Hôm nay,  

Thế Giới Giờ Này

04/06/202112:58:00(Xem: 5557)
mask
Minh họa: Đinh Trường Chinh



Thế giới giờ này ai ai cũng hóa ra T-pop (chữ T thay thế cho chữ Thế giới),

từ trẻ sơ sinh cho đến cụ già chuẩn bị yên nghỉ nơi cõi vĩnh hằng,

giờ này ai ai cũng khẩu trang che mũi, miệng và cằm, kiểu K-pop, V-pop.

 

Thế giới giờ này rộn ràng khẩu trang,

đủ mầu, đủ kiểu, đủ hình dạng!

Từ kiểu khẩu trang phòng mổ, mầu xanh xanh.

Cho tới kiểu sát thủ Ninja, màu đen máu lạnh,

Hoặc lính trận rằn ri, loang lổ da beo,

Hoặc nữ tính, mầu hồng hồng dễ thương chi lạ!

 

Thế giới giờ này đeo khẩu trang là “à-la-mode,”

Mình với ta khẩu trang tông-soẹt-tông, “tuy hai là một.”

 

Thế giới giờ này thiên hạ sáng sáng lười biếng không đánh răng xúc miệng.

Ăn sáng xong, ta bước vào công sở, hoặc chiều về ta ghé ngang chợ mua miếng thịt, trái sầu riêng,

cũng chẳng ai hay ta biếng lười vệ sinh răng miệng.

Xã hội giãn cách! Khẩu trang cản lại, chặn mùi hôi, răng thối, lưỡi dơ!

Bàn chải đánh răng từ ngày Covid lên ngôi bị quẳng thẳng vào xó.

Hãng kem đánh răng, thuốc nước xúc miệng, tha hồ ế độ! Nha sĩ buồn so!

 

Thế giới giờ này răng sún, răng sâu, răng hô, răng vàng ố!

Miệng móm, miệng vẩu, miệng méo, miệng vêu!

Covid vào đời, khẩu trang che kín hết.

Những đường nhăn chân chim chạy dọc theo hoặc tua tủa đâm ra hai bên khóe mép,

Tự nhiên biến tan! Cũng nhờ khẩu trang!

Thiên hạ giờ này, ai nhìn cũng trẻ ra phết.

Chẳng phải bởi mỹ phẩm, nhưng nhờ khẩu trang.

Khẩu trang giờ này hóa ra vị bác sỹ thẩm mỹ đôi tay thần kỳ, nhưng giá lại rẻ cực!

 

Thế giới giờ này ta ngửi được mùi của ta.

Mùi thơm tho, viết tắt t.t., đọc 2 tê;

hoặc mùi thối, viết tắt t., đọc 1 tê;

2 tê hoặc 1 tê, ta đều tự ngửi tự thưởng thức.

Cũng nhờ khẩu trang, ta nhận ra ta, chân dung thật thà.


Thế giới giờ này trở nên mênh mông một cõi thiền Yoga.

Ta chăm chú vào chính hơi thở ta.

Thiền từng giờ, thiền từng phút, thiền từng giây!

Khẩu trang giờ này hóa ra tu sĩ của một môn phái thiền mới: Thiền Khẩu Trang!

 

Giờ này thiên hạ ai cũng khẩu trang, cứ như khẩu trang tạo ra căn tính!

Không khẩu trang, không phải người!

Ông thần Descarte nếu từ ngôi mộ xanh xanh cỏ ngồi bật dậy sẽ cười,

“Tôi đeo khẩu trang, cho nên, tôi biết tôi sống.”

Riêng Plato kể chuyện người tù trong hang (bị xích chân từ thủa bẩm sinh) phiên bản mới,

“Khi quay trở về hang, hắn kể chuyện với bạn cùng hang động, ‘Tau thấy thiên hạ ai ai cũng đeo khẩu trang mi nạ.’ Bạn nối khố nổi giận, tặng cho mấy gậy, quyết định gửi hắn đi bán muối!”

 

Thế giới giờ này người né người!

Ngồi trên xe bus gắn máy lạnh, hoặc xe bò cọc cạch lăn bánh,

người ngồi xa người, khoảng cách an toàn, một thước rưỡi.

Anh xa tôi! Tôi xa em! Ta xa nhau! Đúng 2 thước.

Giờ này đôi ta hôn nhau nụ hôn gió qua khẩu trang!

Ai đó lỡ miệng ách-xì một, hoặc hai tiếng, hoặc một tràng;

Hết rồi những ánh mắt ái ngại,

những lời nói cảm thông, “God bless,” hoặc “Trời, Phật, Chúa chữa!”

“Oh, no!” Xưa rồi! Thay vào đó, trăm ngàn con mắt hình viên đạn xuất hiện, hướng về phía người mới lỡ mũi!

Thiên hạ ai đó lỡ miệng không kềm hãm được mồm, ho khan mấy tiếng hoặc lỡ dại đi luôn một hồi gõ mõ! Thế là xong!

Trần gian, đang như kiến lửa hoảng loạn vỡ tổ, ngay lập tức trở nên nhịp nhàng đồng dạng: mặt nhăn nhăn tựa thù cha chưa trả!

Có người bấm chuông xe bus, đứng dậy, bỏ xuống xe, thà là lết bộ dưới trời nắng trưa nung lửa mùa hạ! Chậm! Nhưng sống sót mặc dù đen cháy làn da!

 

Chẳng bao lâu nữa, con người theo luật tiến hóa sẽ phát triển bộ gene di truyền mới, bộ “antisocial.” Con người sẽ không được định nghĩa là “social beings” nữa. Giờ này tôi một mình sống, một mình chơi game điện tử, một mình coi phim trên Utube! Vậy là vui. Trái đất (thế là) yên lặng sa mạc. Thương xá, xe hơi, xe đạp, đường trải nhựa thênh thang mấy lằn, freeway bắt cao mấy tầng chồng chéo trở nên đồ cổ. Tất cả bám rêu xanh, chực chờ giây phút sụp đổ!

Ông triết gia Hegel sẽ lúng túng với triết lý người ta cần một người khác để xác định “tôi hiện hữu!”

 

Thế giới giờ này chẳng ai bắt tay ai,

Chỉ đụng nhau qua những nắm đấm, anh đấm tôi, tôi đấm chị!

Hoặc những cú đá chân, chân cô gái tuổi mộng mơ đá chân cậu con trai mới lớn,

Chân bố đá chân dài tới nách của con gái!

Chân mẹ đá chân vòng kiềng số tám của con trai!

Thế giới rộn ràng đấm đá nhau!

Giờ này đấm đá trở nên dấu hiệu của hòa bình và của cả hòa giải!

 

Thế giới giờ này thiên hạ năm ngày ngồi trong nhà bếp làm việc kỹ sư, điện tử!

Buổi họp sáng thứ Hai đầu tuần, xếp lớn và các trưởng phòng gặp nhau qua Zoom,

báo cáo tuần qua, công tác tuần tới,

Ai cũng nghe giọng nói (rõ ràng), nhìn thấy đầu (tóc chải đẹp), cổ (thắt cà-vạt)! Nhìn nét và chất như tài tử xi-nê Titanic lúc đang ăn tiệc trong khoang hạng nhất.

Nhưng, nếu không mặc quần tây đi giầy da, hoặc váy đẹp guốc cao gót 10 phân, mà chỉ là quần đùi xà-loỏng, chân đất,

trưởng phòng và xếp lớn của đại công ty điện toán Thung Lũng Silicon cũng chả biết.

Giản đơn! Nóng nực mùa hè phía trên, mát mẻ mùa thu phía dưới! Một chuẩn mực mới!

 

Thế giới giờ này cô dâu chú rể trao đổi lời thề hôn ước qua màn ảnh máy vi tính.

Hai bên hôn nhau, nụ hôn đầu đời vợ chồng cũng qua hai màn ảnh!

Ông Linh mục thánh giá áo đen, hoặc Sư thầy chuỗi bồ đề áo vàng, hoặc Đạo sỹ áo trắng bát quái. Cả ba đại diện Thiên Chúa, Đức Phật, Thần Khí chúc lành tân lang tân nương cũng qua màn ảnh!

Quan họ hai bên, bố mẹ chồng bố mẹ vợ cũng hiện diện qua rất nhiều màn ảnh!

Mẹ đeo kiềng vàng nặng lên cổ con dâu, vàng 24 sáng lấp lánh bởi vàng ba số 999 chính hiệu, cũng qua màn ảnh!

Cô dâu đôi mắt vẽ chì thâm đen long lanh hạt lệ, má phấn hồng e lệ nói, “Con cảm ơn mạ,” cũng qua màn ảnh!

Tham dự qua mạng xã hội, nhưng ai cũng đều phải đeo khẩu trang đủ màu đủ kiểu, và giữ khoảng cách an toàn.

 

“Ủa! Điều chi xảy ra vậy cà?” Thế giới năm 2020, 2021, giờ này bạn hỏi ta!

Người đơn thuần có thể sẽ nhún vai, rất tây ba-lô, rồi phán,

“Ông (bà) thần nước mặn!

Tỉnh dậy đi! Mở mắt ra mà nom nom cho kỹ hộ tôi!

Vi khuẩn SARS-CoV-2 vô hình nhè nhẹ bước chân vào đời hữu hình, đổi thay tất cả! Thế thôi!”.


Nguyễn Trung Tây


*Tác giả từng nhận giải Chung Kết Viết Về Nước Mỹ năm 2010.
Ông là một Linh mục Dòng Truyền giáo Ngôi Lời thuộc tỉnh dòng Chicago.  

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Từ khi du học ở Pháp vào đầu thập niên 1950’, trở về Việt Nam làm việc cho hãng Shell rồi sang Pháp làm việc cho đến khi về hưu và định cư cho đến nay… cả cuộc đời nhà văn Tiểu Tử gắn bó với tiếng Pháp nhưng khi cầm bút nơi xứ người với văn phong đặc biệt “miền Nam”, giản dị, ngắn gọn, chân chất, dí dỏm từ giọng văn và các mẩu đối thoại. Về tiểu sử cũng ngắn gọn: Tiểu Tử tên thật là Võ Hoài Nam, sinh năm 1930 tại Gò Dầu Tây Ninh. Ông là con trai duy nhứt của nhà giáo Võ Thành Cứ, giáo sư trường trung học Pétrus Trương Vĩnh Ký, Sài Gòn. Tốt nghiệp Kỹ sư, Marseille năm 1955. Dạy lý hoá trung học ở ngôi trường nầy niên khóa 1955-1956. Tháng 10/1956 làm việc cho hãng dầu Shell Việt Nam từ năm tháng 10 1956 đến 30/4/1975. Trong 3 năm (1975-1978) được trưng dụng làm việc cho hãng nầy. Trong thời gian đó, vượt biên 3 lần nhưng thất bại. Vượt biên cuối năm 1978. Định cư ở Pháp từ đầu năm 1979. Làm việc cho hãng đường mía của Côte d’ Ivoire (Phi Châu) 1979-1982. Làm việc cho hãn
Hôm nay là ngày lễ Manman Aloumandia, ngày giỗ tổ tiên của người Haiti vào cuối tháng Chín. Nhà nào cũng chuẩn bị thức ăn truyền thống và hành lễ cảm tạ ông bà đã giữ gìn an toàn cho con cháu, nhất là sau vụ bị hàm oan, họ càng thấm thía sự bình yên hơn. Di dân, hầu hết là tha phương bất đắc dĩ, như phận gái đi lấy chồng, mười hai bến nước, trong nhờ đục chịu.
Những tia nắng hồng cuối cùng đã tắt trong ánh hoàng hôn chiều tà nhưng bầu trời vẫn trong sáng từ một thứ ánh sáng huyền bí; vẫn chưa có vì tinh tú nào xuất hiện, tuy nhiên màn đêm hôm nay hẳn là một trong những buổi chiều tối đẹp nhất mà cả thế gian này chưa từng bao giờ chứng kiến. Bên phía đại dương, nhìn như có vẻ tối tăm sẫm màu hơn dưới bầu trời rực sáng; bóng tối hoặc ánh màu phản chiếu không còn in trên nền đất liền màu nâu đậm nữa; toàn bộ phần vách đã gần đó giờ chỉ còn là một khối khổng lồ, là một khối đá hoa cương khô khan chênh vênh, nguy hiểm. Con đường mòn gồ ghề trắc trở chạy men theo bờ biển dọc theo những tảng đá, nơi đó những con sóng rì rầm đập vào không ngớt, nơi đây những người dân làng có việc cần hoặc những người chăn cừu đưa bọn cừu hoang dã chưa được thuần thục đã dẫm đạp lên ngàn vạn lần.
Cuốn sách này không ở đâu có, kể cả thư viện quốc hội Hoa Kỳ. Chỉ bạn có và người Việt có. Nhưng bạn không thể đọc hết hơn ngàn trang trong một lần. Chỉ đọc bài nào vừa ý. Những bài khác cứ hẹn tái ngộ, vì, có khi, một hôm bạn sẽ thích một bài mà bạn không thích trước đây. Có thích mới muốn đọc nhưng thích là động lực tâm tình giới hạn trí tuệ.
Trong số khách đến viếng chùa, có người con gái chừng độ tuổi trăng tròn, không son phấn điểm trang, nhưng nàng trông thật diễm lệ. Nàng nâng niu từng cành hoa mẫu đơn. Trong lúc sơ ý nàng vướn gẫy một cành hoa. Người coi vườn bắt trói nàng đòi tiền chuộc tội.
Lần cuối, nghĩa là lần mới nhất, không phải là lần cuối cùng, tôi gặp Trương Vũ tại nhà của Trần Vũ, khi Trương Vũ ghé Quận Cam, trước khi anh bay lên Bắc California để thăm chị ruột của anh, họa sĩ Trương Thị Thịnh. Lúc đó là, có lẽ năm ngoái. Lúc đó, mối giao tình của Trương Vũ và tôi đã trải rộng từ hơn ba thập niên, từ những ngày tôi còn ở Miền Đông Hoa Kỳ. Thời xa xưa, tôi gọi anh bằng tên là anh Sơn, anh Trương Hồng Sơn, khi nhìn anh như một nhà khoa học. Và nhiều năm sau, khi đọc nhiều bài viết của anh trên Văn Học và Hợp Lưu, tôi gọi anh qua bút hiệu là Trương Vũ. Rồi vài năm gần đây là nhìn anh như họa sĩ. Thời gian đã cho anh hiển lộ qua nhiều tài năng, và với rất nhiều tóc bạc. Nhưng nụ cười của Trương Vũ vẫn hiền lành, đôi mắt vẫn tinh anh, cử chỉ và thái độ vẫn luôn là từ tốn, cẩn trọng, dịu dàng.
Trải qua gần bảy thập niên, từ cuối thập niên 1950’ đến nay, trong lãnh vực báo chí và văn chương, tên tuổi Trần Dạ Từ, Nhã Ca nổi bật, quen thuộc với giới báo chí, văn nghệ sỹ và độc giả từ miền Nam Việt Nam ở hải ngoại. Với nhiều bài viết về Trần Dạ Từ trên nhiều khía cạnh trong sự nghiệp và sáng tác nên nếu viết cũng là sự lặp lại, vì vậy trong bài viết nầy trích dẫn bạn văn, bạn tù đã sống gần gũi nhau đã viết về ông, nhất là bạn tù.
Ông Tri vung tay hất đổ chén canh, vỡ nhiều mảnh trên nền nhà, tung toé mùng tơi và tôm khô. Ông đưa tay lên lần thứ hai, muốn tát vào mặt con rể. Anh nắm tay ông lại. Lòng tung tóe giận dữ. Ánh mắt giết người làm ông sợ hãi. Rụt tay lại. Quay mặt vào vách. Anh hít một hơi đầy, thở mạnh ra. Xả cơn giận. Đứng lên đi dọn dẹp. Những mảnh chén vỡ làm anh nhớ lại lần đầu tiên khi anh đến nhà thăm Lài, ông Tri đã giận dữ đập vỡ tách trà vì không muốn con gái ông quen biết với người nhìn bề ngoài trông giống du đảng, tóc dài và ăn mặc không tiêu chuẩn.
Măc dầu câu kết của hai bài thơ của họ Thôi và ho Lý đều kết thúc bởi câu “sử nhân sầu” Nhưng cái buồn của họ Thôi, cái buồn của người hiểu thế sự. Cái buồn của họ Lý là cái buồn tích cực nhập thế. Họ Thôi thì nhớ về quê hương còn họ Lý thì nhớ thủ đô Tràng An. Như vậy xem ra mối sâu của Thôi Hiệu và của Lý Bạch không giống nhau. Hai bài thơ có những ưu điểm riêng, bổ túc cho nhau.
Bài thơ Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường vào đầu thế kỷ XIX của khuyết danh chỉ đề cập tổng quát, được đề cập nhiều (Sau nầy có bài thơ của Nguyễn Bính nhưng không có gọi tên phố phường). Tác phẩm Hà Nội 36 Phố Phường của nhà văn Thạch Lam (1910-1942) ấn hành năm 1943 được phổ biến rộng rãi, được mọi người biết đến nếp sống, sinh hoạt… của Hà Nội xa xưa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.