Hôm nay,  

Thế hệ chiêm bao

06/04/202212:34:00(Xem: 2792)

Điểm sách

ngvangia

 

(Nhân đọc Lặng Lẽ Phù Sa, thơ Nguyễn Văn Gia, NXB Hội Nhà Văn, 2015).

 

“Chén trà sương sớm bên thềm

Vừa nghe chim hót, vừa thèm chiêm bao” (Bùi Giáng).

 

Nhà thơ Nguyễn Văn Gia cũng như nhiều người bạn bước chân vào Đại Học Huế trước khi chiến tranh kết thúc, một số có lẽ là thành viên của “thế hệ chiêm bao”.

 

Rồi thế nào hòa bình cũng phải đến

Như mặt trời thức dậy cuối đêm đen. (Mơ ngày hòa bình, Huế, 1972)

 

Nguyễn Văn Gia (NVG) làm thơ buổi tàn cuộc binh đao, đâu đó trước khi Hiệp Định Paris (1/1973) được ký kết. Anh hân hoan “chào chim sẻ, chim cu gáy của ngày còn bé/ Rủ nhau về sau năm tháng mù tăm”… Và khi đó anh xin làm một thầy giáo trẻ/ Dạy dỗ bầy em dưới mái trường làng.” Thật hồn nhiên và rất đỗi lạc quan cách mạng. Cho đến khi“Quá nửa đời gió bụi với sương phai/ Khi ngoảnh lại đã hoàng hôn nắng quái/ Cái không thực làm sao tìm cho được/ Đôi tay gầy không thể hái trăng sao.” Nhà thơ “Bỏ rơi viên phấn nửa chừng/ Ta về nằm ngủ giữa rừng chiêm bao.” Lại chiêm bao, bây giờ anh mơ bóng tre xanh, quê nhà đã thành cố hương, mùa trăng cũ và tiếng chim…

 

Có những người bạn, nhà văn-nhà báo-nghệ sĩ nhiếp ảnh… phải lên tận bán đảo Sơn Trà mai phục may ra ghi hình chim và vọoc. Đất Thanh Khê của anh với Ngã Ba Huế, cửa ngõ phía Tây thành phố Đà Nẵng, khe nước xanh đổ ra Vũng Thùng nay không còn xanh nữa, chỉ may mắn còn lưu giữ cái chợ nửa tỉnh nửa quê, nhưng để nghe được tiếng chim gù nơi thảo lư có lẽ hơi chông chênh. Thì đành chiêm bao vậy.

 

Thế hệ mình bước chân vào đại học khi chiến tranh không còn lởn vởn nơi vùng ven, có lúc đã đổ ập vào thành phố. Rớt Tú Tài anh đi trung sĩ, trượt Đại Học anh vào Thủ Đức. Khung trời đại học Huế không cao vời vợi, mùa giêng hai mây mù bảng lảng vờn qua sát nhịp cầu ánh bạc, sà xuống cành phượng vĩ đến tận bãi cỏ chân cầu, hành lang Văn Khoa thì hẹp và sâu hun hút nên anh em sinh viên hầu như đều quen biết nhau, từ những nhan sắc một thời nay nhắc đến tên còn thấy xao xuyến, đến anh chàng sinh viên quần kaki vàng, đội mũ beret lệch thời thượng Che Guavara, trong câu chuyện, thỉnh thoảng chêm vào câu bùa chú “cuộc kháng chiến giữ nước và dựng nước vĩ đại của dân tộc ta” cóp nhặt đâu đó qua những tài liệu Văn-Sử-Địa miền Bắc lưu truyền vào. Chúng mình hồi ấy sống hài hòa, mỗi người có nỗi niềm riêng, điều quan trọng là tôn trọng giấc mơ người khác. Có lẽ, đời sống sinh viên bấy giờ sàn sàn như nhau, bổng lộc là hư vô, nên kèn cựa, cơ hội để mà làm chi? Khác với không khí đại học sau 1975 và xã hội bây giờ “Dối trá và sợ hãi/ Đã trở thành thói quen/ Cái tôi đã thành cái/ Hai mặt và phân thân” (Hai mặt).

 

Cho nên, thế hệ chiêm bao tồn tại qua chiến tranh từng trăn trở:

 

“Sống như thế nào là phải đạo/ Chẳng lẽ theo gió mà trở chiều.”

 

Một mai khi hòa bình đến, những năm tháng của tuổi trẻ đẹp nhất, chúng mình được lùa vào “Trại Súc Vật”(Animal Farm, tên một tiểu thuyết của George Orwell). Có anh ném giấc chiêm bao thời hoa mộng xuống sông Hương, sông Hàn… đi tìm giấc mơ khác bên kia đại dương, có anh quy khứ lai từ hay ra chợ bán văn ngày tháng qua, số ít chen được một chân vào giai cấp mới (chữ của Milovan Djilas), nghe lời phủ dụ của mấy con heo có vai vế trong Trại Súc Vật, riêng anh vẫn dạy học, thỉnh thoảng làm thơ “Nghĩ về đất nước”. Nhà thơ ơi, hãy khoác một vòng hoa và tránh ra cho người ta yêu nước!

“Lặng lẽ phù sa” những câu thơ tưởng yên ả như lớp trầm tích lắng đọng với thời gian, nhiều bài hư ảo như một thi kệ, vậy mà thỉnh thoảng thơ trỗi dậy phun trào như dung nham núi lửa muốn dịch chuyển cả đại cục.

 

Nhà thơ không ly hương, vậy mà thao thiết nhớ quê hương! Bên kia vườn địa đàng, con người có mặt với hoa lá, chim muông, núi đồi-dòng sông, những giấc mơ- chiêm bao.

 

Chẳng thể ngồi xuống chiêm nghiệm và chiêm ngưỡng hoài những giấc mơ, sợ rồi lại hóa đá hay biến thành ảo ảnh…

 

Trên từng bước chân đi, biến giấc mơ để làm người Tự Do bởi Tự Do chưa bao giờ là món quà cho không.

 

Tống Văn Thụy

(2/2022)

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Có thể hình dung như thế nào về truyện ngắn Nguyễn Văn Sâm? Khi tôi khép lại các trang sách trong tuyển tập "Chiếc Ba Lô Để Lại" dày 630 trang mới ấn hành của vị giáo sư nổi tiếng về văn học chữ Nôm, khi chữ biến mất là hiện lên một cánh đồng cò bay thẳng cánh, nơi có sương mai và nắng sớm của ngôn ngữ Lục Tỉnh mà chúng ta ngỡ như đã biến mất từ nhiều thập niên trước, bây giờ như tình cờ hiển lộ trên ký ức như mây trời Núi Cấm. Nơi này, nơi kia trên các trang giấy tập truyện, giữa những chuyển biến truyện và đối thoại của nhân vật là khói sương của tín ngưỡng dân gian Nam Bộ, nơi niềm tin tự nhiên vào luật nhân quả, nơi đó cái thiện sẽ lưu giữ trong lòng người và những gì bất thiện sẽ phai nhạt theo quá khứ lịch sử.
Nhà văn Trịnh Y Thư vừa ấn hành tuyển tập Theo Dấu Thư Hương 2, gồm nhiều bài viết trong nhiều chủ đề đa dạng, phần lớn là về văn học nghệ thuật, đôi khi là lịch sử, khoa học, xã hội. Tuyển tập dày 294 trang, đang lưu hành trên các mạng, như Amazon và Barnes & Noble. Nhìn chung, tác phẩm giúp độc giả soi rọi thêm nhiều cách nhìn đa dạng, mới mẻ, kể cả khi tác giả viết về những người viết chúng ta đã quen thuộc trong văn học Việt Nam, như về Ngô Thế Vinh, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Thị Khánh Minh, và nhiều người khác...
Hans Fallada, tên thật là Rudolf Ditzen, người đã sống giữa những biến động của nước Đức — từ sự sụp đổ của Đế chế, đến cơn bão của Thế chiến thứ nhất, rồi bước vào cơn ác mộng của Đệ tam đế chế. Trước chiến tranh, Fallada là một nhà văn nổi tiếng, tác giả của Little Man, What Now?, được Hollywood dựng thành phim. Nhưng khi Hitler lên nắm quyền, ông bị cấm xuất bản, bị Gestapo rình rập, và bị ép phải viết những tác phẩm phục vụ tuyên truyền. Tưởng chừng như bị nghiền nát giữa bạo lực và sợ hãi, ông lại tìm thấy trong ngục tối một đường sống của tâm hồn – viết. Trong ngục tối, ông bí mật viết nên ba cuốn tiểu thuyết mã hóa, và sau chiến tranh, vừa thoát xác một người sống sót, ông viết cuốn cuối cùng: Mỗi người đều chết một mình (Every Man Dies Alone).
Năm 2025 đánh dấu một bước ngoặt đặc biệt trong hành trình của Ocean Vuong (1). Nhà văn, nhà thơ gốc Việt nầy đã trở thành một trong những khuôn mặt quan trọng nhất của văn chương Mỹ đương đại. Không còn là “hiện tượng thơ”, không còn được biết đến qua nỗi đau di dân, không còn đứng trong hào quang của Night Sky with Exit Wounds hay thành công bất ngờ của On Earth We’re Briefly Gorgeous trước đây, Ocean Vuong năm 2025 là một nhà văn đang mở ra biên giới mới của chính mình với The Emperor of Gladness, NXB Penguin Press, New York, 2025)...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Vâng, cảm ơn nhà thơ thiền sư Thiện Trí. Ý nghĩa rất minh bạch, rằng hãy về thôi. Về thôi, về mặc Cà Sa / Về thôi cởi áo Ta Bà phong sương... Hiển nhiên, không phải là đổi y phục, mà phải là chuyển hóa nội tâm. Cởi áo Ta Bà không đơn thuần là rời bỏ đời sống cư sĩ hay thế tục, mà là buông bỏ tâm vọng động, tâm phân biệt, tâm chấp ngã vốn đã bị phong sương của sinh tử bào mòn. Mặc áo Cà Sa không nhất thiết là khoác lên mình chiếc áo của người xuất gia, mà là khoác lên tâm từ bi, trí tuệ, và vô ngã.
Khăn quấn. Áo sơ sinh. Muối. Tuyết. Băng. Năm vật trắng - năm tiếng gọi đầu tiên - đặt lên trang giấy như một chuỗi hạt. Trong tay Han Kang, chúng vừa là dấu hiệu khởi sinh, vừa là định mệnh. Đứa trẻ chưa kịp sống đã được bọc trong khăn trắng, và cũng chính khăn quấn ấy trở thành tấm liệm. Trắng ở đây không phải nền sáng, mà là sự trống vắng ngân nhịp toàn cuốn sách. Han Kang, nhà văn Hàn Quốc được biết nhiều qua The Vegetarian, tác phẩm đã đem về cho bà giải Nobel Văn chương năm 2024, xuất hiện trong văn học thế giới như một cơn gió lớn. Nhưng The White Book mới là tác phẩm tôi rất yêu của Bà – những dòng chữ lặng mà sáng, mong manh mà bám riết.
Cuốn sách này là một công trình phục vụ cộng đồng nhân kỷ niệm 50 năm xa quê hương sống đời viễn xứ (1975-2025). Sách được in thành 2 tập – Tập 1 gồm 41 tác giả và Tập 2 gồm 45 tác giả. Như vậy, tổng cộng có 86 tác giả, trong đó có nhiều tác giả đã nổi tiếng từ trước 1975. Tám mươi sáu tác giả đến vùng đất này bằng những cách khác nhau, trình độ khác nhau, nghề nghiệp khác nhau nhưng có một điểm tất cả đều giống nhau. Đó là: Họ đã sống và viết bên dòng Potomac.
Ngày 17 tháng 9 năm 2025, thi sĩ “Công giáo” Lê Đình Bảng đã bước vào độ tuổi thượng thọ. Ông đã chính thức đạt 83 tuổi Tây và 84 năm tuổi ‘Mụ’. Một độ tuổi cần nghỉ ngơi, an dưỡng tuổi già. Song với tình yêu văn chương, chữ nghĩa và đặc biệt là niềm tin vào tôn giáo, ông vẫn như một thanh niên tráng kiện, đầy đức tin và nhiệt huyết, khi cho ra mắt thi phẩm thứ 25, sau rất nhiều tác phẩm nổi tiếng với nhiều thể loại khác nhau như văn xuôi, nghiên cứu lịch sử, tôn giáo...sáng tác kể từ năm 1967 miệt mài cho đến nay...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.