Hôm nay,  

Hồi Sinh

22/03/202108:59:00(Xem: 3419)

 

 

Mưa xuân không tầm tã, không kéo dài. Chỉ một hai cơn, trong một hai ngày, vừa đủ tắm ướt những ngọn lá và thấm một lớp mỏng trên mặt đất. Nhưng tiết lạnh thì ở lại lâu dài, ngay cả nơi vùng nhiệt đới. Một số nơi trên đất nước rộng lớn này, bão tuyết làm ngưng trệ sinh hoạt hàng ngày và làm băng giá thêm những tâm hồn vị kỷ, tự tôn. Dường như bản tính ở một số người đã không thể đổi thay kịp trước khi vô thường ập lên sinh mệnh. Mưa sa, gió táp, bão lửa, chẳng làm sao xoay chuyển được những cõi lòng cục bộ, thô tháp, đông cứng.

Lẽ ra, ý thức và tình cảm là những thứ trừu tượng, vô hình, linh hoạt, sẽ dễ thay đổi hơn là hình thể vật chất. Thế nhưng, thực tế ngược hẳn. Một khi bám víu vững chắc vào niềm tin và tri kiến như là cách để biểu hiện sự tồn tại của tự ngã, người ta không muốn nhìn nhận mê vọng và nhược điểm của mình. Đồng hóa tự ngã với một tập thể to lớn hơn, hoặc khoác mặc cho sự vị kỷ sai lầm của mình bằng chiếc áo đẹp đẽ như lòng ái quốc, hay sự quyết tâm đạt đến cứu cánh an vui nào đó. Đông cứng bên trong chẳng phải là sự son sắt, trung kiên gì với lý tưởng, mà chỉ là sự cố thủ của cái tâm vị ngã, ái ngã. Người ta sẵn sàng chết cho cái tự ngã đã được bao bọc sơn phết chứ không chịu mở mắt mà giải thoát tri kiến của mình—dù lý tưởng, theo thời gian và nhận thức của số đông, đã được nhìn nhận là ảo tưởng; và thần tượng đã sụp đổ từ lâu.

Khi mùa đông đến, rồi mùa đông đi qua, những cánh đồng bạt ngàn đã rộ nở hoa xuân muôn sắc, con tàu chuyên chở những hy vọng và lý tưởng tuổi trẻ đã mất hút vào đêm đen lịch sử; chúng ta còn lại gì trên hai bàn tay không, trên vầng trán già nua, và trong con tim khô héo vì những vật vã truy tìm, nắm bắt suốt tuổi thanh xuân?

Nếu những điển tích, lời dạy của cổ nhân, thánh nhân, hiền giả Đông phương không thể mở được lòng bạn, hãy đọc thử một bài thơ của thi sĩ Tây phương hiện đại:

Bước đi với niềm bình anbình an trở thành bạn. Nói với vẻ đẹp, vẻ đẹp bao quanh bạn. Hành động với lòng tốtlòng tốt tìm đếbạn. Nói với tình yêu, nh yêu chuyển hóa bạnHành động với lòng thương, lòng thương tha thứ bạn. Sống với sự thậtsự thật sống trong bạn.

Nhưng nếu chúng ta bước đi với lòng hận thù, hận thù trở thành chúng ta. Nếu chúng ta nói với sự tức giận, tức giận bao vây chúng ta. Nếu chúng ta hành động với đố kỵ, đố kỵ gặm nhấm chúng ta. Vì vậy, hãy cho đi với sự lịch thiệp, lịch thiệp tìm đến chúng ta. Chúng ta tìm kiếm sự kết nối, kết nối có thể chữa lành chúng ta. Và khi chúng ta sống với tiếng cười, tiếng cười có thể nâng chúng ta lên…” (1)



Bài thơ thực ra chẳng có ý tưởng gì mới mẻ. Lời và ý của bài thơ phảng phất hương vị của đạo như thật, đạo giải thoát, đạo từ bi, dù tác giả không hề sử dụng bất kỳ thuật ngữ nào của đạo ấy. Nhưng biết đâu, từ vị trí của một danh ca, từ lời thơ của một thi nhân khác đạo, từ ngôn ngữ không phải tiếng mẹ đẻ, bài thơ có thể chạm vào trái tim bạn vào thời điểm nào đó.

Chúng ta, những người phương đông với mấy nghìn năm thấm nhuần các nền đạo học và triết lý cao viễn thâm sâu, nên ít nhất một lần trong đời hay cuối đời, mở bừng mắt ra, mở toang lòng ra, để tình thương lan tỏa, để hận thù tan biến giữa trời xuân.

Trái tim cằn cỗi chẳng qua đã bị vùi lấp dưới một lớp kiến chấp, như hoa tuyết, không phủi đi sẽ trở thành băng đá. Hãy phủi nó đi, và hãy sống với thực tại hiện tiền.

 

Nơi sân trước một ký túc xá đại học, ai đó vô tư nắn một người tuyết đứng vẫy tay với người qua đường, và sư nữ từ đất nước xa xôi đến đây trọ học, thành tâm nắn một ông Phật tọa thiền với vài chiếc lá khô đặt trên lòng bàn tay kết ấn tam-muội (2). Dưới những lớp tuyết trắng xóa là lá mục, và dưới nữa, từ thân cây, từ lòng đất, những nụ mầm của cây cỏ chuẩn bị hồi sinh.

 

California, ngày 22 tháng 03 năm 2021

Vĩnh Hảo

www.vinhhao.info

 

______________

 

 

(1) Walk with Peace, thơ của nữ ca sĩ Jewel (sinh năm 1974), danh ca hàng đầu dòng nhạc đại chúng (popular/pop music) của Mỹ. Theo Wikipedia, “Jewel Kilcher là một ca sĩ, nhạc sĩ, nữ diễn viên và tác giả người Mỹ. Cô đã nhận được bốn đề cử giải Grammy và tính đến năm 2015, cô đã bán được hơn 30 triệu album trên toàn thế giới. Jewel sinh trưởng gần Homer, Alaska, nơi cô lớn lên ca hát và nhảy múa như một cặp song ca với cha cô, một nhạc sĩ địa phương.” Jewel cũng là một thi sĩ với thi phẩm “A Night without Armor.” Bài thơ “Walk with Peace” có lẽ là một bài rời, không nằm trong thi phẩm ấy:

“Walk with peace

And peace becomes you

Speak with beauty

And beauty surrounds you

Act with kindness

And kindness finds you

Speak with love

And love transform you

Act with mercy

And mercy forgives you

Live with truth

And truth will live in you

But if we walk with hate

Hate becomes us

If we speak with anger

Anger surrounds us

If we act with envy

Envy consumes us

So we give with grace

So grace will find us

We seek connection

So connection can heal us

And we live with laughter

So laughter can lift us…”

(2) Samàbhita mudra (ấn tam-muội hay ấn thiền-định). Trong tư thế ngồi kiết-già, hành giả đặt hai bàn tay chồng lên nhau, tay trái trên tay phải hoặc ngược lại; hoặc để song song các ngón đan xen, hai đầu ngón tay cái chạm nhau.

 

 


Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hôm nay là ngày lễ Manman Aloumandia, ngày giỗ tổ tiên của người Haiti vào cuối tháng Chín. Nhà nào cũng chuẩn bị thức ăn truyền thống và hành lễ cảm tạ ông bà đã giữ gìn an toàn cho con cháu, nhất là sau vụ bị hàm oan, họ càng thấm thía sự bình yên hơn. Di dân, hầu hết là tha phương bất đắc dĩ, như phận gái đi lấy chồng, mười hai bến nước, trong nhờ đục chịu.
Những tia nắng hồng cuối cùng đã tắt trong ánh hoàng hôn chiều tà nhưng bầu trời vẫn trong sáng từ một thứ ánh sáng huyền bí; vẫn chưa có vì tinh tú nào xuất hiện, tuy nhiên màn đêm hôm nay hẳn là một trong những buổi chiều tối đẹp nhất mà cả thế gian này chưa từng bao giờ chứng kiến. Bên phía đại dương, nhìn như có vẻ tối tăm sẫm màu hơn dưới bầu trời rực sáng; bóng tối hoặc ánh màu phản chiếu không còn in trên nền đất liền màu nâu đậm nữa; toàn bộ phần vách đã gần đó giờ chỉ còn là một khối khổng lồ, là một khối đá hoa cương khô khan chênh vênh, nguy hiểm. Con đường mòn gồ ghề trắc trở chạy men theo bờ biển dọc theo những tảng đá, nơi đó những con sóng rì rầm đập vào không ngớt, nơi đây những người dân làng có việc cần hoặc những người chăn cừu đưa bọn cừu hoang dã chưa được thuần thục đã dẫm đạp lên ngàn vạn lần.
Cuốn sách này không ở đâu có, kể cả thư viện quốc hội Hoa Kỳ. Chỉ bạn có và người Việt có. Nhưng bạn không thể đọc hết hơn ngàn trang trong một lần. Chỉ đọc bài nào vừa ý. Những bài khác cứ hẹn tái ngộ, vì, có khi, một hôm bạn sẽ thích một bài mà bạn không thích trước đây. Có thích mới muốn đọc nhưng thích là động lực tâm tình giới hạn trí tuệ.
Trong số khách đến viếng chùa, có người con gái chừng độ tuổi trăng tròn, không son phấn điểm trang, nhưng nàng trông thật diễm lệ. Nàng nâng niu từng cành hoa mẫu đơn. Trong lúc sơ ý nàng vướn gẫy một cành hoa. Người coi vườn bắt trói nàng đòi tiền chuộc tội.
Lần cuối, nghĩa là lần mới nhất, không phải là lần cuối cùng, tôi gặp Trương Vũ tại nhà của Trần Vũ, khi Trương Vũ ghé Quận Cam, trước khi anh bay lên Bắc California để thăm chị ruột của anh, họa sĩ Trương Thị Thịnh. Lúc đó là, có lẽ năm ngoái. Lúc đó, mối giao tình của Trương Vũ và tôi đã trải rộng từ hơn ba thập niên, từ những ngày tôi còn ở Miền Đông Hoa Kỳ. Thời xa xưa, tôi gọi anh bằng tên là anh Sơn, anh Trương Hồng Sơn, khi nhìn anh như một nhà khoa học. Và nhiều năm sau, khi đọc nhiều bài viết của anh trên Văn Học và Hợp Lưu, tôi gọi anh qua bút hiệu là Trương Vũ. Rồi vài năm gần đây là nhìn anh như họa sĩ. Thời gian đã cho anh hiển lộ qua nhiều tài năng, và với rất nhiều tóc bạc. Nhưng nụ cười của Trương Vũ vẫn hiền lành, đôi mắt vẫn tinh anh, cử chỉ và thái độ vẫn luôn là từ tốn, cẩn trọng, dịu dàng.
Trải qua gần bảy thập niên, từ cuối thập niên 1950’ đến nay, trong lãnh vực báo chí và văn chương, tên tuổi Trần Dạ Từ, Nhã Ca nổi bật, quen thuộc với giới báo chí, văn nghệ sỹ và độc giả từ miền Nam Việt Nam ở hải ngoại. Với nhiều bài viết về Trần Dạ Từ trên nhiều khía cạnh trong sự nghiệp và sáng tác nên nếu viết cũng là sự lặp lại, vì vậy trong bài viết nầy trích dẫn bạn văn, bạn tù đã sống gần gũi nhau đã viết về ông, nhất là bạn tù.
Ông Tri vung tay hất đổ chén canh, vỡ nhiều mảnh trên nền nhà, tung toé mùng tơi và tôm khô. Ông đưa tay lên lần thứ hai, muốn tát vào mặt con rể. Anh nắm tay ông lại. Lòng tung tóe giận dữ. Ánh mắt giết người làm ông sợ hãi. Rụt tay lại. Quay mặt vào vách. Anh hít một hơi đầy, thở mạnh ra. Xả cơn giận. Đứng lên đi dọn dẹp. Những mảnh chén vỡ làm anh nhớ lại lần đầu tiên khi anh đến nhà thăm Lài, ông Tri đã giận dữ đập vỡ tách trà vì không muốn con gái ông quen biết với người nhìn bề ngoài trông giống du đảng, tóc dài và ăn mặc không tiêu chuẩn.
Măc dầu câu kết của hai bài thơ của họ Thôi và ho Lý đều kết thúc bởi câu “sử nhân sầu” Nhưng cái buồn của họ Thôi, cái buồn của người hiểu thế sự. Cái buồn của họ Lý là cái buồn tích cực nhập thế. Họ Thôi thì nhớ về quê hương còn họ Lý thì nhớ thủ đô Tràng An. Như vậy xem ra mối sâu của Thôi Hiệu và của Lý Bạch không giống nhau. Hai bài thơ có những ưu điểm riêng, bổ túc cho nhau.
Bài thơ Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường vào đầu thế kỷ XIX của khuyết danh chỉ đề cập tổng quát, được đề cập nhiều (Sau nầy có bài thơ của Nguyễn Bính nhưng không có gọi tên phố phường). Tác phẩm Hà Nội 36 Phố Phường của nhà văn Thạch Lam (1910-1942) ấn hành năm 1943 được phổ biến rộng rãi, được mọi người biết đến nếp sống, sinh hoạt… của Hà Nội xa xưa.
Nhà thơ Đinh Hùng sinh ngày 3/7/1920, làng Phượng Dực tỉnh Hà Đông. Ông là con út trong gia đình gồm sáu anh chị em: anh cả là Đinh Lân, các chị là Loan, Yến, Hồng, Oanh. Chị Đinh Thục Oanh lập gia đình với nhà thơ Vũ Hoàng Chương (1915-1976). Đinh Hùng theo bậc tiểu học tại trường Sinh Từ, rồi bậc trung học tại trường trường Bưởi, Hà Nội. Và sau khi đậu bằng Cao Đẳng Tiểu Học (Diplôme d’Étude Primaire Supérieurs Franco-Indigène) thường gọi là bằng Thành Chung. Ông được học bổng tiếp tục đèn sách để thi Tú Tài bản xứ thì “Thần Ái tình đã hiện đến cùng một lúc với sự thành công đầy hứa hẹn” (theo lời kể của ông anh rể Vũ Hoàng Chương), khiến ông bỏ ngang để đi viết văn, làm thơ. Năm 1943, ông xuất bản tập văn xuôi Đám Ma Tôi nhưng sau đó nổi tiếng với bài thơ Kỳ Nữ. Năm 1944, nhà thơ Vũ Hoàng Chương cưới bà Thục Oanh đưa về Nam Định sinh sống, ông ở lại Hà Nội và cho ra đời giai phẩm Dạ Đài, và năm này, ông cùng vợ là bà Nguyễn Thị Thanh về Thái Bình dạy học.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.