Hôm nay,  

Từ Hát Xẩm Đến Hip Hop: Nỗ Lực Cách Tân Nền Âm Nhạc Cổ Truyền Việt Nam

10/10/202500:00:00(Xem: 3180)
hát xẩm cổ truyền
Nghệ nhân Hà Thị Cầu (sinh năm 1917) được mệnh danh là “Người Hát Xẩm Cuối Cùng”, sinh ra trong một gia đình ba đời hát xẩm. (Ảnh cắt từ video)
 
Có một anh chàng trẻ tuổi gốc Việt, hồi ở Việt Nam học nhạc viện Hà Nội, sau đó đi du học ở Nhật, hiện nay đã trở thành công dân Nhật theo diện di dân có tay nghề. Anh nhận xét rằng nền âm nhạc cổ truyền của Nhật thật đặc sắc, và còn độc đáo hơn nữa khi được các ban nhạc rock trẻ Nhật trình diễn theo phong cách mới. Thí dụ như Wagakki Band phối hợp đàn koto, trống taiko, sáo trúc… chơi cùng với những nhạc cụ rock, làm say mê hàng triệu khán giả trẻ của Nhật. Anh chàng trẻ gốc Việt tin rằng các ban nhạc trẻ ở Việt Nam rồi cũng sẽ làm được điều tương tự.
 
Một chị quê ở Hà Nội, hiện nay đang sống ở Canada theo diện di dân đầu tư. Là người mê dân nhạc Việt Nam, chị cho biết vẫn nghe đủ thể loại chèo, quan họ, chầu văn… để đỡ nhớ quê nhà. Có một lần xem trên Youtube một nhóm trẻ ở Hà Nội kết hợp hát xẩm với nhạc rap, nhảy hip hop, chị nhận xét: “…nhạc chơi theo kiểu hiện đại, trang phục thì khá lố lăng, nhưng chắc phải hát xẩm kiểu này tụi trẻ mới thích và mới biết đến hát xẩm…”
 
Hai người Việt xa xứ ở hai phương trời, nhưng có cùng trăn trở về việc cách tân nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam, để nó có thể tiếp tục đi vào đời sống của thế hệ trẻ hiện tại.
 
Thật ra, công việc bảo tồn, đổi mới để phát triển nền dân nhạc Việt Nam đã và đang được thực hiện bởi nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc, nhạc sĩ cả trong lẫn ngoài nước, như ở Pháp có nhạc sĩ Nguyên Lê, ở Mỹ có nữ nhạc sĩ Vân Ánh Võ… Trong nước có nhiều người làm việc thầm lặng từ hàng chục năm nay; và những nỗ lực của họ đang đơm bông kết trái. Chị Nguyễn Thủy Tiên, cùng chồng là anh Nguyễn Đức Phương và đồng nghiệp Nguyễn Thị Minh Châu trong Viện Âm Nhạc Việt Nam là một trong số những người dấn thân vào công tác văn hóa này. Vào năm 2010, nhóm bắt đầu thực hiện một dự án nghiên cứu về phương cách đưa âm nhạc truyền thống đến với giới trẻ. Cụ thể là sự kết hợp giữa hát xẩm và hip hop, là hai loại hình nghệ thuật đường phố tưởng chừng như hoàn toàn khác biệt.
 
Trong một bài viết từ năm 2010 có tựa đề “Xưa Ra Đường ‘A... Xẩm!’, Nay Xuống Phố ‘Ồ... Hip-Hop!’”, chị Nguyễn Thị Minh Châu đã phân tích một số điểm chung của hai thể loại âm nhạc Đông-Tây, kim-cổ có vẻ như hoàn toàn khác biệt. Một số trích đoạn trong bài viết:

“… Giữa vườn hoa Lý Thái Tổ, giọng hát da diết thấu tận tâm can của cụ bà trên tám mươi Hà Thị Cầu vừa dứt bài Thập ân, chiếu xẩm được cuốn lại nhường chỗ cho những cú nhảy cuồng nhiệt của các b-boy chưa quá đôi mươi. Người xem lớn tuổi hơi “sốc”. Còn đám choai choai mau chóng chuyển từ trạng thái sắp ngủ gật sang phấn khích om sòm…

…Xẩm là hình thức hát rong phổ biến vào khoảng trăm năm trước. Nghệ thuật cổ truyền này được thể hiện qua giọng hát, lời ca, tiếng đàn của người tàn tật. Tài ca hát, đàn phách giống như món quà trời cho bù đắp vào khuyết tật cơ thể. Món quà được dùng làm kế sinh nhai, làm vũ khí đánh vào lòng trắc ẩn của người nghe để có được những đồng tiền hảo tâm.

Hip-hop là nghệ thuật đương đại du nhập vào Việt Nam mới được hơn chục năm nay. Nhảy hip-hop (b-boying, popping, stepping...) được biểu hiện chủ yếu bằng động tác cơ thể - những cơ thể hoàn hảo, trẻ khỏe, dẻo dai, linh hoạt của tuổi đang lớn. Tuy đòi hỏi năng khiếu âm nhạc nhất định, đặc biệt khả năng nhạy bén với tiết tấu, song món quà trời cho vẫn là cơ thể tự nhiên và niềm đam mê đáng ngưỡng mộ của tuổi trẻ. Món quà đó được dùng không nhằm mục đích xin tiền, mà hơn hết, để thỏa mãn chính mình, để chứng tỏ cái tôi qua sự phô diễn, thi thố tài năng.

Xẩm truyền nghề và hành nghề thường theo mô hình gia đình. Con dẫn cha mù lòa, vợ dắt chồng què cụt đem gia tài duy nhất là giọng hát đi mua vui cho thiên hạ. Hát xẩm từng là “tiết mục” giải trí quen thuộc nơi góc chợ, vỉa hè, bến đỗ, trên tàu xe...

Hip-hop sinh hoạt theo nhóm, học hỏi, thách đấu với nhau dưới hình thức cạnh tranh tự nhiên. “Dân” hip-hop khá bình đẳng vì ít thấy cách biệt tuổi tác giữa người dạy với người học, cũng không có sự phân biệt giai cấp giữa người diễn với người xem. Đám trẻ chia sẻ kĩ năng, đua tài, cổ vũ nhau không chỉ trực tiếp ở góc phố, công viên..., mà còn qua thế giới ảo. Internet là nơi giao lưu, thưởng thức và bình luận sôi động của cả một cộng đồng hip-hop không biên giới quốc gia.

Rất khác biệt về cội nguồn, hình thức trình tấu và ngôn ngữ biểu hiện, nhưng hai loại hình biểu diễn đường phố này vẫn có những điểm chung khái quát để có thể đi tới hội ngộ. Chẳng hạn như không gian diễn xướng công cộng và tính tự phát của cuộc trình tấu. Xưa anh xẩm sẵn lòng cất tiếng ca bất kì nơi đâu có người qua lại. Nay cứ chỗ nào đủ thoáng rộng đều có thể biến thành sân chơi của các tín đồ hip-hop. Xuất phát từ tầng lớp thấp trong xã hội, xẩm và hip-hop dường như không bao giờ để mất đi tính bình dân, tính đại chúng. Đặc biệt, cả hai đều dựa vào sự kế thừa truyền khẩu, truyền ngón nghề và lối diễn tấu ngẫu hứng.


Hoàn cảnh khách quan hiện nay còn tạo thêm một điểm nữa vừa chung mà cũng vừa riêng, đó là “cuộc chiến” giành công chúng. “Cụ” Xẩm làm người nghe nhỏ tuổi mủi lòng cũng khó như “nhóc” hip-hop lấy lòng người xem cao niên. Hàng chục năm bặt tiếng khiến âm điệu xẩm chợ, xẩm tàu điện thân thuộc của ông bà trở nên xa lạ với con cháu, và chưa thể nói tới khả năng trường tồn nếu xẩm không tính đến chuyện “mua chuộc” công chúng trẻ.
Ngược lại, sự hình thành hoàn toàn tự phát của hip-hop với nỗ lực đáng ngạc nhiên của giới trẻ hầu như không được chào đón bằng cái nhìn thiện cảm của phụ huynh, nên chinh phục công chúng không còn trẻ là một trong những thử thách của hip-hop để có được sự ghi nhận chính thức và những ủng hộ xứng đáng.

Sau một thời chỉ “sống” trong các tài liệu nghiên cứu, khoảng dăm năm nay xẩm bắt đầu có cơ hội trở lại với đời. Không gian xẩm được dựng lại trên sàn diễn bên khu chợ Đồng Xuân với sự đỡ đầu của Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam. Nhiều làn điệu đã hồi sinh từ trí nhớ của các nghệ nhân già, được cất lên qua tiếng hát của những “anh xẩm cô xẩm” mới vào nghề và... không tàn tật!

Còn hip-hop? Qua cái thời gây ấn tượng chủ yếu bằng thời trang lập dị, giới “áo thụng quần tụt” ngày càng biết bộc lộ cá tính của mình qua kĩ năng trình diễn. Từ “học mót” tiến tới “tự chế”, những động tác robot, sóng, xoay, giật... trở nên thuần thục và điệu nghệ hơn. Có những thử nghiệm pha thêm màu sắc dân tộc qua nền đệm của nhạc cụ cổ truyền ngẫu hứng trên âm điệu dân gian. Nhiều tiết mục còn lóe lên khả năng dàn dựng và diễn tấu phối hợp ở những nghệ sĩ không bằng cấp nhưng không thiếu tài năng, ý chí và sự nghiêm túc trong lao động nghệ thuật…”
 
Vào năm 2010 và 2011, nhóm của chị Nguyễn Thủy Tiên thực hiện 2 video về chủ đề hát xẩm và hip hop; cả hai đều được trình bày tại hội thảo quốc tế về chủ đề âm nhạc dân tộc học ứng dụng tại Canada và Việt Nam. Từ ý tưởng kết hợp giữa âm nhạc truyền thống với hiphop đã mở ra hướng đi mới cho nhiều nhạc sĩ và các nhóm nhạc trẻ sau này.



Trong một video có đoạn có tên là “Project of Bridges”, nhóm gợi ý cho một ban hip hop đường phố thử sử dụng các loại nhạc truyền thống làm nền cho các điệu nhảy của mình. Nhóm mời các bạn trẻ trong ban Milky Way (một nhóm hip hop khá nổi tiếng ở Hà Nội thời bấy giờ) về nhà, cho nghe các điệu ca trù, chầu văn, chèo, nhạc cồng chiên Tây Nguyên… Các em nghe, rồi bàn luận loại nào có thể sử dụng để nhảy, loại nào không; và bắt đầu cùng nhau phát triển những động tác phù hợp với nền nhạc cổ truyền. Sau đó, các em bắt đầu có thêm những điệu nhảy trên đường phố với nền cổ nhạc Việt Nam. Các bạn trẻ cảm thấy hãnh diện khi làm được một điều mà trước đó chưa bao giờ nghĩ tới.
 
Những định hướng của những người đi tiên phong nay đã có hiệu quả. Không chỉ những nhóm hip hop đường phố thử sử dụng nhạc cổ truyền, mà những ca sĩ, ban nhạc trẻ chuyên nghiệp cũng sáng tác, trình diễn kết hợp tân-cổ. Video “Xẩm Hà Nội” trên Youtube của nữ ca sĩ Hà Myo x VBK ra mắt vào cuối năm 2020, đến nay đã có trên 2.3 triệu view. Giai điệu xẩm được cải biên một chút, không còn thuần ngũ cung, trở nên sống động hơn, phù hợp với cô ca sĩ tân thời đẹp sắc lẻm theo đúng kiểu “gái chợ Đồng Xuân.” Khán giả theo nhịp điệu nhanh như bước chân đi dạo một vòng Hà Nội 36 Phố Phường. Cũng vẫn là Phố Hàng Gà, Tràng Tiền, Lò Đúc… nhưng không phải là những con đường cổ kính của thời Thạch Lam, mà là một Hà Nội mới vui nhộn, hối hả hơn. Ngôn ngữ rap, điệu nhảy hip hop giúp lột tả được phần nào phong cách sống của giới trẻ Hà Nội ngày nay: bớt thanh lịch, bình dân hơn, nhựa sống sung mãn. Làm nền cho tiếng hát là tiếng đàn nhị truyền thống của hát xẩm, nhưng lả lướt, lãng tử hơn, với những nốt luyến láy như đối đáp với giọng hát chanh chua của cô gái chợ. Một sự phối hợp cổ kim sáng tạo, khá độc đáo, chắc hẳn đem nhiều bạn trẻ đến gần hơn với thể loại hát xẩm cổ truyền.
 
Trong La Vie de Chopin, Franz Liszt đã nhận định Chopin đã thổi hồn dân tộc Ba Lan vào từng phím đàn, biến điệu dân gian thành ngôn ngữ tinh tế của âm nhạc cổ điển. Có vẻ như những người khởi xướng “Project of Bridges” đã thành công trong việc bắt nhịp cầu để giới trẻ đến với suối nguồn dân nhạc Việt Nam. Hát rap trên nền nhạc xẩm, hay nhảy hip hop trên nền cồng chiên- đàn t’rưng Tây Nguyên, các bạn trẻ Việt Nam vẫn có thể tạo ra bản sắc của riêng mình khi hòa cùng nền âm nhạc đương đại của thế giới.
 
Doãn Hưng
Chú thích
[1] Franz Liszt, La Vie de Chopin (Paris: Librairie Nouvelle, 1852). Bản tiếng Anh Life of Chopin, dịch bởi Martha Walker Cook (New York: Hurd and Houghton, 1863), Chương II–III.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Giữa ánh đèn vàng ấm của những quán cà phê “Jazz Kissa” tại Nhật Bản, một lớp người mê đĩa nhựa đang gìn giữ một cách thưởng thức âm nhạc mà thời đại ồn ào hôm nay gần như đã quên: ngồi lại với nhau, và nghe cho trọn. Một chiều thứ Bảy, chúng tôi len qua những con hẻm nhỏ của khu Shimokitazawa ở Tokyo – nơi áo thun cũ treo đầy cửa tiệm, mùi cà ri từ quán ăn bình dân lan ra ngoài phố – để tìm một quán chỉ thấy trên mạng. Khi nhận ra tấm bảng nhỏ treo kín đáo, chúng tôi bước lên cầu thang hẹp, gõ nhẹ cánh cửa không cửa sổ, rồi bước vào một căn phòng ốp gỗ ấm áp, treo rèm hạt và bức tranh vẽ nữ nghệ sĩ harp Alice Coltrane.
Ngựa là một hình ảnh rất gần với chúng ta, ngay cả trong đời thường, bất kể thực tế rằng không còn bao nhiêu quốc gia dùng ngựa để kéo xe nữa. Tuy nhiên, bạn thử ngó lên tường, hay mở ra một vài truyện cổ, hay các trang thơ xưa, gần như lúc nào cũng có thể gặp hình ảnh con ngựa. Dĩ niên, năm tới là năm con ngựa. Nhưng trước giờ, trong sách sử, vẫn có Thánh Gióng bay mãi trong truyện cổ tích Việt Nam với ngựa sắt. Ngựa đã gắn liền với lịch sử Việt Nam như thế. Đó là ngựa sắt, vậy mà bay được ra trận, chở được cậu bé Phù Đổng Thiên Vương nhổ gốc tre khổng lồ, phi ngựa như giông bão, ào ạt càn quét quân Bắc phương ra khỏi bờ cõi nước Nam. Trong ký ức đời thường, đối với dân Sài Gòn, những người ở lứa tuổi 60 trở lên, hình ảnh con ngựa là các xe thổ mộ chạy lóc cóc ở ngoại ô. Lúc đó, chưa có xe buýt nội ô, chỉ có xe đò (bây giờ gọi là xe khách) liên tỉnh. Bước tới gần ngoại ô, như Hòa Hưng, Bảy Hiền, Ông Tạ, Bà Điểm, Hóc Môn... sáng sớm là có xe thổ mộ với vó ngựa chạy lóc cóc.
Ngay dịp Valentine năm nay, hãng Warner Bros. cho ra mắt bộ phim “Wuthering Heights” – phóng tác mới nhất từ tiểu thuyết “Đỉnh Gió Hú” của Emily Brontë. Phim do Emerald Fennell – nữ đạo diễn Anh từng gây tiếng vang với “Promising Young Woman” và “Saltburn” – viết kịch bản và đạo diễn, với Margot Robbie đóng vai Cathy và Jacob Elordi trong vai Heathcliff. Ngay phần giới thiệu đầu phim, Fennell chỉ ghi lời khiêm tốn “dựa theo tiểu thuyết của Emily Brontë”, và còn để nhan đề trong ngoặc kép, như muốn nói đây là một phiên bản riêng, không phải chuyển thể “theo sách”.
Có lẽ cách dễ nhất để hiểu Bảy tám năm của Bùi Chát không phải là nhìn nó như một dự án ý niệm về sự phai tàn, mà như một tình huống hội họa được kéo dài trong thời gian. Ở đó, tranh không chỉ được treo lên để xem, mà được đặt vào một hoàn cảnh đặc biệt: hoàn cảnh sẽ biến mất. Không phải như một tai nạn, mà như một điều kiện tồn tại.
Theo lẽ thường, con người học hỏi kiến thức, kỹ năng từ dễ đến khó. Lấy toán học làm ví dụ, những đứa trẻ vào tiểu học bắt đầu cộng trừ nhân chia; lên trung học biết thêm căn, lũy thừa; rồi đến các môn hình học, đại số, lượng giác, giải tích, tân toán học… Để hình tượng hóa mức độ phức tạp của toán học, người ta thường dùng bức ảnhnhà bác học Albert Einstein đứng trước tấm bảng với chằng chịt những phương trình mà không có mấy người hiểu được.
Giải thích thế nào về một cảm giác lơ lửng, lâng lâng như say sau khi đọc tuyển tập “Đi Vào Cõi Tạo Hình II” của họa sĩ Đinh Cường (1939-2016)? Khi tôi khép sách lại và vài ngày sau lại mở ra đọc lại, và rồi lại ngưng vài ngày rồi đọc lại. Tôi bâng khuâng. Tôi lạc lối. Như đang bước trên mây. Thế giới trong sách như dường tách biệt với cõi đời đầy những xung đột thế gian quanh tôi. Cuốn sách đưa độc giả vào một thế giới cực kỳ thơ mộng và rất riêng tư của Đinh Cường. Từng trang sách “Đi Vào Cõi Tạo Hình II” là một cuộc đi dạo với Đinh Cường trong một cõi của thơ, của tranh, của tượng, của mỹ thuật và của tình bạn nghệ sĩ. Tuyển tập II dày 180 trang, in trên giấy đẹp, dày để giữ hình ảnh, màu sắc của các họa phẩm gần như nguyên vẹn ở mức tối đa.
Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (Vietnamese American Arts and Letters Association – VAALA) trân trọng thông báo thời gian chính thức mở liên hoan phim và ra thông báo tuyển phim cho Viet Film Fest 2026, đánh dấu 23 năm liên hoan phim tôn vinh nghệ thuật kể chuyện và văn hóa Việt Nam qua điện ảnh. Đại Hội Điện Ảnh Việt Nam Quốc Tế Viet Film Fest sẽ diễn ra từ ngày 9 đến 11 tháng 10 năm 2026 tại The Frida Cinema, số 305 E. 4th Street, thành phố Santa Ana, đồng thời kết hợp hình thức online để khán giả trên toàn nước Mỹ và quốc tế có thể thưởng thức đa số phim được tuyển chọn.
Một trò chơi dân gian mà thế hệ tôi thường chơi vào những ngày Tết là chơi bài “ngầu”, có nơi gọi “ngầu hầm” hoặc “ngầu tố”. Con số 785 là con số cụ thể của ba quân bài, mô tả việc đã “có ngầu” — đủ điều kiện để tiếp tục ở lại ván chơi. Tôi thích trò chơi này vì nó không có thứ bậc. Không ai hơn ai. Chỉ có hai loại người: có ngầu và không ngầu. Có ngầu nghĩa là còn lý do để chơi. Không ngầu nghĩa là rời khỏi bàn. Nghệ thuật cũng thế: không có tác phẩm “cao” hay “thấp”, “kinh điển” hay “thường dân”. Chỉ có kẻ còn dám liều trong chính giới hạn của mình, và kẻ đã thôi. Tôi gọi dự án này là Bảy tám năm – vừa là con số “ngầu” trong trò chơi, vừa là hạn sử dụng của tác phẩm. Tôi đã thử nghiệm một loại dung môi đặc biệt: khi pha với màu, nó khiến bức tranh tự tan biến dần theo thời gian. Sau bảy đến tám năm, toàn bộ màu sắc sẽ phai hết, chỉ còn lại tấm toan trắng. Không phải vì bị phá hủy, mà vì được lập trình để biến mất.
Nói về “nghe” ở Việt Nam là nói về một trong những hoạt động phổ biến nhất và ít được suy nghĩ nhất. Người Việt nghe mọi thứ: nghe nhạc, nghe người khác nói, nghe hàng xóm cãi nhau, nghe loa phường, nghe lòng mình, nghe cả những thứ không cần nghe. Nhưng nghe âm nhạc — đó mới là một môn nghệ thuật, hay đúng hơn, một môn thể dục tinh thần được tổ chức rầm rộ, từ phố thị đến thôn quê, từ quán cà phê đến sân khấu và truyền hình. Người Việt không chỉ nghe âm nhạc: họ trưng bày việc nghe như một phần bản sắc.
Chưa bao giờ tôi nghĩ mình lại xúc động với thể loại phim tài liệu, cho đến khi xem bộ phim tài liệu “The General” của nữ đạo diễn Laura Brickman (Mỹ), đã làm cho tôi thay đổi suy nghĩ của mình. Tôi thật sự đã rất xúc động, thậm chí, cho đến khi được mời phát biểu về bộ phim ngay sau đó, tôi vẫn còn nghẹn giọng. Vì chỉ mới vài chục giây đầu của phim, những ký ức của tôi về xã hội Việt Nam tưởng chừng đã ngủ yên từ hơn 2 năm qua, sau khi tôi đào thoát khỏi Việt Nam, thì chúng đã sống dậy hầu như trọn vẹn trong tâm trí của tôi. Chúng rõ mồn một. Chúng mới nguyên. Khiến cho tôi cảm giác như mọi chuyện vẫn như mới ngày hôm qua mà thôi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.