Hôm nay,  

Mũi Tên & Bài Ca

01/11/202400:00:00(Xem: 5649)
 
mũi tên và bài ca
 
Mũi Tên & Bài Ca
 
Tôi bắn mũi tên vào không trung
vào tận nơi nào ở thế gian, tôi không rõ
tên bay nhanh bay xa cao vút, mắt tôi
không theo kịp nỗi đường bay
Tôi thổi bài ca vào không trung,
tiếng hát vang xa tận nơi nào ở thế gian, tôi không rõ
bởi làm gì có cặp mắt nào đủ tinh thông trên cao
xuyên thấu mọi nỗi niềm khúc ca tôi bày tỏ
Lâu ngày sau tôi tình cờ tìm thấy
mũi tên xưa ghim sâu tận gốc sồi;
Và bài ca, từ khúc đầu đến kết
vang lên trong tiếng hát một người quen.
 
 Henry Wadsworth Longfellow - Hòa Bình Lê dịch
 
Bài thơ này đăng trên Việt Báo vào ngày 10 tháng 8 2024. Người dịch nói rằng “…Bài này hợp với tinh thần Phật Giáo…” Tác giả Henry Wadsworth Longfellow là một nhà thơ nổi tiếng vào bậc nhất ở Mỹ trong thế kỷ 19. Trong tiểu sử không thấy nhắc ông có nghiên cứu về Phật Giáo. Có thể giải thích rằng những gì thuộc về chân lý, sự thật thì sẽ mãi mãi tồn tại, bất kể Đức Phật có thuyết giảng hay không.

Vào khoảng thập niên 1740s, nhà nữ toán học người Pháp Émilie du Châtelet đưa ra khái niệm về định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng: Năng lượng không tự nhiên sinh ra cũng không tự nhiên mất đi; nó chỉ truyền từ vật này sang vật khác, chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác. 

Vào năm 1789, nhà hóa học người Pháp Antoine Lavoisier phát biểu định luật bảo toàn khối lượng: "Tất cả những biến đổi xảy ra trong tự nhiên thực chất là nếu lấy đi bao nhiêu ở vật thể này, thì có bấy nhiêu được thêm vào ở vật thể khác. Như vậy, nếu ở đây giảm đi bao nhiêu vật chất, thì sẽ có từng ấy vật chất tăng lên ở chỗ khác".

Đến thời đại Thuyết Tương Đối, nhà bác học thiên tài thế kỷ 20 Albert Einstein kết hợp cả sự bảo toàn và chuyển hóa giữa vật chất và năng lượng trong phương trình E=mc2. Khoa học hiện đại vẫn cho rằng toàn bộ năng-khối-lượng được bảo toàn. Bom nguyên tử cùng năng lượng hạt nhân ra đời, đem lại cho nhân loại cả niềm tin lẫn nỗi lo.

Vào khoảng 26 thế kỷ trước, Đức Phật dạy rằng vạn pháp trong vũ trụ này trùng trùng duyên khởi. Đối với con người, tất cả những gì chúng ta đã từng nghĩ, nói, hành động sẽ chẳng biến vào hư không. Nó sẽ được lưu giữ lại trong nghiệp thức, hoặc ảnh hưởng đến những người chung quanh mà có khi chúng ta không hề hay biết. Tâm cũng là một dạng năng lượng.

Trở lại với bài thơ Mũi Tên & Bài Ca theo góc nhìn văn học, bài thơ làm cho tôi trở nên yêu người, yêu đời. Nó làm cho tâm hồn tôi thăng hoa, giống như cách đây hơn 40 năm khi nghe anh Trần Đại Lộc kể một câu chuyện đầy nhân bản. Anh cho biết thường kể câu chuyện này cho học sinh của mình nghe trong giờ triết học, để nhắc nhở mỗi người phải chịu trách nhiệm về hành vi, lời nói của mình. Đại khái câu chuyện đó như sau: một anh chàng thanh niên tuổi học trò tính tình nhút nhát, đầy mặc cảm vì nghĩ mình không có gì hấp dẫn, đáng chú ý. Anh sống khép kín từ trong gia đình cho đến trường học, không muốn giao tiếp với ai. Cha mẹ, thầy cô đều lo lắng cho anh. Đến một ngày nọ, anh đạp xe từ trường về nhà, thì cô gái đẹp anh từng để ý bấy lâu nay đi theo chiều ngược lại bỗng nhìn anh mỉm cười âu yếm. Anh giật mình! Mình có gì đặc biệt mà tại sao cô gái lại cười với mình? Như vậy có phải là mình thực sự xấu xí, vô duyên hay không? Tự nhiên những nỗi mặc cảm bao lâu nay vơi đi nhiều, anh dự định sẽ có dịp làm quen với cô gái.

Về đến nhà, anh niềm nở chào mẹ, hỏi rằng đã có cơm chưa, anh đói bụng rồi. Vô cùng ngạc nhiên trước sự thay đổi bất ngờ của con mình, mẹ anh bảo rằng cơm đã gần xong, đợi cha về gia đình sẽ ăn cơm chung. Bà làm thêm một món ngon đặc biệt. Buổi cơm chiều hôm đó, cha anh cũng rất vui khi thấy anh hoạt bát, nói chuyện trong khi ăn. Cơm ngon, khung cảnh gia đình đầm ấm tạo niềm hứng khởi, nên tối hôm đó cha mẹ anh có một buổi ái ân hạnh phúc.

Hôm sau, anh đến trường, giơ tay xin phát biểu trong giờ học văn. Thầy anh ngạc nhiên quá đỗi! Điều gì đã xảy ra với cậu học trò nhút nhát của mình? Vui với cậu học trò, thầy đã có một buổi giảng văn chương thật hay, làm cả lớp được hưởng theo.

Đến ngày Chủ Nhật, sau bao năm vắng bóng, lần đầu tiên anh theo cha mẹ đi lễ nhà thờ. Đến lượt vị linh mục chủ lễ ngạc nhiên và thích thú, vì lâu lắm rồi mới thấy gia đình này đi lễ chung với nhau. Vì vui, ông đã có một buổi thuyết giảng thật hay cho tất cả những giáo dân trong xóm đạo có mặt trong thánh lễ.

Một nụ cười, có khi chỉ là vô tình của một cô gái đã đem lại hạnh phúc cho biết bao người khác. Chính cô gái cũng không biết được những điều tốt lành mà mình tạo ra cho biết bao người không quen biết.

Một câu chuyện khác cũng về một người cũng đi gieo hạt mầm hạnh phúc cho muôn người đó là Jonny Appleseed. Ông là một nhân vật có thật của lịch sử Mỹ từ thời bắt đầu di dân về phía Tây. Hãng phim Walt Disney có dựng một bộ phim hoạt hình về nhân vật huyền thoại này (https://www.dailymotion.com/video/xi99je ), người đã đi trên những nẻo đường đất nước suốt 40 năm với hành trang chỉ là một túi hạt giống táo và cuốn Kinh Thánh. Jonny xuất thân là một nông dân trồng táo. Nhìn những đoàn người di dân về Miền Tây, ông quyết định tự mình đi gieo hạt để tạo nên những đồn điền táo trên đường đi của họ. Ước mơ của Jonny là trong tương lai những cánh đồng táo của mình sẽ là nơi dừng chân của những đoàn người đi khai phá đất nước. Ra đi từ khi còn trai trẻ, lúc trở về đã thành một ông già đầu bạc. Jonny chứng kiến cảnh những ngôi làng của di dân xây dựng quanh cánh đồng táo của mình. Họ có một cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Họ nhảy múa bên nhau trong những buổi tiệc mà trên bàn có bánh nhân táo, có nước táo như là quà tặng của thiên nhiên. Nhiều người không biết những gì họ có được trong hiện tại là công khó của một tấm lòng nhân hậu bắt đầu từ nhiều năm trước.

Trong một buổi nói chuyện với học trò, Thầy Phước Tịnh có kể câu chuyện về những bài giảng của mình trên internet đã cứu cuộc đời của những người mà Thầy chưa bao giờ gặp. Một Phật tử trẻ ở Việt Nam đã liên lạc để cảm ơn Thầy. Anh kể rằng có một dạo anh thất tình, tâm trí đảo điên. Nỗi tuyệt vọng xâm chiếm toàn bộ ý nghĩ của anh cả ngày lẫn đêm, đến độ đã có lần anh định tự tử. Anh tự nhủ phải tìm một cách nào đó để thoát ra khỏi tình cảnh này. May sao, anh nghe được bài giảng của Thầy trên internet về Sự Nhận Biết. Không ngờ, phương pháp này đã cứu cuộc đời của anh. Anh tập là người quan sát nỗi tuyệt vọng, và tự nhắc nhở rằng “Nỗi tuyệt vọng này không phải là ta. Ta là người quan sát nó. Nỗi tuyệt vọng đến rồi sẽ đi qua…” Sự Nhận Biết giống như chủ nhân của ngôi nhà tâm thức, còn nỗi tuyệt vọng là khách mời. Nếu chủ nhà không giữ chân, khách sẽ phải ra đi. Thế là dần dần, anh vượt qua được khủng hoảng, trở lại cuộc sống bình thường. Sau này anh tự nhủ tại sao mình có thể dại đến độ định tự tử chỉ vì thất tình. Từ đó, anh tìm thêm những bài giảng của Thầy để học, tiếp tục thực hành phương pháp thắp sáng Sự Nhận Biết trong đời sống.

Khi dùng hai hình tượng “mũi tên” và “bài ca”, tác giả có thể ẩn dụ đến hai phạm trù đối nghịch: một bên là những hành vi có tác động tiêu cực, một bên là có tính thăng hoa. Riêng bản thân tôi, cùng với những bài hát thương yêu, nhưng tôi lại từng gây ra cả điều tốt và xấu cho người khác. Thuở còn đi học, tôi có để ý một cô bé học sinh ở hẻm gần nhà. Chúng tôi chỉ gặp nhau một vài lần qua một người quen chung. Tuổi trẻ mộng mơ, chuyện tình cảm lớn nhỏ gì cũng có thể làm thơ, làm nhạc. Tôi có sáng tác một tình khúc, chép lại thành bản nhạc, rồi kẹp vào một cuốn sách toán cho cô mượn để học thi. Chỉ có vậy thôi, sau đó tôi không còn để ý đến nữa. Thế rồi hơn 30 năm sau, người quen của tôi ở con hẻm nhà cô bé tình cờ gặp lại tôi ở Mỹ. Cô này hỏi: “Anh có biết là đã làm chị P. đau khổ không?” Dĩ nhiên tôi trả lời là không! Người bạn kể rằng sau này P. lập gia đình, nhưng tâm trí có vẻ không bình thường, có triệu chứng bệnh tâm thần. Chồng cô phát hiện ra có lần cô lên internet gõ tên tôi, tìm xem tôi đang ở đâu. Cô còn nói lẩm bẩm một mình “người đâu chỉ tặng một bài nhạc rồi đi đâu mất!” Chồng cô hỏi thăm người bạn có biết tôi là ai, đang ở đâu hay không. Tôi bàng hoàng! Đâu có ngờ chỉ một giây phút lãng mạn, nhẹ nhàng, chỉ với một hành động tưởng như vô hại lại làm cho một người giữ niềm nhung nhớ đến 30 năm sau!

Cũng chỉ với những bài hát, nhưng tôi lại có được cảm giác hạnh phúc vì chia sẻ được với những người không quen. Thuở học Thầy Phước Tịnh về ý nghĩa của 10 bức tranh chăn trâu Thiền Tông, tôi cảm hứng phổ nhạc 10 bài thi kệ “Thập Mục Ngưu Đồ”, bản dịch của Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ. Trong những buổi Pháp thoại, sau khi Thầy Phước Tịnh giảng, tôi tập cho đại chúng hát những bài này để dễ nhớ ý nghĩa của chúng. Tôi đưa 10 bài thiền ca chăn trâu lên Youtube, với hy vọng chia sẻ với những ai đang thực hành thiền. Vài năm sau, tình cờ xem trên Youtube, tôi thấy các bạn trẻ trong nhóm Ban Đạo Ca Trẻ Chùa Giác Ngộ ở Sài Gòn hát lại những bài thiền ca này. Nhìn những gương mặt trẻ chưa hề quen biết hát, bên dưới là đại chúng ngồi lắng nghe, lòng tôi cảm thấy an lạc. Không biết họ cảm nhận được bao nhiêu ý nghĩa của thiền ca chăn trâu, nhưng cảm giác mình đã làm một điều gì đó cho đạo, cho đời là một niềm hạnh phúc không dễ có được.

Như vậy không phải là chỉ có mũi tên mới làm tổn thương, và chỉ có bài ca mới đem lại niềm hạnh phúc cho người khác. Bài ca có khi cũng có tác động như mũi tên. Cả Đức Phật và Albert Einstein đều nhắc đến tính tương đối của vạn vật.

Chỉ với một bài thơ ngắn ngủi, mà biết bao nhiêu ý nghĩa miên man trong đầu… Tôi nghĩ trong thời buổi nhiễu nhương, đầy sân hận như hiện nay, nếu mỗi con người đều có ý thức về của từng lời nói, hành động của mình, về hạnh phúc hay khổ đau mà chúng có thể đem lại cho người khác, thế giới này sẽ tốt đẹp hơn nhiều…
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ban ca nhạc Bình-Minh được thành lập vào giữa thập niên 50 của thế kỷ XX. Ngày Đài Phát Thanh Nha-Trang được khánh thành, trong khuôn viên Tòa Tỉnh, ban Ca Nhạc Bình-Minh đã góp mặt.
Cha ông, Theodorus van Gogh, là một mục sư. Mẹ ông, Anna Cornelia Carbentus, là một nghệ sĩ. Van Gogh đã trưởng thành trong gia đình thành tín tôn giáo và văn hóa. Ông có đầy cảm xúc và không tự tin lắm. Ông là người con thay thế. Ông sinh ra một năm sau cái chết của người anh, cũng có tên Vincent. Ông còn trùng ngày sinh với người anh đã chết. Sống tại nhà thờ chính tòa Vincent đi bộ qua mộ của anh trai đã chết mỗi ngày. Có người cho rằng Van Gogh bị chấn thương tâm lý sau đó, nhưng điều này không thể được kiểm chứng. Ông là họa sĩ hậu ấn tượng của Hòa Lan. Tác phẩm của ông có sức ảnh hưởng vĩ đại tới nghệ thuật hiện đại bởi vì màu sắc nổi bật và sức mạnh cảm xúc. Ông bị bệnh hoang tưởng và tâm thần. Ông đã tự tử chết năm 37 tuổi. Khi còn trẻ, Van Gogh làm việc cho một công ty đại lý nghệ thuật. Ông đi lại giữa The Hague, London và Paris. Sau đó, ông đã dạy tại Anh Quốc. Rồi ông muốn trở thành mục sư và truyền bá Phúc Âm, và từ năm 1879 ông làm việc truyền giáo tại một mỏ khai thác
Tháng 6 là tháng âm nhạc của người Mỹ gốc Phi Châu tại Hoa Kỳ. Nói cho có đầu có đuôi thì vào ngày 7 tháng 6 năm 1979, Tổng Thống Hoa Kỳ Jimmy Carter đã ban hành sắc lệnh ghi nhận rằng tháng 6 là tháng âm nhạc của người da đen ở Mỹ, theo www.en.wikipedia.org. Trong tuyên bố năm 2016, Tổng Thống Barack Obama nói rằng âm nhạc và các nhạc sĩ người Mỹ gốc Phi Châu đã giúp đất nước này “để khiêu vũ, để bày tỏ niềm tin của họ qua bài hát, để tụ tập biểu tình chống bất công, và để bảo vệ sự cam kết chắc chắn của quốc gia này đối với sự tự do và cơ hội cho tất cả mọi người.” Sau khi người đàn ông da đen George Floyd bị một cảnh sát da trắng đè cổ tới chết tại thành phố Minneapolis vào ngày 25 tháng 5 năm 2020, những cuộc biểu tình rầm rộ đã bùng nổ trên khắp nước Mỹ và nhiều nơi trên thế giới để chống lại sự bạo hành của cảnh sát và sự kỳ thị chủng tộc. Người Mỹ gốc Phi Châu đã có mặt ở Mỹ trên 400 năm kể từ khi người nô lệ Phi Châu đầu tiên được chở tới Jamestown tại Virginia vào năm 1619
Tôi luôn luôn nhìn tấm ảnh đó như một hình ảnh mạnh mẽ của hai người đàn ông da đen, chân trần, với đầu cuối xuống, các bàn tay mang găng đen đưa cao lên trong khi nhạc trổi lên quốc ca Hoa Kỳ, bản “The Star-Spangled Banner.” Đó là một cử chỉ biểu tượng mạnh mẽ -- đấu tranh vì dân quyền cho người Mỹ gốc Phi trong một năm mà các thảm kịch xảy ra, trong đó có cái chết của Martin Luther King và Bobby Kennedy. Đó là tấm hình lịch sử của 2 người đàn ông da màu. Do vậy, tôi chưa bao giờ thực sự chú ý tới người đàn ông kia, da trắng, giống tôi, bất động nơi bậc thứ nhì của bục nhận giải thưởng đó. Tôi xem người kia như một hiện diện tình cờ, phụ thêm trong khoảnh khắc của Carlos và Smith, hay là một kiểu như người chen vào. Thực sự, tôi còn đã nghĩ rằng người đó --- trông như dường chỉ là một người Anh quốc cười gượng --- trong kiểu đứng bất động lạnh lẽo như đại diện cho các ý chí muốn chống lại sự thay đổi mà Smith và Carlos đang đưa lên trong hành động phản đối lặng lẽ. Nhưng tôi đã nhầm.
Riêng chúng tôi- những người trong nhóm thân hữu “Hội Ca Cầm”- thì không bất ngờ trước sự sung mãn trong sáng tác của nhạc sĩ Trần Quang Lộc. Trong khoảng thời gian từ năm 1980 đến 1984, anh Lộc (nhóm chúng tôi vẫn gọi như thế) hay đến “hát chui” tại những buổi văn nghệ bỏ túi tại tư gia của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, của ca sĩ Duy Trác, của nhà văn Nguyễn Đình Toàn. Chúng tôi đã nghe rất nhiều sáng tác của anh Lộc sau 1975 trong khoảng thời gian này, mà không phải tất cả đều được phổ biến chính thức tại Việt Nam. Đối với chúng tôi, điểm đặc trưng nhất của nhạc Trần Quang Lộc là giai điệu của một kẻ lãng du, như bài hát Lãng Du Ca mà anh đã sáng tác từ trước 1975
Một đời nghệ sĩ rong chơi, lúc đói nghèo cũng như lúc được chào đón nồng nhiệt, Trần Quang Lộc luôn có nụ cười dễ mến. Trần Quang Lộc hát khắp nơi mình đến, nhưng tiếng hát nơi hội họp với nhau, không phải trên sân khấu, mới nói lên hết cái hồn thơ của người nghệ sĩ. Nghe TQL đàn hát Đàn Trong Tay Người mới thấm cái buồn nhỏ đều giọt vào lòng giếng khô
Họa sĩ Thomas Gainsborough sinh ngày 14 tháng 5 năm 1727 và qua đời ngày 2 tháng 8 năm 1788, tại Anh, theo Bách Khoa Từ Điển Mở. Ông chuyên về vẽ chân dung, phong cảnh, biểu đồ và làm nghề in. Cùng với đối thủ của ông là Sir Joshua Reynolds, ông được xem là một trong những nghệ sĩ Anh quan trọng nhất của hậu bán thế kỷ 18.
Mùa hè năm 1979 tại thành phố Vancouver Canada có ngày lễ hội văn hóa dành cho các sắc tộc và cộng đồng Việt Nam lúc đó tuy không nhiều nhưng cũng có tham dự. Một chị từng là sinh viên du học Nhật Bản và sau biến cố 1975 thì định cư Canada- chị mặc chiếc áo dài và dân Canada ngạc nhiên thích thú. Có người tò mò hỏi trang phục đó là của dân tộc nào thì được cho biết đó là áo dài Việt Nam.
Năm 2005 thành phố San Jose có nghị quyết công nhận Lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng của Cộng đồng Việt Nam tại đây- điều này đã tạo cảm hứng cho nhạc sĩ Trần Chí Phúc viết nên ca khúc Cờ Vàng Bay Trên Thành Phố Ta Hôm Nay. Năm 2006, Thống đốc California là Arnold Schwarzenegger ký sắc lệnh công nhận Lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng của cộng đồng Việt Nam tự do ở tiểu bang California. Tác giả đã thu âm bài hát Cờ Vàng Bay Trên Thành Phố Ta Hôm Nay, hợp ca 2 nam 2 nữ và gởi tặng CD cho Thống đốc để bày tỏ lòng tri ân.
Bài hát như là một câu chuyện mà tôi viết với hình ảnh của một người cha, người vợ và những đứa con thơ, nhưng đây không phải là câu chuyện của một cá nhân nào, mà đó chính là câu chuyện được viết chung cho tất cả các nhân viên y tế nơi tuyến đầu. Họ là Những Thiên Thần Áo Trắng và dù họ đã chắp cánh bay xa, nhưng họ sẽ để lại cho chúng ta mãi mãi sự biết ơn và cho thế gian này sự hồi sinh từ sự hy sinh cao cả của họ. Tâm khúc này cũng được Nhạc sĩ Cao Minh Hưng dịch sang tiếng Anh với tựa đề "Angels In Scrubs" để các y tá, bác sĩ, những nhân viên y tế không biết tiếng Việt cũng có thể hiểu được sự biết ơn mà người Việt Nam chúng ta dành cho họ trong cơn đại dịch này.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.