Hôm nay,  

Văn Hóa và Cải Cách

16/05/202420:51:00(Xem: 2404)
van hoa

VĂN HÓA
được hiểu một cách đơn giản là NHỮNG GÌ CÒN LẠI. Còn lại ở đây không có nghĩa là còn lại trong phút chốc, trong một giai đoạn ngắn mà là còn lại với ý nghĩa là tồn tại qua nhiều biến động, qua nhiều giai đoạn lich sử rất lâu dài cả trăm năm, cả ngàn năm mặc cho vật đổi sao dời. Trong suốt bốn nghìn năm lịch sử trong đó hơn một nghìn năm bị Tàu đô hộ và đồng hóa, người Việt Nam vẫn giữ được ngôn ngữ của mình, đó là cái còn lại quí báu nhất, thiêng liêng nhất. Tiếng Việt ( bao gồm tiếng nói và chữ viết) là một thứ văn hóa đặc biệt của người Việt, nó đã có từ thuở người Việt xuất hiện trên hành tinh này và tồn tại cho đến bây giờ. Chữ Việt dùng để ghi tiếng Việt theo cách phát âm đã có từ thời Alexandre de Rhodes, theo mẫu tự La tinh, đã trở thành chữ Quốc Ngữ từ mấy trăm năm, tồn tại đến ngày hôm nay và sẽ tồn tại lâu dài.
    Những ai có âm mưu xóa bỏ văn hóa, tiêu diệt một nền văn hóa, cho dầu nhân danh là cải cách , là cách mạng hay gì gì đi nữa, cũng  chỉ là những kẻ điên rồ vì điều này không thể thực hiện được. Sau năm 1975, người Cộng sản dùng bạo lực cưỡng chiếm miền Nam, họ chủ trương tiêu diệt nền văn hóa rất nhân bản, kế thừa từ nền văn hóa lâu đời của tổ tiên cùng nền văn hóa tiên tiến, tự do của Tây phương. Họ nói nền văn hóa thời Việt Nam Cộng Hòa là văn hóa đồi trụy, phản động. Họ cho người đi đến từng nhà để tịch thu và tiêu hủy tất cả sách vở, báo chí, kể cả sách giáo khoa, sách y học, phim ảnh, băng đĩa và mọi sản phẩm của nền văn hóa Việt Nam Cộng Hòa. Họ tịch thu các nhà sách, cửa hàng sách của tư nhân và bỏ tù chủ nhân các nhà sách đó. Họ lùng bắt và bỏ tù các văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, soạn giả…là những người đã làm ra những sản phẩm văn hóa, họ gọi những người làm văn hóa là “ biệt kích văn nghệ”. Những thứ không tịch thu được thì họ ra lệnh cấm phổ biến dưới mọi hình thức, thí dụ trong nhân dân, trong các trại tù thì họ cấm hát “ nhạc vàng ”. Người Cộng sản chủ trương tiêu diệt một cách toàn diện và triệt để nền văn hóa dân tộc bị họ xem như kẻ thù nhưng họ đã không làm được, họ đã thất bại. Sau gần năm mươi năm nền văn hóa nhân bản Việt Nam Cộng Hòa vẫn sống âm thầm trong quần chúng và trổi dậy mạnh mẽ trong mấy năm gần đây: Các sách báo, truyện, tiểu thuyết, văn, thơ, nhạc, phim ảnh, tuồng cải lưởng, sản phẩm văn học, nghệ thuật,…đã được in lại và phổ biến sâu rộng trong nhân dân. Một dẫn chứng : Các nhạc phẩm gọi là nhạc vàng, trong đó có giai điệu bolero đã phục hồi sức sống, đã được cổ vũ, được hát lại và trình bày trong các sân khấu, trong các cuộc thi hát từ Nam chí Bắc, từ trong nước ra đến hải ngoại. Lý do là gì ? Vì nó đã trở thành một thứ văn hóa, được người dân chấp nhận, đã ăn sâu vào tim óc, tình cảm của người dân thì không ai có thể thay thế, hủy diệt được. Người ta có thể dùng bạo lực để tiêu diệt một chánh quyền nhưng không thể dùng bạo lực để tiêu diệt một nền văn hóa. Để thực hiện chủ trương tiêu diệt nền văn hóa dân tộc, nhân bản và tiên tiến thời VNCH, người Cộng sản chỉ có thể làm được một việc là từ chối không dùng  một số từ ngữ rất hay trước đây và thay vào bằng những cụm từ xa lạ, vô nghĩa hoặc rất dở như hoành tráng, bức xúc, diễu hành, hộ khẩu, hộ chiếu, nhà trắng, hội chữ thập đỏ, lính thủy đánh bộ, xưởng đẻ, vân vân…Sau năm 1975 khi đem hàng từ trên xe xuống thì họ nói “giải phóng” xe, làm sạch hay dọn dẹp một nơi nào đó thì họ nói là giải phóng mặt bằng.( Chúng tôi sẽ trở lại đề tài này trong bài viết khác ) Hiện nay trên các trang mạng và báo chí Việt Nam ta thấy xuất hiện thường xuyên cụm từ “ tự sướng” mà người dùng nó không biết đó là một từ rất khiếm nhã, được dùng khi đề cập đến chuyện thủ dâm.
    Ông Bùi Hiền có bằng Tiến Sĩ, là Phó giáo sư, từng là hiệu phó trường đại học sư phạm ngoại ngữ Hà Nội, phó Viện trưởng viện Nội dung & Phương pháp dạy học phổ thông, sao lại không biết  và không rút ra được bài học về âm mưu tiêu diệt nền văn hóa Việt Nam Cộng Hòa của Cộng sản? Sao  lại đưa ra chủ trương cải tiến chữ Việt một cách ngớ ngẩn, điên rồ, bất khả thi ? Có người nói ông muốn làm chuyện đội đá vá trời để lưu danh muôn thuở ? Cũng có người nói đàng sau đề nghị cải tiến tiếng Việt của ông là một âm mưu chánh trị đen tối nhầm định hướng dư luận, muốn dư luận chú ý đến vấn đề do ông đưa ra mà quên đi những vấn đề nhức nhối khác đang xảy ra tại Việt Nam, sâu xa hơn là thực hiện âm mưu Hán hóa người Việt của Tàu qua con đường Văn Hóa, ngôn ngữ vì ông là người đã được Trung quốc đào tạo từ năm 1954 tại đại học nhân dân Trung Quốc ! Đây là vấn đề lớn khác, không nằm trong nội dung bài viết này nên chúng tôi không đề cập đến ở đây.
    Đặc điểm của chữ quốc ngữ là viết ra theo cách phát âm và mỗi chữ viết ra đều có ý nghĩa khác nhau. Thí dụ chữ cái C phát âm là cờ, CH phát âm là chờ. Ghép các chữ cái lại với nhau thành ra một chữ có ý nghĩa và cách đọc hoàn toàn khác nhau. Thí dụ CA đánh vần là cờ- a- ca, viết là CA. Chữ CHA đánh vần là chờ-a- cha, đọc là CHA, là người sinh ra mình, khác với CA, là đồ dùng để múc nước. Cũng vậy, chữ CHẶT hoàn toàn khác với chữ CẶT. Vậy mà ông Bùi Hiền đưa ra sáng kiến thay thế chữ CH và chữ TR bằng chữ C, hậu quả là ngôn ngữ tiếng Việt mới sẽ không còn chữ CHẶT nữa mà chỉ cỏn chữ CẶT thôi. Cũng như không còn chữ CHUYỆN và TRUYỆN nữa mà chỉ còn một chữ CUYỆN thôi ! Chữ CẶT thì đọc được nhưng đến chữ CUYỆN của ông Bùi Hiền thì đọc ra làm sao và ý nghĩa của nó là gì đây ?! Không ai hiểu được. Thật ra, bản thân ông Bùi Hiền không phân biệt được cách đánh vần, cách phát âm giữa mẫu tự C và Q ( cái cuốc và tổ quốc ). Ông nói hai chữ đó phát âm giống nhau cho nên ông bỏ nó và thay bằng K, đưa tới lối viết tầm bậy tầm bạ, làm rối loạn ngôn ngữ Việt Nam.
    Tiếng nói và chữ viết không thể tách rời nhau, chính nó là văn hóa của một dân tộc, không chỉ để ghi chép mà nó còn nói lên tính chất đặc thù của một dân tộc qua lịch sử, tôn giáo, phong tục tập quán, nhân sinh quan, giá trị đạo đức, triết lý sống của một dân tộc đó, thể hiện dưới hình thức ca dao, tục ngữ, truyện, tuồng, bài hát từ ngàn xưa cho tới bây giờ cùng với những sản phẩm văn hóa khác. Văn bản, chữ viết còn là phương tiện ghi chép, lưu giữ quan điểm , đường lối, chính sách của nhà nước từng thời kỳ cũng như phương tiện giao lưu hàng ngày, hàng giờ giữa cá nhân với nhau thì không ai có tư cách, quyền hạn, phương tiện để sửa đổi theo ý riêng của mình để làm sai lệch ý nghĩa ban đầu của nó. Chữ viết trong văn bản không chỉ dùng để đọc và hiểu mà từ đó người ta có thể thưởng thức cái hay, nét đẹp rất độc đáo chỉ riêng ngôn ngữ Việt Nam mới có như lời ca, tiếng hát, câu hò, điệu lý, từng cách luyến lái trong thơ ca của từng loại khác nhau. Thật ra, nhờ các dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng mà tiếng Việt cất lên thì êm ái nhẹ nhàng như là lời ru, nói mà giống như hát, không giống như tiếng Tàu, nói mà như cãi lộn vậy ! Trong khi đó thứ tiếng Việt cải cách của ông Bùi Hiền đưa ra thì hoàn toàn xa lạ với chữ quốc ngữ chúng ta, đọc lên thì nghe như đọc thần chú thì làm sao mà hát, hò cho được, nói chi là đi vào lòng người. Trừ những kẻ làm tay sai cho Tàu, những kẻ rắp tâm bán nước cho Tàu, riêng chúng ta, những người yêu nước và yêu mến tiếng Việt, muốn gìn giữ sự trong sáng cho tiếng Việt không thể cho phép và chấp nhận các cụm từ “Tiếng Việt” viết thành “ tiếq Việt”, “ giáo dục” thành ra “ zao zuk ”, “ trục trặc” trở thành “ cụk cặk”, “đi chợ” thành ra “di cợ”…
    Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du đã trở thành một tài sản thiêng liêng, quốc hồn quốc túy của dân tộc, được thế giới công nhận. Tác phẩm Truyện Kiều có giá trị về tư tưởng và văn chương, được dịch ra nhiều thứ tiếng. Từ giới trí thức tới giới bình dân, già cũng như trẻ, là người Việt Nam không ai mà không biết  đến Truyện Kiều, không ai mà không thuộc năm ba câu Kiều, nó được đưa vào chương trình văn học sử bậc trung học thời VNCH. Người ta không những đọc Kiều mà còn ngâm, vịnh, lẫy Kiều. Phạm Quỳnh, một nhà văn hóa, một học giả lỗi lạc, đã từng phát biểu ( trong ngày lễ giỗ Nguyễn Du 8/12/1924 ) “ Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn ”. Câu hỏi đặt ra cho ông Bùi Hiền là có sửa văn bản truyện Kiều và lịch sử theo lối chữ cải cách của ông hay không ? Nếu có thì sửa bằng cách nào ? Nếu không thì thế hệ trẻ em sau này học tiếng Việt theo chữ của ông sẽ không đọc được truyện Kiều cũng như kho tàng văn hóa đồ sộ của ông cha ta để lại cũng như không đọc, không hiểu được lịch sử oai hùng của tổ tiên từ thời dựng nước. Như vậy, con đường vong bản, mất gốc đã nhìn thấy trước mặt. Lúc đó ông chính là thủ phạm cắt đứt con đường sinh mệnh của dân tộc nối liền quá khứ, hiện tại và tương lai vì một khi hiện tại và quá khứ bị cắt đứt thì tương lai chỉ còn là màu đen u tối. Ngoài Nguyễn Du, Phạm Quỳnh, thế kỷ này đã có một Phạm Duy, nhạc sĩ tài ba, với lòng yêu nước, yêu tiếng Việt nồng nàn, được sống trong môi trường tự do, ông đã sáng tác và để lại một sự nghiệp âm nhạc đồ sộ với trên một ngàn bản nhạc mà đa số là nhạc hay, góp phần làm phong phú nền văn học nước nhà. Nhạc Phạm Duy đi vào lòng người, với sức lan tỏa mạnh, kêu gọi, đánh thức được lòng yêu nước, yêu tiếng Việt của người nghe bằng những ca từ, giai điệu thiết tha, êm ái, nhẹ nhàng và sâu lắng. Có ai nghe nhạc Phạm Duy mà không thấy tâm hồn lâng lâng, bay bổng với niềm thương cảm, yêu nước dạt dào : “ Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời….Mẹ hiền ru những câu xa vời…Tiếng nước tôi…bốn nghìn năm ròng rả buồn vui…Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi…’’
Rất may cho chúng ta và thế hệ con cháu sau này : Đến nay đã có những sự kiện, chỉ dấu cho thấy phương án cải cách tiếng Việt của ông Bùi Hiền đã bị phá sản : Cộng đồng mạng và nhân dân trong, ngoài nước kịch liệt lên án, phản đối, bộ Giáo Dục & Đào Tạo tuyên bố không đủ thẩm quyền, chánh phủ thì nói không có chủ trương cải tiến tiếng Việt trong lúc này.
 

Duy Nhân

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Vương Trùng Dương, tên khai sinh là Trần Ngọc Dưỡng, sinh đầu tháng 2 năm 1945 (âm lịch tuổi Giáp Thân) tại Quảng Nam. Gia đình của Dương, từ lâu, định cư tại Chợ Được, một ngôi chợ khang trang nằm bên bờ sông Trường. Chợ cũng là bến ghe thuyền. Đò dọc theo sông dài, đò ngang qua bên kia sông là vùng ven biển Đông. Gần biển, những đêm mùa đông, trong chiếu chăn hãy còn nghe tiếng sóng biển ầm vang.
Nhà xuất bản nổi tiếng của Hoa Kỳ Barnes and Noble vừa phát hành cuốn hồi ký 500 trang của Kiều Chinh. Giới văn chương Mỹ gọi cô là nghệ sĩ lưu vong. Tra cứu trên Internet chúng ta thấy bản văn Anh ngữ nhà Barnes khen ngợi tác giả. Bản văn Việt Ngữ khen ngợi cô Kiều Chinh do nữ đại úy Phan của quân lực Mỹ viết. Cuốn hồi ký đặc biệt này đã ghi bán 30 đồng giấy thường và sách bìa cứng giá 40 đồng. Đại úy Phan là nữ quân nhân trẻ hiếm có đọc được cuốn hồi ký tiếng Việt đã ước mong rằng sẽ có phiên bản Anh Ngữ sớm phát hành.
Khi nói đến âm nhạc, người ta thường liên tưởng đến khái niệm về “tâm hồn” hay “cảm xúc”. Khi nói đến giáo dục lại thường liên kết với “trí tuệ”. Một bên là nghệ thuật, một bên là tri thức. Một bên là những chàng nghệ sĩ, một bên là những nhà mô phạm. Thực ra hai lĩnh vực này có nhiều khi đan lẫn, kết hợp với nhau. Âm nhạc là một ngành học với học vị lên tới tiến sĩ, không thua kém gì học bác sĩ, kỹ sư. Và khoa học đã chứng minh từ lâu rằng học âm nhạc góp phần phát triển khả năng trí tuệ toàn diện cho trẻ em.
Cuốn phim Từ Sài Gòn đến Điện biên Phủ cũng được ra mắt lần đầu tiên tại Hoa Kỳ. Phim do hãng Mỹ Vân hoàn tất tại Việt Nam trước 1975. Chưa từng chiếu được giữ lại trên 50 năm qua sẽ ra mắt đồng bào rất may mắn tại San Jose. Xin mời đến để gặp Kiều Chinh và Sài Gòn sau hơn nửa thế kỷ. Vào 1 giờ chiều thứ bẩy 27 tháng 7-2024 tại hội trường Santa Clara County
Vào chiều Chủ Nhật cuối Tháng Sáu, khoảng hơn 400 khán giả đã ngồi chật khán phòng của Huntington Beach Central Library Theater để cổ vũ cho các tài năng âm nhạc trẻ gốc Việt trong chương trình nhạc Emê Concert 2, chủ đề “I Wish It So”.
Thỉnh thoảng có một ngày vui. Gặp nhau trong thân tình, được bày lộ nỗi lòng, nâng ly rượu giao hòa. Đó là buổi ra mắt tập thơ của Họa sĩ Khánh Trường. Chiều, của một ngày cuối cùng tháng Sáu, 2024. Trời Nam Cali mát dịu. Tôi và Kim đến rất đúng giờ nhưng phòng họp đã đầy chật bằng hữu. Tấm lòng yêu mến Khánh Trường quả là rõ thực. Tay này đa tài trên khắp nẻo, hội họa, văn chương, báo chí, cả ngang tàng một cõi thời trai trẻ. Bỗng đủ thứ bệnh tật đến rần rần như rủ nhau đi xem hội. Trên hai mươi năm nay ung thư thanh quản, hộc máu, tắt tiếng, đột quỵ, ngồi xe lăn, bại thận, mỗi tuần bị lụi kim, kim bự tổ chảng, vào người thay máu hai lần. Nhìn hai cổ/ cánh tay của Khánh Trường, từng đụn da thịt gồ lên thấp xuống, như cái dãy… Trường sơn thu nhỏ.
Nhà thơ Đỗ Quý Toàn nói về Khánh Trường-nhà thơ đã không quên nhắc lại “Khánh Trường là người làm được rất nhiều thứ, không những ông là họa sĩ, nhà thơ, mà ông viết văn rất hay. Tôi rất thích đọc truyện Khánh Trường. Nhưng điều tôi phục nhất là Khánh Trường của Hợp Lưu. Khánh Trường của nguyên tắc làm theo ý mình, trái ý thiên hạ. Người ta cho là anh ta phản kháng hay nổi loạn, nhưng theo tôi, KT chỉ làm cái gì mình cho là đúng, hay, phải làm. Tôi rất khâm phục.”
Ca khúc “Nỗi buồn hoa phượng” là ca khúc thứ hai của nhạc sĩ Thanh Sơn, sau ca khúc “ Tình học sinh” ra đời năm 1962, song bị... chìm lĩm, chẳng một ai chú ý? Năm 1983, trả lời phỏng vấn của chương trình Paris By Night, nhạc sĩ Thanh Sơn kể về sự ra đời của ca khúc “Nỗi buồn hoa phượng”, sau 20 năm ra đời, đã được hàng triệu người kể cả miền Bắc sau này ưa thích. Đó là vào năm 1953, ông học chung lớp với người bạn nữ tên là “Nguyễn Thị Hoa Phượng”, hè năm ấy, người bạn gái cùng gia đình chuyển về Sài Gòn, ông có hỏi cô bạn: “Nếu nhớ nhau mình sẽ làm sao?”, cô bạn mĩm cười trả lời đại ý là “ Cứ mỗi năm đến hè, nhớ đến nhau, anh cứ nhìn hoa phượng nở cho đỡ nhớ bởi tên em là Hoa Phượng...”, và đó cũng là “đề tài” mà ông ấp ủ để 10 năm sau, khi đó cô bạn gái ngày xưa chắc đã... vu qui rồi?
Không thể chối cãi, trong đầm không gì đẹp bằng sen. Đúng hơn nữa, trong đầm không gì thơm hơn sen. Nhưng vì sao sen lại mọc trong đầm bùn? Vì sao sen không mọc sánh vai cùng Cẩm Chướng, Mẫu Đơn, Hồng Nhung, Anh Đào, Thiên Điểu, Oải Hương, Hướng Dương, vân vân trong những vườn quyền quý cao sang, những nơi chưng bày lộng lẫy? Vì sao sen lại chọn ngâm mình trong nước hôi tanh? Vì sao trong tất cả loại sen, tôi lại quý sen hồng, trong khi đa số yêu sen trắng? Sen và bùn là một lý thuyết chính trị cần thiết cho Việt Nam hiện nay. Hoa sen phải mọc từ bùn, trong bùn. Không thể mọc ở những nơi không có bùn. Vì sao hoa sạch thơm phải mọc và sống từ nơi dơ thúi? Rồi sen phải vượt lên khỏi mặt nước mới nở được hoa đẹp, hoa thơm, nhưng vẫn cần có bùn để tồn tại. Một quá trình hiện thực, một ẩn dụ để tư duy.
Bộ phim Face Off 7: One Wish như đem lại một tín hiệu tốt lành rằng trong một xã hội Việt Nam ngày nay đang có quá nhiều điều nhiễu nhương, những nét đẹp truyền thống của văn hóa Việt Nam vẫn còn có chỗ để tồn tại…


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.