Hôm nay,  

Văn Hóa và Cải Cách

16/05/202420:51:00(Xem: 2388)
van hoa

VĂN HÓA
được hiểu một cách đơn giản là NHỮNG GÌ CÒN LẠI. Còn lại ở đây không có nghĩa là còn lại trong phút chốc, trong một giai đoạn ngắn mà là còn lại với ý nghĩa là tồn tại qua nhiều biến động, qua nhiều giai đoạn lich sử rất lâu dài cả trăm năm, cả ngàn năm mặc cho vật đổi sao dời. Trong suốt bốn nghìn năm lịch sử trong đó hơn một nghìn năm bị Tàu đô hộ và đồng hóa, người Việt Nam vẫn giữ được ngôn ngữ của mình, đó là cái còn lại quí báu nhất, thiêng liêng nhất. Tiếng Việt ( bao gồm tiếng nói và chữ viết) là một thứ văn hóa đặc biệt của người Việt, nó đã có từ thuở người Việt xuất hiện trên hành tinh này và tồn tại cho đến bây giờ. Chữ Việt dùng để ghi tiếng Việt theo cách phát âm đã có từ thời Alexandre de Rhodes, theo mẫu tự La tinh, đã trở thành chữ Quốc Ngữ từ mấy trăm năm, tồn tại đến ngày hôm nay và sẽ tồn tại lâu dài.
    Những ai có âm mưu xóa bỏ văn hóa, tiêu diệt một nền văn hóa, cho dầu nhân danh là cải cách , là cách mạng hay gì gì đi nữa, cũng  chỉ là những kẻ điên rồ vì điều này không thể thực hiện được. Sau năm 1975, người Cộng sản dùng bạo lực cưỡng chiếm miền Nam, họ chủ trương tiêu diệt nền văn hóa rất nhân bản, kế thừa từ nền văn hóa lâu đời của tổ tiên cùng nền văn hóa tiên tiến, tự do của Tây phương. Họ nói nền văn hóa thời Việt Nam Cộng Hòa là văn hóa đồi trụy, phản động. Họ cho người đi đến từng nhà để tịch thu và tiêu hủy tất cả sách vở, báo chí, kể cả sách giáo khoa, sách y học, phim ảnh, băng đĩa và mọi sản phẩm của nền văn hóa Việt Nam Cộng Hòa. Họ tịch thu các nhà sách, cửa hàng sách của tư nhân và bỏ tù chủ nhân các nhà sách đó. Họ lùng bắt và bỏ tù các văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, soạn giả…là những người đã làm ra những sản phẩm văn hóa, họ gọi những người làm văn hóa là “ biệt kích văn nghệ”. Những thứ không tịch thu được thì họ ra lệnh cấm phổ biến dưới mọi hình thức, thí dụ trong nhân dân, trong các trại tù thì họ cấm hát “ nhạc vàng ”. Người Cộng sản chủ trương tiêu diệt một cách toàn diện và triệt để nền văn hóa dân tộc bị họ xem như kẻ thù nhưng họ đã không làm được, họ đã thất bại. Sau gần năm mươi năm nền văn hóa nhân bản Việt Nam Cộng Hòa vẫn sống âm thầm trong quần chúng và trổi dậy mạnh mẽ trong mấy năm gần đây: Các sách báo, truyện, tiểu thuyết, văn, thơ, nhạc, phim ảnh, tuồng cải lưởng, sản phẩm văn học, nghệ thuật,…đã được in lại và phổ biến sâu rộng trong nhân dân. Một dẫn chứng : Các nhạc phẩm gọi là nhạc vàng, trong đó có giai điệu bolero đã phục hồi sức sống, đã được cổ vũ, được hát lại và trình bày trong các sân khấu, trong các cuộc thi hát từ Nam chí Bắc, từ trong nước ra đến hải ngoại. Lý do là gì ? Vì nó đã trở thành một thứ văn hóa, được người dân chấp nhận, đã ăn sâu vào tim óc, tình cảm của người dân thì không ai có thể thay thế, hủy diệt được. Người ta có thể dùng bạo lực để tiêu diệt một chánh quyền nhưng không thể dùng bạo lực để tiêu diệt một nền văn hóa. Để thực hiện chủ trương tiêu diệt nền văn hóa dân tộc, nhân bản và tiên tiến thời VNCH, người Cộng sản chỉ có thể làm được một việc là từ chối không dùng  một số từ ngữ rất hay trước đây và thay vào bằng những cụm từ xa lạ, vô nghĩa hoặc rất dở như hoành tráng, bức xúc, diễu hành, hộ khẩu, hộ chiếu, nhà trắng, hội chữ thập đỏ, lính thủy đánh bộ, xưởng đẻ, vân vân…Sau năm 1975 khi đem hàng từ trên xe xuống thì họ nói “giải phóng” xe, làm sạch hay dọn dẹp một nơi nào đó thì họ nói là giải phóng mặt bằng.( Chúng tôi sẽ trở lại đề tài này trong bài viết khác ) Hiện nay trên các trang mạng và báo chí Việt Nam ta thấy xuất hiện thường xuyên cụm từ “ tự sướng” mà người dùng nó không biết đó là một từ rất khiếm nhã, được dùng khi đề cập đến chuyện thủ dâm.
    Ông Bùi Hiền có bằng Tiến Sĩ, là Phó giáo sư, từng là hiệu phó trường đại học sư phạm ngoại ngữ Hà Nội, phó Viện trưởng viện Nội dung & Phương pháp dạy học phổ thông, sao lại không biết  và không rút ra được bài học về âm mưu tiêu diệt nền văn hóa Việt Nam Cộng Hòa của Cộng sản? Sao  lại đưa ra chủ trương cải tiến chữ Việt một cách ngớ ngẩn, điên rồ, bất khả thi ? Có người nói ông muốn làm chuyện đội đá vá trời để lưu danh muôn thuở ? Cũng có người nói đàng sau đề nghị cải tiến tiếng Việt của ông là một âm mưu chánh trị đen tối nhầm định hướng dư luận, muốn dư luận chú ý đến vấn đề do ông đưa ra mà quên đi những vấn đề nhức nhối khác đang xảy ra tại Việt Nam, sâu xa hơn là thực hiện âm mưu Hán hóa người Việt của Tàu qua con đường Văn Hóa, ngôn ngữ vì ông là người đã được Trung quốc đào tạo từ năm 1954 tại đại học nhân dân Trung Quốc ! Đây là vấn đề lớn khác, không nằm trong nội dung bài viết này nên chúng tôi không đề cập đến ở đây.
    Đặc điểm của chữ quốc ngữ là viết ra theo cách phát âm và mỗi chữ viết ra đều có ý nghĩa khác nhau. Thí dụ chữ cái C phát âm là cờ, CH phát âm là chờ. Ghép các chữ cái lại với nhau thành ra một chữ có ý nghĩa và cách đọc hoàn toàn khác nhau. Thí dụ CA đánh vần là cờ- a- ca, viết là CA. Chữ CHA đánh vần là chờ-a- cha, đọc là CHA, là người sinh ra mình, khác với CA, là đồ dùng để múc nước. Cũng vậy, chữ CHẶT hoàn toàn khác với chữ CẶT. Vậy mà ông Bùi Hiền đưa ra sáng kiến thay thế chữ CH và chữ TR bằng chữ C, hậu quả là ngôn ngữ tiếng Việt mới sẽ không còn chữ CHẶT nữa mà chỉ cỏn chữ CẶT thôi. Cũng như không còn chữ CHUYỆN và TRUYỆN nữa mà chỉ còn một chữ CUYỆN thôi ! Chữ CẶT thì đọc được nhưng đến chữ CUYỆN của ông Bùi Hiền thì đọc ra làm sao và ý nghĩa của nó là gì đây ?! Không ai hiểu được. Thật ra, bản thân ông Bùi Hiền không phân biệt được cách đánh vần, cách phát âm giữa mẫu tự C và Q ( cái cuốc và tổ quốc ). Ông nói hai chữ đó phát âm giống nhau cho nên ông bỏ nó và thay bằng K, đưa tới lối viết tầm bậy tầm bạ, làm rối loạn ngôn ngữ Việt Nam.
    Tiếng nói và chữ viết không thể tách rời nhau, chính nó là văn hóa của một dân tộc, không chỉ để ghi chép mà nó còn nói lên tính chất đặc thù của một dân tộc qua lịch sử, tôn giáo, phong tục tập quán, nhân sinh quan, giá trị đạo đức, triết lý sống của một dân tộc đó, thể hiện dưới hình thức ca dao, tục ngữ, truyện, tuồng, bài hát từ ngàn xưa cho tới bây giờ cùng với những sản phẩm văn hóa khác. Văn bản, chữ viết còn là phương tiện ghi chép, lưu giữ quan điểm , đường lối, chính sách của nhà nước từng thời kỳ cũng như phương tiện giao lưu hàng ngày, hàng giờ giữa cá nhân với nhau thì không ai có tư cách, quyền hạn, phương tiện để sửa đổi theo ý riêng của mình để làm sai lệch ý nghĩa ban đầu của nó. Chữ viết trong văn bản không chỉ dùng để đọc và hiểu mà từ đó người ta có thể thưởng thức cái hay, nét đẹp rất độc đáo chỉ riêng ngôn ngữ Việt Nam mới có như lời ca, tiếng hát, câu hò, điệu lý, từng cách luyến lái trong thơ ca của từng loại khác nhau. Thật ra, nhờ các dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng mà tiếng Việt cất lên thì êm ái nhẹ nhàng như là lời ru, nói mà giống như hát, không giống như tiếng Tàu, nói mà như cãi lộn vậy ! Trong khi đó thứ tiếng Việt cải cách của ông Bùi Hiền đưa ra thì hoàn toàn xa lạ với chữ quốc ngữ chúng ta, đọc lên thì nghe như đọc thần chú thì làm sao mà hát, hò cho được, nói chi là đi vào lòng người. Trừ những kẻ làm tay sai cho Tàu, những kẻ rắp tâm bán nước cho Tàu, riêng chúng ta, những người yêu nước và yêu mến tiếng Việt, muốn gìn giữ sự trong sáng cho tiếng Việt không thể cho phép và chấp nhận các cụm từ “Tiếng Việt” viết thành “ tiếq Việt”, “ giáo dục” thành ra “ zao zuk ”, “ trục trặc” trở thành “ cụk cặk”, “đi chợ” thành ra “di cợ”…
    Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du đã trở thành một tài sản thiêng liêng, quốc hồn quốc túy của dân tộc, được thế giới công nhận. Tác phẩm Truyện Kiều có giá trị về tư tưởng và văn chương, được dịch ra nhiều thứ tiếng. Từ giới trí thức tới giới bình dân, già cũng như trẻ, là người Việt Nam không ai mà không biết  đến Truyện Kiều, không ai mà không thuộc năm ba câu Kiều, nó được đưa vào chương trình văn học sử bậc trung học thời VNCH. Người ta không những đọc Kiều mà còn ngâm, vịnh, lẫy Kiều. Phạm Quỳnh, một nhà văn hóa, một học giả lỗi lạc, đã từng phát biểu ( trong ngày lễ giỗ Nguyễn Du 8/12/1924 ) “ Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn ”. Câu hỏi đặt ra cho ông Bùi Hiền là có sửa văn bản truyện Kiều và lịch sử theo lối chữ cải cách của ông hay không ? Nếu có thì sửa bằng cách nào ? Nếu không thì thế hệ trẻ em sau này học tiếng Việt theo chữ của ông sẽ không đọc được truyện Kiều cũng như kho tàng văn hóa đồ sộ của ông cha ta để lại cũng như không đọc, không hiểu được lịch sử oai hùng của tổ tiên từ thời dựng nước. Như vậy, con đường vong bản, mất gốc đã nhìn thấy trước mặt. Lúc đó ông chính là thủ phạm cắt đứt con đường sinh mệnh của dân tộc nối liền quá khứ, hiện tại và tương lai vì một khi hiện tại và quá khứ bị cắt đứt thì tương lai chỉ còn là màu đen u tối. Ngoài Nguyễn Du, Phạm Quỳnh, thế kỷ này đã có một Phạm Duy, nhạc sĩ tài ba, với lòng yêu nước, yêu tiếng Việt nồng nàn, được sống trong môi trường tự do, ông đã sáng tác và để lại một sự nghiệp âm nhạc đồ sộ với trên một ngàn bản nhạc mà đa số là nhạc hay, góp phần làm phong phú nền văn học nước nhà. Nhạc Phạm Duy đi vào lòng người, với sức lan tỏa mạnh, kêu gọi, đánh thức được lòng yêu nước, yêu tiếng Việt của người nghe bằng những ca từ, giai điệu thiết tha, êm ái, nhẹ nhàng và sâu lắng. Có ai nghe nhạc Phạm Duy mà không thấy tâm hồn lâng lâng, bay bổng với niềm thương cảm, yêu nước dạt dào : “ Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời….Mẹ hiền ru những câu xa vời…Tiếng nước tôi…bốn nghìn năm ròng rả buồn vui…Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi…’’
Rất may cho chúng ta và thế hệ con cháu sau này : Đến nay đã có những sự kiện, chỉ dấu cho thấy phương án cải cách tiếng Việt của ông Bùi Hiền đã bị phá sản : Cộng đồng mạng và nhân dân trong, ngoài nước kịch liệt lên án, phản đối, bộ Giáo Dục & Đào Tạo tuyên bố không đủ thẩm quyền, chánh phủ thì nói không có chủ trương cải tiến tiếng Việt trong lúc này.
 

Duy Nhân

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Lũ con cháu chúng tôi sang thăm cô Nhã chú Từ ở thành phố Malmo, miền Nam Thụy Điển, vào khoảng giữa tháng 10 2024. Có chúng tôi về, cô chú vui lắm và thường cùng chúng tôi ra ngoài dạo phố, ngắm cảnh, ăn uống. Trong một buổi chiều đi uống cà phê, chúng tôi chụp được tấm hình cô chú nắm tay nhau đi dạo trong một công viên thanh bình, khi trời đất vào thu, dưới ánh nắng nghiêng nghiêng của buổi hoàng hôn cuối ngày. Chúng tôi đặt tên tấm hình đó là “Vẫn nắng vàng dù buổi chiều của đời”, là câu đầu tiên trong bài hát Vầng Trăng Xưa, chú Từ sáng tác trong trại giam Hàm Tân vào năm 1985.
Bước vào phòng triển lãm, ba bức tranh đầu tiên bên tay phải đập vào mắt người thưởng ngoạn là ba tác phẩm của họa sĩ Ann Phong: “I Told You, The Earth Is Warming Up”; “Looking Back, Looking Forward”; “If We Don’t Care For Nature, It Will Disappear.” Chọn ba tác phẩm này cho cuộc triển lãm, họa sĩ giải thích: “Các tác phẩm nghệ thuật của tôi phản ánh mối quan hệ giữa người với người; trách nhiệm mà chúng ta phải có đối với trái đất nơi chúng ta đang sống. Thật đau lòng khi chứng kiến ​​thiên nhiên bị tàn phá bởi lòng tham và sự thiếu hiểu biết của con người. Có vẻ như khi chúng ta càng làm cho cuộc sống của mình trở nên tiện nghi, thì chúng ta càng tạo ra nhiều ô nhiễm hơn; càng làm cạn kiệt tài nguyên của trái đất một cách bất cẩn hơn…”
Nhóm Tuệ Đăng là gì có lẽ đến lúc này không còn xa lạ với cộng đồng người Việt hải ngoại và ngay cả trong nước nữa nhờ thời đại tin học và Youtube lan tỏa nhanh chóng. Nhóm lúc đầu là những thanh thiếu niên Phật tử yêu thích hát nhạc Phật và nhạc quê hương
Nếu "Lữ Hành" là cuộc hành trình thơ thới và bất tận của loài người và được ông sáng tác tại Sàigòn vào năm 1953 đầy hy vọng thì "Dạ Hành" là lúc con người đi trong đêm tối. Mà bóng tối ở đây không là một khái niệm về thời gian khi thiếu ánh mặt trời. Bóng tối là chông gai hiểm hóc của phận người và ca khúc cũng được viết tại Sàigòn nhưng mà là Sàigòn khói lửa của chiến chinh tham tàn năm 1970. Rồi Phạm Duy mới nói về cuộc đi bình thường là bài "Xuân Hành", sáng tác năm 1959, ở giữa hai bài hành kia. Hành trình bình thường và muôn thuở như câu hỏi đầy vẻ triết học là "người là ai, từ đâu tới và sẽ đi về đâu ".... Ngươi từ lòng người đi ra rồi sẽ trở về lòng người. Người vừa là thần thánh, vừa là ma quỷ, biết thương yêu dai mà cũng biết hận thù dài…. Nhất là biết vui buồn giữa hai nhịp đập của con tim, ngay cả khi tim ngừng đập.
Buổi ra mắt sách "Mai Áo Dài" không tổ chức ở khu hội chợ Tết ở Phước Lộc Thọ. Không pháo, không múa lân, không thức ăn, nhưng vẫn thu hút hàng trăm người đến dự...
Thời gian là thực phẩm dài hạn cho người sống. Không thể từ chối. Hoặc chúng ta hưởng thụ nó. Hoặc chúng ta chịu đựng nó. Món ăn này đôi lúc sung sướng để nhai. Đôi lúc mệt mỏi, phiền hà để gặm. Đôi lúc nuốt xuống mắc nghẹn. Đôi lúc nuốt không kịp thở. Đã làm người thì nhất định phải biết sử dụng thời gian. Nếu ai không biết, thì thời gian sẽ sử dụng người đó.
Nghe danh nhà văn Khánh Trường đã lâu, biết ông là họa sĩ, điều đầu tiên tôi đi tìm là cái nhìn của người họa sĩ trong tập Truyện ngắn Khánh Trường I. Ông có những đoạn văn tả cảnh đầy màu sắc. “Bầu trời ửng sáng. Nắng rải xuống mặt đất màu vàng dịu. Nắng làm cho màu đỏ tấm pano quảng cáo trên mặt tường ngôi nhà bên kia đường hực lên rực rỡ, khiến thân thể trần truồng một trăm phần trăm của thiếu nữ nằm tênh hênh suốt chiều ngang tấm pano trở nên mời mọc quyến rũ hơn.”
Một tác phẩm Nghệ thuật Khái niệm gồm một quả chuối đơn giản, được dán bằng băng keo lên tường, đã được bán với giá 6,2 triệu đô-la tại một cuộc đấu giá ở New York vào thứ Tư, 20 tháng 11 năm 2024. Sự kiện này đã gây xôn xao không ít chẳng những trong thế giới nghệ thuật mà cả dư luận công chúng bên ngoài. Tác phẩm với nhan đề Comedian/ Diễn viên hài, của nghệ sĩ người Ý Maurizio Cattelan, đã trở thành một hiện tượng khi ra mắt vào năm 2019 tại Art Basel Miami Beach. Những người tham dự lễ hội nghệ thuật này cố gắng tìm hiểu xem liệu một quả chuối màu vàng đã chín có những đốm đen được dán trên bức tường trắng bằng băng keo bạc loại dán thùng gửi hàng là một trò đùa hay là lời bình luận đầy thách thức láo xược về các tiêu chuẩn đáng ngờ trong giới sưu tập nghệ thuật. Có lúc, một nghệ sĩ khác đã lấy quả chuối ra khỏi bức tường và điềm nhiên bóc vỏ ra ăn. Tác phẩm này thu hút quá nhiều sự chú ý đến mức ban tổ chức phải lấy nó xuống cất đi.
Ngày Lễ Tạ Ơn ở Mỹ (Thanksgiving Day, ngày Thứ Năm trong tuần lễ thứ tư của tháng 11 hàng năm) được cho là khởi đầu vào năm 1621 khi những người di cư đầu tiên từ Anh Quốc đến Bắc Mỹ tạ ơn và ăn mừng với người Mỹ Da Đỏ bản xứ về một vụ mùa màng được thu hoạch khấm khá. Đây cũng là dịp để chúng ta nghĩ đến và đền đáp phần nào những ơn nghĩa mà mình đã nhận được trong cuộc đời này. Trong bài thơ “Ta Về” của nhà thơ Tô Thùy Yên viết khi ra tù cộng sản sau cuộc đổi đời vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, có câu thơ mà tôi rất thích: “Cảm ơn hoa đã vì ta nở.” Hoa nở rồi hoa tàn là chuyện rất bình thường theo luật tắc sinh trụ hoại diệt của vạn vật, như nhà Phật đã nói. Hoa có biết nó nở vì ai không? Làm sao chúng ta biết được hoa nở là vì chúng ta? Nhưng nếu không có hoa nở thì làm sao nhà thơ họ Tô kia có thể chiêm ngưỡng được vẻ đẹp mỹ miều của thiên nhiên! Vì vậy mà khi nhìn đóa hoa nở nhà thơ Tô Thùy Yên đã nói lời cảm ơn vì cảm nhận rằng hoa đã vì ông nở.
Trong thế hệ ca nhạc sĩ trẻ của nền âm nhạc Sài Gòn trước 1975, cặp uyên ương Lê Uyên - Phương có một chỗ đứng đặc biệt, độc nhất. Sự nghiệp sáng tác của nhạc sĩ Phương kéo dài từ đầu thập niên 1970s ở Miền Nam sang đến tận Hoa Kỳ sau 1975, cho đến khi ông mất vào năm 1999. Nhiều ca khúc Lê Uyên Phương cho đến nay vẫn chưa được chính thức phổ biến, phát hành. Để tưởng nhớ 25 năm ngày mất của người nhạc sĩ tài hoa, ca sĩ Lê Uyên sẽ tổ chức đêm nhạc chủ đề “Lê Uyên Phương 25 Năm Cuộc Đời– Tình Yêu – Âm Nhạc” tại Saigon Grand Center thành phố Fountain Valley vào ngày 7 tháng 12 2024.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.