự có mặt của cô trong một đêm nhạc mang tên “Du Mục” của nhóm The Friends. Tôi vẫn nhớ như in lần đầu gặp gỡ đó – giữa Khánh Ly – người được xem như một trong những huyền thoại của làng âm nhạc Việt Nam, và tôi – một phóng viên mới bước vào nghiệp cầm bút chưa đầy 2 năm. Nơi cô hẹn tôi là quán phở Nguyễn Huệ của chú Cảnh ‘Vịt’ (chú Cảnh đã bỏ trần gian đi rong chơi ở chốn xa lắc xa lơ nào cũng đã vài năm). Hôm đó, chồng cô, nhà báo Nguyễn Hoàng Đoan, chở cô tới. Trong hơn một tiếng đồng hồ, tôi đã hỏi cô nhiều câu – phần lớn chả ăn nhập gì đến chương trình cô sắp tham gia – mà chỉ là những câu hỏi tôi tò mò muốn biết về Khánh Ly – một người được bao người ngưỡng mộ, bao người mơ ước được gặp mặt – lại đang ngồi đối diện tôi, cùng tôi uống cà phê trong quán phở, và làm tôi bị say thuốc lá
Người đàn bà ấy, đứng trên sân khấu với mái tóc buông dài, đôi chân trần và một ánh mắt không có gì ngoài sự thản nhiên. Người ta gọi bà là "nữ hoàng chân đất," nhưng bà không phải là hoàng hậu của bất cứ điều gì ngoài nỗi buồn nhân thế. Đó là sự thản nhiên của một người đã thấy hết những gì cuộc đời có thể mang lại: những đỉnh cao, những vực sâu, những ngày tháng của ánh hào quang và những đêm dài của sự cô đơn tuyệt đối. Nếu có một người nào hát về sự mất mát mà không làm cho nó trở nên ủy mị, nếu có một người nào hát về những điều tan vỡ mà không cần phải gào thét lên, thì đó là Khánh Ly.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.