Hôm nay,  

Không dưng hương lại về không

05/04/202613:36:00(Xem: 153)
blank 

Không dưng hương lại về không... 

– nhân đọc tuyển tập “Đuổi bắt một mùi hương” của Phan Tấn Hải

 

Vũ Hoàng Thư

 

 

Tháng 3 bắt đầu những cơn nóng. Nóng của thời tiết, và nhiệt tăng của thời thế. Chiến tranh nóng hấp Trung Đông nhắc nhở một lần định mệnh vang rền thế kỷ trước trên quê hương dấu yêu. Tháng 3 đang nhường bước cho tháng 4 nghiệt ngả sắp kề, như câu thơ Nguyễn Xuân Thiệp, tháng ba xuống khu rừng. bóng quạ / rung những nhánh cây. màu tàn lửa... Trong bầu khí hâm hấp đó, tôi đọc “Đuổi bắt một mùi hương(*) của Phan Tấn Hải, không hẹn mà tập truyện mang lại một sự thanh thản, dịu mát bất ngờ. Tôi lật và đọc ngay chuyện ngắn “Đuổi bắt một mùi hương” đầu tiên, vì nghĩ có thể đây là đỉnh điểm tâm tình của tác giả. Có thể lắm! Chỉ nói cái tên truyện, tên sách, bắt đầu bằng một cuộc “đuổi bắt”, đã thấy len lỏi mạch ngầm dưới làn da một tính cách lãng mạn khôn hàn!

 

Đuổi bắt tự nó đã là một hành động lãng mạn, nhất là khi đuổi bắt những gì không còn hiện hữu, như đuổi bắt một mùi hương! Mùi hương không có hình thể, không thể nắm giữ, nhưng lại có khả năng đánh thức ký ức mạnh mẽ hơn cả hình ảnh hay âm thanh. Marcel Proust trong À la recherche du temps perdu đã mô tả khoảnh khắc ấy khi chiếc bánh madeleines nhúng vào chén trà làm bừng dậy cả một miền ký ức. Không phải ký ức được “tìm lại” bằng ý chí, mà nó trồi lên, như thể ký ức có đời sống riêng của nó. Chỉ một thoáng hương cũng có thể mở tung cả một thế giới đã ngủ yên về một buổi chiều xa xưa, một bóng người, một mùa đã tắt. Như ai đó, như thân yêu gọi ta trở về.

 

Vì thế, “đuổi bắt” không là hành động hướng ngoại, mà là một chuyển động sâu kín bên trong. Tưởng mình đang đuổi theo một thứ ở phía trước mà thực ra là đang lần theo những rong rêu trầm tích của chính mình. Có lẽ vì vậy mà nó mang tính lãng mạn, vì không thể định hình. Chính sự bất khả nắm bắt ấy tạo nên sức hút mãnh liệt về một phiên bản đã tan vào quá khứ, chỉ còn tồn tại dư âm.

 

Tại sao con người mãi ám ảnh bởi cái không nắm giữ được? Heidegger trong hành trình miệt mài của cơn cuộc bắt bóng ấy đã ngôn rằng con người không chỉ sống trong hiện tại, mà luôn bị kéo giãn giữa đã-làsẽ-là. Chẳng bao giờ ta bằng lòng trọn vẹn “ở đây”. Con người vốn bình sinh cắc cớ mênh mông bụi hồng, luôn lệch hướng khỏi chính mình. Và chính cái sự vụ lệch lạc “người ngồi trên bến nhớ mênh mông (TCS)” ấy đã tạo ra cơn cuộc giằng co, một cuộc đuổi bắt nồng nàn bỏng cháy đại loại “kim tịch hà tịch ?“ miên man không dứt. Mùi hương, ký ức, một bóng người… tất cả đều là những “dấu vết” chưa hoàn toàn biến mất, một cái gì đó luôn vừa có vừa không. Nghe thật ám ảnh làm sao. Có thể gọi đó là niềm khoái cảm của sự thiếu vắng chăng? Một trạng thái mông lung gọi mời trong xa vời khoảng cách.

 

Truyện ngắn “Đuổi bắt một mùi hương” của Phan Tấn Hải như thế này: Cái nắm tay đầu tiên của tác giả ở tuổi 17 với một “cô bé” trong sân chùa Xá Lợi và một mùi hương kỳ bí xuất hiện lần đầu khi tay chạm tay. Thế rồi mùi hương ấy (khứu giác), cái nắm tay (xúc giác) đó mãi theo cùng tác giả cho đến bây giờ, năm sáu chục năm sau. Đâu đó giữa câu chuyện có cuộc hội thoại với thầy Đồng Nguyên, thầy Tịch Chiếu trước khi tác giả vượt biên sang Mỹ. Năm 2006 ở California, tác giả nhận được tin qua email từ người bạn ở Việt Nam báo tin “cô bé” đã qua đời. Câu chuyện không chấm dứt ở đó. Bởi vì mùi hương cứ mãi lãng đãng theo về. Ôi duyên khởi trùng trùng trong pháp giới huyền hoặc này. Có phải sắc tức thị không và cũng không không nốt? Rồi thanh hương vị xúc pháp, thảy đều như vậy? Ừ, diệc phục như thị.

 

Cô bé với đôi mắt đen lánh, mái tóc xõa chấm vai, tà áo trắng gần như là một bóng mờ nhạt ẩn hiện. Cô không phải là đối tượng của tình yêu lãng mạn thông thường, cô là biểu tượng của một cảm thọ, cái khoảnh khắc tâm hồn xao xuyến lúc đầu đời.

 

Thầy Đồng Nguyên và Thầy Tịch Chiếu xuất hiện trong truyện, không giảng giải giáo điều khô khan nhưng dùng hoàn cảnh, như đêm gió rừng, như tiếng chim kêu, như tách trà sứt mẻ, để truyền giao tuệ giác. Đây là phong cách giáo hóa đặc thù Thiền tông. "Ngay khi em đuổi bắt một mùi hương, là ngay khi đó tâm em đã bị mùi hương đó chụp bắt rồi", lời thầy Đồng Nguyên nói. Mùi hương trở thành ẩn dụ cho mọi đối tượng mà tâm bám víu, ký ức, cảm xúc, tình yêu, tiếc nuối. Giáo lý thiền nhắm thẳng vào cốt lõi của sự việc: cả đuổi bắt lẫn chạy trốn đều là bị chụp bắt. Con đường giải thoát không phải là trốn tránh cảm xúc mà là thấy rõ bản chất sinh diệt của nó, vạn pháp như huyễn. Phật giáo không phủ nhận trải nghiệm, chỉ nói lên cái giá của sự dính mắc, và hành giả tự chọn cho chính mình một lối đi.

 

Tin cái chết của cô bé, tác giả thuật lại thật thản nhiên không cần nước mắt hay bi lụy. Nó đến nhẹ nhàng qua một tin nhắn email, giữa những dòng tin bình thường về bạn bè và kinh sách. Chính sự bình thản trong cách kể chuyện làm người đọc phải lặng người. Kể cả tên cô bé, tác giả cũng không còn nhớ, một chi tiết nhỏ nhưng lồng lộng hư vô. Khi nhân vật “tôi” đến chùa cầu siêu, anh quên mất tên cô bé, và ngay cả email từ người bạn thông báo cái chết của cô bé gửi đến anh trước đây, có ghi tên cô cũng biến mất. Tác giả không nhiều lời nhưng dồn dập tính phi lý để sự thật tâm linh được thi vị hóa, cái còn lại không phải là tên, không phải là ký ức cụ thể, mà là mùi hương, cái cảm thọ tinh tế nhất.

 

Chi tiết email biến mất, không còn lưu lại tên cô bé là hình ảnh thơ mộng nhất của mọi sự thơ mộng trên cuộc đời này. Danh tính tan vào hư không, chỉ còn lại mùi hương. Và cuối cùng, ngay cả mùi hương cũng không là thực thể có thể nắm bắt, khi ẩn khi hiện. Nói đến danh tướng mà không gọi tên danh tướng bằng thể điệu trêu chọc, giáng cú shock cuối cùng, để cho email biến mất xuống vực thẳm tồn sinh! Tôi đồ rằng cư sĩ Nguyên Giác cư ngụ trong nhà văn Phan Tấn Hải muốn vạch ra một điểm mấu chốt, đó là hãy buông bỏ danh xưng sắc tướng, những đối tượng đưa dẫn đến ái (tanha), mắt xích trong thập nhị nhân duyên, nguyên nhân của khổ đau. Mục tiêu của hành giả là gì nếu không là buông bỏ? Nhược kiến chư tướng phi tướng, tất kiến Như Lai (Kinh Kim Cang)

 

Phan Tấn Hải dẫn người đọc qua 33 truyện ngắn với một lối kể chuyện thật duyên dáng. Khi nhắc lại những người bạn gái trong quá khứ, chàng luôn luôn “không nhớ rõ” về chi tiết của cô gái, hoặc “nào ai biết” để tránh đưa ra một xác quyết nào về những bóng hồng đó. “Có bao giờ nàng bỏ quên đôi cánh ở một nơi nào đó của trần gian và không thể tìm lại được rồi phải ở mãi với chúng tôi không nhỉ.” Một cách diễn tả khéo léo, kín đáo, tôn sùng nàng như thiên thần mà chẳng gọi tên thiên thần! (Nơi Mọi Người Đều Là Ánh Sáng)

 

Mùi hương không chỉ xuất hiện trong truyện ngắn “Đuổi bắt một mùi hương”, mùi hương đeo đẳng trở về trong một truyện khác, “không có bóng nàng trong đó – dĩ nhiên, nhưng như dường còn một mùi hương…” (Khi Em Đứng Dậy Và Bước Đi). Làm thế nào để ta núm bắt một mùi hương hay màu nắng? Những thứ rất rõ rệt bằng khứu giác, bằng thị giác, lại mơ hồ vô vọng trong hiện hữu. Mơ hồ nhưng lại là những gì thiết yếu nhất của ước mong, của cái đẹp, “Lúc đó, tôi đã thấy rằng có một cái không thấy được, nhưng nó là cái làm cho mọi thứ hiện lên.” (Màu Nắng Rực Sáng). Tác giả rất biệt tài trong khêu gợi những điều không thể gợi khêu, nói những điều tưởng là mông lung mà đưa dẫn về tâm linh sâu kín, sống, chết, tương duyên. Ông không gọi tên mà để cho độc giả tự đào sâu vạn thể của biển dâu qua lời kể chuyện.    

 

Phan Tấn Hải tâm sự như thế này trong Lời Thưa đầu tâp truyện:

Thời thơ ấu, tôi ước mơ sau này sẽ chỉ viết truyện cổ tích...

Đó là nơi cái thiện luôn luôn chiến thắng cái ác, đó là con ngựa bay của Thánh Gióng, là chiếc thảm bay của cổ tích Ba Tư”  và trong truyện Thiếu Nữ Trong Ngôi Nhà Bệnh:

 Chúng tôi chỉ là những đứa trẻ trên trần gian này.”

 

Con người yêu sự ngây thơ của trẻ con và những câu chuyện cổ tích có hậu không phải là điều ngẫu nhiên. Trước hết, sự ngây thơ của trẻ con gợi lên một trạng thái mà người lớn đã đánh mất. Trẻ nhỏ nhìn thế giới không hoài nghi hay không toan tính, chẳng bị ám ảnh bởi thất bại hay cái chết. Khi người lớn nhìn vào chúng, ta bắt gặp một “phiên bản nguyên sơ” của chính mình, trở lại một thời kỳ mà thế giới còn trong lành vô nhiễm. Nói cách khác, một kiểu nostalgia, cảm xúc hoài niệm giúp con người giảm căng thẳng và tìm lại cảm giác an toàn. Trẻ con trở thành biểu tượng sự sống của cảm giác ấy. Kế đến, cổ tích có hậu đáp ứng một nhu cầu rất căn bản trong niềm tin rằng thế giới có trật tự đạo đức. Trong đời thực, cái tốt không phải lúc nào cũng thắng, người tốt có khi phải chịu thiệt thòi, và mọi thứ thường mơ hồ giữa trắng và đen. Trái lại, cấu trúc truyện cổ tích rất rõ ràng, thiện thắng ác, công lý được thực thi. Điều này gắn với một khái niệm rằng con người có xu hướng tin thế giới “nên” công bằng, dù thực tế không phải lúc nào cũng vậy. “...tôi đã đem truyện cổ tích vào đời thường, để làm cho cuộc đời đẹp hơn. Và đó sẽ là hạnh phúc của người viết và của người đọc.” (Lời Thưa)

 

oOo

 

"Đuổi Bắt Một Mùi Hương" là một tác phẩm hấp dẫn, đem lại cho người đọc một cảm giác tự tại từ một tác giả với nhiều năm hấp thụ thâm sâu giáo lý Phật đà. Nói về tình yêu mà không lãng mạn hóa tình yêu, nói về Phật pháp mà không thuyết giáo, nói về mất mát mà không bi lụy. Sức mạnh của tập truyện nằm ở chỗ tác giả cổ tích hóa chuyện đời thường, mượn mùi hương là một ví dụ, để người đọc nhận ra một điều gì rất riêng tư và đồng thời lại phổ quát cùng lúc. Một tập hợp những cổ tích thơ mộng tưởng chừng đã mất hút trong thời đại kỹ thuật tiên tiến, AI hiện nay.

 

Câu kết của truyện ngắn “Đuổi bắt một mùi hương” trích dẫn tiếng tụng kinh "Sắc bất dị không, không bất dị sắc" vọng ra từ chính điện, không giải thích, không kết luận, chỉ để âm vang lan ra. Như mùi hương. Có thật một cô bé, một mùi hương hiện hữu, hay chỉ là phương tiện để cư sĩ Nguyên Giác nói một thời kinh? Vòng tròn thiền tông lấp lánh khuôn mặt cô bé, và mùi hương theo đuổi không nguôi, bất giác gọi về một cõi Chúng Hương của kinh Duy Ma Cật, nơi Phật Hương Tích dùng mùi hương để giáo hóa chúng sanh mà không cần tiếng nói. Mọi phương tiện, ngôn ngữ hay mùi hương đều diệu dụng trong chuyển hóa để “trâu bùn trong từng khoảnh khắc, và đang học cách để thấy mình là biển (Lời Thưa)”

 

Vũ Hoàng Thư

Tháng 3, 2026

----------------------------

(*) Đuổi Bắt Một Mùi Hương, Tuyển Tập PHAN TẤN HẢI, NXB VĂN HỌC PRESS & VIỆT BÁO FOUNDATION – 2026: https://www.barnesandnoble.com/s/9798260319826    

 

 

 

 



Viết cho thế hệ trẻ là quan tâm lớn của nhiều nhà văn gốc Việt. Và mới trong tháng qua, nhà văn Trần Ngọc Ánh vừa ấn hành 2 bản dịch tiếng Anh, tiếng Pháp của tập hồi ký “Ba, Con Không Muốn Là Người Cộng Sản.” Bản dịch sang tiếng Anh do dịch giả Kim Vũ từ California thực hiện, nhan đề “Daddy, I don't Want to be a Communist.” Bản dịch sang tiếng Pháp do dịch giả Bảo Hưng từ Paris thực hiện, nhan đề “Papa, Je ne voudrais pas être communiste.” Cả hai bản dịch này ấn hành chung trong cuốn sách dày 184 trang. Bìa sách thực hiện bởi hai họa sĩ: Trần Nho Bụi và Phan Trường Ân. Một số tranh trong sách là từ họa sĩ Nguyễn Tư.
Có những cách để tưởng niệm 50 năm ngày Miền Nam tự do sụp đổ. Trong khi những cuộc hội thảo, chiếu phim, nhạc hội... do cộng đồng tổ chức sôi nổi khắp những tuần lễ trong tháng 4/2025, nhà văn Phan Nhật Nam và dịch giả Kim Vu có một cách lặng lẽ hơn: Dịch giả Kim Vu trong tháng Tư 2025 đã ấn hành tác phẩm tiếng Anh “The Sound Of A Suffering Land” – tuyển tập bản dịch 8 truyện của nhà văn Phan Nhật Nam.
Thơ mộng, uyên bác, thấu suốt Phật lý... Những dòng thơ của Thầy Tuệ Sỹ hiện lên trang giấy như các dãy núi nơi những đỉnh cao ẩn hiện mơ hồ giữa các vầng mây. Do vậy, dịch thơ Thầy Tuệ Sỹ qua tiếng Anh cũng là một công trình lớn, khi phải cân nhắc từng chữ một để giữ được cái thơ mộng, cái uyên bác, và cái nhìn thấu suốt ba cõi sáu đường của một nhà sư thiên tài, độc đáo của dân tộc. Hai dịch giả Terry Lee và Phe X. Bạch đã làm được phần rất lớn trong việc giới thiệu thơ của Thầy Tuệ Sỹ cho các độc giả trong thế giới Anh ngữ.
Mặc dù chỉ mới ba năm trôi qua kể từ khi bà Merkel rời nhiệm sở, nhưng thế giới đã thay đổi quá nhiều đến mức mà chức thủ tướng của bà đã được cảm thấy như nó thuộc về một thời đại khác. Cuốn hồi ký mới của bà cho thấy bà bình tâm với những quyết định đã đưa ra, bao gồm cả những quyết định bị phê phán nghiêm khắc nhất.
Nhà thơ, nhà báo Phạm Chu Sa đã tổ chức một buổi ra mắt hai tác phẩm trong vòng thân hữu tại tư gia của họa sĩ Nguyễn Đình Thuần chiều Thứ Sáu 2/5/2025. Tập thơ nhan đề “Tình Không” -- ấn hành cuối đời, gom lại tất cả các bài thơ tình của nhà thơ trong đó có 36 bài thơ đã đăng trước 1975 trên các tuần báo Khởi Hành, Tuổi Ngọc và các tạp chí Văn, Vấn Đề... và nhiều bài thơ tình gần đây. Cuốn thứ nhì là hồi ức “Chuyện Làng Văn” về các mảng đời trước và sau 1975 của 50 văn nghệ sĩ mà tác giả có cơ duyên thân tình.
"Mỗi người đến thế giới này như một kẻ xa lạ, không phải vì họ xa lạ mà bởi vì họ được nhìn bởi người khác, trong đó có các nhà văn, như kẻ xa lạ. Bi kịch của con người là ở chỗ họ quá khác nhau, ở các học thuyết và các niềm tin, ở các quyết định và hành động, nhưng sâu thẳm họ giống nhau khi rắp tâm đi tìm sự thật cuối cùng. Không có công lý và sự thật phổ biến cho mọi trường hợp, và con người luôn luôn chọn đứng về một phía, và đó là bi kịch và hài kịch của họ. Những xung đột giữa người và người, giữa các quốc gia, các chủ nghĩa, đỉnh cao là chiến tranh, ở mức cá nhân là hận thù, những xung đột ấy chỉ có hy vọng hóa giải khi con người nhìn thấy sự thật phía sau câu chuyện lịch sử, những động cơ tâm hồn bên dưới sự thật. Sự hiểu biết ấy, và sự vui thú sinh ra từ hiểu biết ấy, làm nên sức hấp dẫn của tiểu thuyết.
WESTMINSTER (PTH/VB) – Buổi ra mắt sách “Những Người Ở Lại” của tác giả LU Thuy hôm Chủ Nhật 27/4/2025 tại Westminster cũng là dịp để tác giả tâm sự về lý do vì sao viết sách này, cũng là dịp để nghe anh Võ Văn Thiệu, một sinh viên du học tại Ý từ trước năm 1975, kể về không khí thân cộng của các sinh viên từ Miền Nam VN du học tại Pháp
Cuộc chiến Việt Nam đã khép lại từ nửa thế kỷ trước nhưng những hệ lụy vẫn còn ghi khắc trong đời sống, tâm trí và ký ức của nhiều thế hệ người Việt ở quê hương lẫn hải ngoại. Ký ức đau thương lẫn khát vọng xây dựng tương lai đã trở thành chủ đề trung tâm trong nhiều tác phẩm văn học, tuyển tập truyện ngắn "The Colors of April" do Quan Manh Ha và Cab Tran biên tập là một ví dụ điển hình.
Khi về già, bạn mắc bệnh mất trí nhớ, rồi mất phương hướng, sau đó mất ngôn ngữ. Nếu bạn sống thật lâu, như một ngọn núi, các chuẩn tắc đạo lý do con người đặt ra sẽ mất sau cùng. Và theo thứ tự như vậy. Trước cửa một tiệm cà phê gần khu vực tưởng niệm sự kiện 911, gần nền của tòa tháp đôi đổ sập, xuôi về phía hiệu sách cũ Strand ở Broadway, nơi tôi mua được một tập thơ của Gerald Stern, tôi gặp anh Siu Kpa, người Gia rai sáu mươi tuổi, và vợ anh. Anak Gia rai, con của Gia rai. Hay Giơ rai, Jarai, Jrarai, Chơ rai đều được, cả hai nói tiếng Việt, nhưng anh nói giỏi hơn. Thật ra chị là người Ba na, nghe phát âm như Bơ na, hay Bờ na, hay Bà nà, cũng là Ba na dưới núi, Ba na trên núi, Bơ Nâm, Bơ Môn. Cả hai đều mất trí nhớ nhưng theo hướng ngược chiều nhau.
Nhà văn Phạm Quốc Bảo trong tuần qua vừa ấn hành tuyển tập Cuốn Lên Bức Mành. Một tác phẩm ghi lại những suy nghĩ của một người đang giữa lứa tuổi 80s từ hải ngoại về những gì còn lưu giữ sau một đời làm báo và viết truyện. Từng trang chữ của ông là cô đọng những cảm xúc của một người không tự cho mình sống một ngày nào mà không nghĩ tới quê nhà. Tuyển tập nhiều bài viết Cuốn Lên Bức Mành gồm ba phần: Hồi ức, Tản mạn, Thơ. Nơi đây, chúng ta gọi ấn phẩm này là cuốn sách sau 50 năm, vì Phần 2 còn được tác giả ghi là: Nửa Thế Kỷ Ngoái Lại. Thực tế, chiều dài của sách là hơn một thế kỷ rưỡi, vì có kể về ông ngoại tác giả là cụ Bùi Văn Giảng (1871-1934). Với chiều dài thời gian như thế, và với cảm xúc của thời điểm 50 năm, tác phẩm của Phạm Quốc Bảo có những trầm lắng rất là tịch mịch của lịch sử. Nơi đây chúng ta sẽ giới thiệu một số điểm trong tuyển tập.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.