Hôm nay,  

Thế Giới Giờ Này

04/06/202112:58:00(Xem: 5562)
mask
Minh họa: Đinh Trường Chinh



Thế giới giờ này ai ai cũng hóa ra T-pop (chữ T thay thế cho chữ Thế giới),

từ trẻ sơ sinh cho đến cụ già chuẩn bị yên nghỉ nơi cõi vĩnh hằng,

giờ này ai ai cũng khẩu trang che mũi, miệng và cằm, kiểu K-pop, V-pop.

 

Thế giới giờ này rộn ràng khẩu trang,

đủ mầu, đủ kiểu, đủ hình dạng!

Từ kiểu khẩu trang phòng mổ, mầu xanh xanh.

Cho tới kiểu sát thủ Ninja, màu đen máu lạnh,

Hoặc lính trận rằn ri, loang lổ da beo,

Hoặc nữ tính, mầu hồng hồng dễ thương chi lạ!

 

Thế giới giờ này đeo khẩu trang là “à-la-mode,”

Mình với ta khẩu trang tông-soẹt-tông, “tuy hai là một.”

 

Thế giới giờ này thiên hạ sáng sáng lười biếng không đánh răng xúc miệng.

Ăn sáng xong, ta bước vào công sở, hoặc chiều về ta ghé ngang chợ mua miếng thịt, trái sầu riêng,

cũng chẳng ai hay ta biếng lười vệ sinh răng miệng.

Xã hội giãn cách! Khẩu trang cản lại, chặn mùi hôi, răng thối, lưỡi dơ!

Bàn chải đánh răng từ ngày Covid lên ngôi bị quẳng thẳng vào xó.

Hãng kem đánh răng, thuốc nước xúc miệng, tha hồ ế độ! Nha sĩ buồn so!

 

Thế giới giờ này răng sún, răng sâu, răng hô, răng vàng ố!

Miệng móm, miệng vẩu, miệng méo, miệng vêu!

Covid vào đời, khẩu trang che kín hết.

Những đường nhăn chân chim chạy dọc theo hoặc tua tủa đâm ra hai bên khóe mép,

Tự nhiên biến tan! Cũng nhờ khẩu trang!

Thiên hạ giờ này, ai nhìn cũng trẻ ra phết.

Chẳng phải bởi mỹ phẩm, nhưng nhờ khẩu trang.

Khẩu trang giờ này hóa ra vị bác sỹ thẩm mỹ đôi tay thần kỳ, nhưng giá lại rẻ cực!

 

Thế giới giờ này ta ngửi được mùi của ta.

Mùi thơm tho, viết tắt t.t., đọc 2 tê;

hoặc mùi thối, viết tắt t., đọc 1 tê;

2 tê hoặc 1 tê, ta đều tự ngửi tự thưởng thức.

Cũng nhờ khẩu trang, ta nhận ra ta, chân dung thật thà.


Thế giới giờ này trở nên mênh mông một cõi thiền Yoga.

Ta chăm chú vào chính hơi thở ta.

Thiền từng giờ, thiền từng phút, thiền từng giây!

Khẩu trang giờ này hóa ra tu sĩ của một môn phái thiền mới: Thiền Khẩu Trang!

 

Giờ này thiên hạ ai cũng khẩu trang, cứ như khẩu trang tạo ra căn tính!

Không khẩu trang, không phải người!

Ông thần Descarte nếu từ ngôi mộ xanh xanh cỏ ngồi bật dậy sẽ cười,

“Tôi đeo khẩu trang, cho nên, tôi biết tôi sống.”

Riêng Plato kể chuyện người tù trong hang (bị xích chân từ thủa bẩm sinh) phiên bản mới,

“Khi quay trở về hang, hắn kể chuyện với bạn cùng hang động, ‘Tau thấy thiên hạ ai ai cũng đeo khẩu trang mi nạ.’ Bạn nối khố nổi giận, tặng cho mấy gậy, quyết định gửi hắn đi bán muối!”

 

Thế giới giờ này người né người!

Ngồi trên xe bus gắn máy lạnh, hoặc xe bò cọc cạch lăn bánh,

người ngồi xa người, khoảng cách an toàn, một thước rưỡi.

Anh xa tôi! Tôi xa em! Ta xa nhau! Đúng 2 thước.

Giờ này đôi ta hôn nhau nụ hôn gió qua khẩu trang!

Ai đó lỡ miệng ách-xì một, hoặc hai tiếng, hoặc một tràng;

Hết rồi những ánh mắt ái ngại,

những lời nói cảm thông, “God bless,” hoặc “Trời, Phật, Chúa chữa!”

“Oh, no!” Xưa rồi! Thay vào đó, trăm ngàn con mắt hình viên đạn xuất hiện, hướng về phía người mới lỡ mũi!

Thiên hạ ai đó lỡ miệng không kềm hãm được mồm, ho khan mấy tiếng hoặc lỡ dại đi luôn một hồi gõ mõ! Thế là xong!

Trần gian, đang như kiến lửa hoảng loạn vỡ tổ, ngay lập tức trở nên nhịp nhàng đồng dạng: mặt nhăn nhăn tựa thù cha chưa trả!

Có người bấm chuông xe bus, đứng dậy, bỏ xuống xe, thà là lết bộ dưới trời nắng trưa nung lửa mùa hạ! Chậm! Nhưng sống sót mặc dù đen cháy làn da!

 

Chẳng bao lâu nữa, con người theo luật tiến hóa sẽ phát triển bộ gene di truyền mới, bộ “antisocial.” Con người sẽ không được định nghĩa là “social beings” nữa. Giờ này tôi một mình sống, một mình chơi game điện tử, một mình coi phim trên Utube! Vậy là vui. Trái đất (thế là) yên lặng sa mạc. Thương xá, xe hơi, xe đạp, đường trải nhựa thênh thang mấy lằn, freeway bắt cao mấy tầng chồng chéo trở nên đồ cổ. Tất cả bám rêu xanh, chực chờ giây phút sụp đổ!

Ông triết gia Hegel sẽ lúng túng với triết lý người ta cần một người khác để xác định “tôi hiện hữu!”

 

Thế giới giờ này chẳng ai bắt tay ai,

Chỉ đụng nhau qua những nắm đấm, anh đấm tôi, tôi đấm chị!

Hoặc những cú đá chân, chân cô gái tuổi mộng mơ đá chân cậu con trai mới lớn,

Chân bố đá chân dài tới nách của con gái!

Chân mẹ đá chân vòng kiềng số tám của con trai!

Thế giới rộn ràng đấm đá nhau!

Giờ này đấm đá trở nên dấu hiệu của hòa bình và của cả hòa giải!

 

Thế giới giờ này thiên hạ năm ngày ngồi trong nhà bếp làm việc kỹ sư, điện tử!

Buổi họp sáng thứ Hai đầu tuần, xếp lớn và các trưởng phòng gặp nhau qua Zoom,

báo cáo tuần qua, công tác tuần tới,

Ai cũng nghe giọng nói (rõ ràng), nhìn thấy đầu (tóc chải đẹp), cổ (thắt cà-vạt)! Nhìn nét và chất như tài tử xi-nê Titanic lúc đang ăn tiệc trong khoang hạng nhất.

Nhưng, nếu không mặc quần tây đi giầy da, hoặc váy đẹp guốc cao gót 10 phân, mà chỉ là quần đùi xà-loỏng, chân đất,

trưởng phòng và xếp lớn của đại công ty điện toán Thung Lũng Silicon cũng chả biết.

Giản đơn! Nóng nực mùa hè phía trên, mát mẻ mùa thu phía dưới! Một chuẩn mực mới!

 

Thế giới giờ này cô dâu chú rể trao đổi lời thề hôn ước qua màn ảnh máy vi tính.

Hai bên hôn nhau, nụ hôn đầu đời vợ chồng cũng qua hai màn ảnh!

Ông Linh mục thánh giá áo đen, hoặc Sư thầy chuỗi bồ đề áo vàng, hoặc Đạo sỹ áo trắng bát quái. Cả ba đại diện Thiên Chúa, Đức Phật, Thần Khí chúc lành tân lang tân nương cũng qua màn ảnh!

Quan họ hai bên, bố mẹ chồng bố mẹ vợ cũng hiện diện qua rất nhiều màn ảnh!

Mẹ đeo kiềng vàng nặng lên cổ con dâu, vàng 24 sáng lấp lánh bởi vàng ba số 999 chính hiệu, cũng qua màn ảnh!

Cô dâu đôi mắt vẽ chì thâm đen long lanh hạt lệ, má phấn hồng e lệ nói, “Con cảm ơn mạ,” cũng qua màn ảnh!

Tham dự qua mạng xã hội, nhưng ai cũng đều phải đeo khẩu trang đủ màu đủ kiểu, và giữ khoảng cách an toàn.

 

“Ủa! Điều chi xảy ra vậy cà?” Thế giới năm 2020, 2021, giờ này bạn hỏi ta!

Người đơn thuần có thể sẽ nhún vai, rất tây ba-lô, rồi phán,

“Ông (bà) thần nước mặn!

Tỉnh dậy đi! Mở mắt ra mà nom nom cho kỹ hộ tôi!

Vi khuẩn SARS-CoV-2 vô hình nhè nhẹ bước chân vào đời hữu hình, đổi thay tất cả! Thế thôi!”.


Nguyễn Trung Tây


*Tác giả từng nhận giải Chung Kết Viết Về Nước Mỹ năm 2010.
Ông là một Linh mục Dòng Truyền giáo Ngôi Lời thuộc tỉnh dòng Chicago.  

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhà thơ Đinh Hùng sinh ngày 3/7/1920, làng Phượng Dực tỉnh Hà Đông. Ông là con út trong gia đình gồm sáu anh chị em: anh cả là Đinh Lân, các chị là Loan, Yến, Hồng, Oanh. Chị Đinh Thục Oanh lập gia đình với nhà thơ Vũ Hoàng Chương (1915-1976). Đinh Hùng theo bậc tiểu học tại trường Sinh Từ, rồi bậc trung học tại trường trường Bưởi, Hà Nội. Và sau khi đậu bằng Cao Đẳng Tiểu Học (Diplôme d’Étude Primaire Supérieurs Franco-Indigène) thường gọi là bằng Thành Chung. Ông được học bổng tiếp tục đèn sách để thi Tú Tài bản xứ thì “Thần Ái tình đã hiện đến cùng một lúc với sự thành công đầy hứa hẹn” (theo lời kể của ông anh rể Vũ Hoàng Chương), khiến ông bỏ ngang để đi viết văn, làm thơ. Năm 1943, ông xuất bản tập văn xuôi Đám Ma Tôi nhưng sau đó nổi tiếng với bài thơ Kỳ Nữ. Năm 1944, nhà thơ Vũ Hoàng Chương cưới bà Thục Oanh đưa về Nam Định sinh sống, ông ở lại Hà Nội và cho ra đời giai phẩm Dạ Đài, và năm này, ông cùng vợ là bà Nguyễn Thị Thanh về Thái Bình dạy học.
Cha anh, ông Thụ, là một người trung bình về mọi phương diện. Ưa thích quyền lực nhưng không thỏa mãn. Quyền lực mà ông có nhiều nhất là đối với vợ con. Đứa con trai duy nhất, “Em à, số vợ chồng mình thật xui. Có một đứa con mà nó lại sống ở trên mây.” _”Còn hơn nó chết à?” Thú vui lựa chọn của ông Thụ là tập bắn súng. Súng trường, súng lục, súng nào ông bắn cũng giỏi. Đã đoạt một số giải thưởng bắn thi. Và dĩ nhiên, ông muốn truyền tài năng này cho con trai. Năm 17 tuổi anh đã đoạt giải quán quân về tầm bắn xa 200 mét. Khi anh đeo dây huy chương trên cổ, tay cầm cái cúp giải thưởng, cha anh đã ôm anh thật chặt, Hơi nóng ấm áp chuyền qua làn áo vải. Ông đã tìm thấy ông và anh đã tìm thấy cha. Tính tình cha con anh có nhiều chuyện khác nhau, từ sở thích đến suy nghĩ. Khi còn nhỏ, anh không thích ăn thịt. Ông ăn thịt bò bíp-tết hai ngày mỗi tuần. Mỗi lần ăn, ông cắt thịt ra từng mảnh nhỏ, bắt anh hả miệng và đút vào. _”Nhai đi.” Cùng một cách ra lệnh, _”Nghĩ đi”, _”Làm đi”, _”Thở đi” _Số
Mẹ tôi, sinh nhật nào cũng bốn cây bạch lạp thắp sáng, năm nào bà cũng bốn mươi tuổi, không già hơn. Sinh nhật năm nay cũng vậy. Đàn cháu hát hăm hở Happy Birthday mừng bà nội. Mừng điều gì, tôi không biết. Sống lâu? Bà gần như không bao giờ chết. Xinh đẹp? Bà có bao giờ thay đổi đâu. Khỏe mạnh? Bà sẽ không bao giờ bệnh. Có lẽ con gái tôi biết được điều gì tôi không biết. “Chúc bà nội năm nay có tình yêu.” Cả đám con cháu cười vang kèm theo tiếng vỗ tay. Mẹ cười âu yếm. Trong căn phòng khách này, tôi là người già nhất và là người lạc hậu nhất.
LTS: Nhà văn Dương Nghiễm Mậu qua đời lúc 21 giờ 35 phút tối, giờ VN, ngày 2 tháng 8 năm 2016 (nhằm ngày 30 tháng 6 năm Bính Thân) tại Sài Gòn, hưởng thọ 81 tuổi. Dương Nghiễm Mậu tên thật là Phí Ích Nghiễm, sinh ngày 19 tháng 11 năm 1936 tại quê nội làng Mậu Hòa (quê ngoại làng Dương Liễu), huyện Đan Phượng, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. Lập gia đình năm 1971, với Hồ Thị Ngọc Trang, giảng viên Anh ngữ. Sau 30/4/1975 bị bắt giam. 1977 đươc tạm tha. Từ 1977, học nghề sơn mài và sống bằng nghề này tại Sài Gòn. Từ 12 đến 18 tuổi sống ở Hà Nội. Học tiểu học ở trường Hàng Than, trung học, Chu Văn An, viết đoản văn, tùy bút cho báo trường và các báo có phụ trang văn nghệ học sinh. 1954 di cư vào Nam với gia đình, năm đầu ở Huế, năm sau ra Nha Trang, hè 1957 vào sống hẳn Sài Gòn. Từ 1957 trở đi Ông viết nhiều: tạp văn, tùy bút, đoản văn, truyện ngắn, truyện dài. Nhân ngày giỗ thứ tám, Việt Báo xin trích đăng lại nhà văn Dương Nghiễm Mậu từ tập “Tự Truyện Nguyễn Du”.
Tôi không khỏi bâng khuâng được tin Chị Võ Phiến, tên thật là Viễn Phố, phu nhân nhà văn Võ Phiến (1925-2015), đã qua đời ngày 24 tháng 7, 2024, hưởng thọ 94 tuổi. Trong số các bạn đời của các bạn văn của tôi, chị là người phối ngẫu tôi có dịp gần gũi hơn cả, từ khi anh còn sống và cả sau khi anh đã qua đời...
Trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, Kafka đã viết hàng trăm bức thư, từ những bức thư tình cảm động và đầy đau thương, cho đến những lá thư gửi cho bạn bè để chia sẻ về những tác động diệu kỳ của chữ nghĩa đối với tâm hồn. Tuy nhiên, không có bức thư nào có thể so sánh với bức thư dài 47 trang mà ông viết cho cha mình, Hermann Kafka, vào tháng 11/1919. Bức thư này gần như là tự truyện duy nhất của Franz Kafka, được dịch bởi Ernst Kaiser và Eithne Wilkins và được xuất bản vào năm 1966 với tựa đề “Letter to His Father” (Thư Gửi Cha).
Nó đứng như tượng biết cử động suốt ngày đêm. Tôi chưa biết phải làm gì với nó, nhưng tò mò muốn theo dõi. Mang thức ăn và nước uống mới đến mỗi buổi chiều. Tuy bốn chân bị dính cứng trong keo, nhưng mỗi khi tôi đến gần, ngày hôm trước, mắt nó tỏ vẻ giận dữ, cử chỉ hành hung như con vật trong màn múa rối; ngày hôm sau mắt tỏ vẻ nghĩ ngợi, cử động phòng thủ nhiều hơn hăm dọa; ngày thứ ba mắt nhìn thấy buồn bã và cầu khẩn, thoi thóp. Nó chết ngày thứ tư. Thân hình phục xuống trên bốn chân. Đầu gục về phía trước dính vào keo. Mắt nhắm hơn một nửa, hí nhìn không còn cảm giác.
Ngưởì Việt di tản tỵ nạn khi qua đây mới học được tiếng Anh. Cho dù, cuối cùng tốt nghiệp được đại học nhưng có lẽ cũng không thể nào biết tới hết 118 chữ đồng nghĩa với Death trong tự điển Thesaurus được. Ngay người Mỹ bản xứ cũng thế, nói chi đến các chữ khác.
Cuốn sách này, như chính tựa đề, Đường về thủy phủ, đã báo hiệu điều gì đó huyễn hoặc. Vì vậy, bạn đọc nếu chờ đợi một câu chuyện tiểu thuyết thông thường có đầu đuôi, có lô-gic, có sự tình chặt chẽ hợp lý, xin gấp sách lại, hãy tìm đọc một cuốn khác. Là một tác phẩm siêu hư cấu không có chủ ý đáp ứng những quy củ tiểu thuyết thông thường, Đường Về Thủy Phủ của Trịnh Y Thư là một tập hợp của ba câu chuyện, ba toa riêng lẻ của một chuyến tàu, vận hành trên cùng một đường rầy thiên lý, theo chiều dài của một giai đoạn lịch sử chiến tranh tanh nồng, nơi hành khách là những nhân vật bị ném lên tàu, vất vưởng chuyển động trên một trục cố định, dốc toàn bộ sức lực và trí tưởng tượng gắng tìm cho mình một lối thoát, hay theo tác giả, tìm một lối về.
Con người của toán học và kỹ thuật nhưng tâm hồn lại dành cho văn chương. Chính văn chương đã nâng anh dậy thành một nhà văn xứng với cái tên Trần Quí Sách tiền định. Từ năm 1964, anh đã có truyện và thơ trên Bách Khoa, Văn, Văn Học, Đời, Thời Tập, Vấn Đề, Khởi Hành và Ý Thức. Năm 2004, anh về hưu và dành tất cả thời gian cho văn học Việt Nam với Thư Ấn Quán và Thư Quán Bản Thảo. Anh đã biến căn nhà ở Plainfield, New Jersey, thành nhà in gồm toàn máy móc cũ mua rẻ trên e-Bay để “chế tạo” những cuốn sách từ A đến Z.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.