Hôm nay,  

Đuôi Tóc Bím

09/08/202400:00:00(Xem: 2785)
ScreenHunter 73
Mẹ tôi, sinh nhật nào cũng bốn cây bạch lạp thắp sáng, năm nào bà cũng bốn mươi tuổi, không già hơn. Sinh nhật năm nay cũng vậy. Đàn cháu hát hăm hở Happy Birthday mừng bà nội. Mừng điều gì, tôi không biết. Sống lâu? Bà gần như không bao giờ chết. Xinh đẹp? Bà có bao giờ thay đổi đâu. Khỏe mạnh? Bà sẽ không bao giờ bệnh. Có lẽ con gái tôi biết được điều gì tôi không biết. “Chúc bà nội năm nay có tình yêu.” Cả đám con cháu cười vang kèm theo  tiếng vỗ tay. Mẹ cười âu yếm. Trong căn phòng khách này, tôi là người già nhất và là người lạc hậu nhất.
Mẹ tôi qua đời năm bốn mươi tuổi vì bệnh ung thư ngực. Lúc đó, tôi chỉ mới lên bảy, chị tôi lên mười. Nghe người ta than thở về hoàn cảnh mồ côi mẹ, nhưng tôi không biết có mẹ là như thế nào trong lúc lớn lên. Hai chị em tôi mọc cao như cây bỏ thí ngoài vũ trụ.

Sáng, chim đồn nhau, cha đi tù vì chống chế độ thống trị, hôm qua ông bị bắt ở hành tinh X152. Đêm, chim báo tin cha vượt ngục bị bắn hạ, xác mất tích tan vào không gian. Gió khuya khoắt lò qua cửa gương vỡ nhẹ nhàng như bàn tay thân thiết vỗ về tôi dù bàn tay lạnh lẽo. Chị ôm tôi thì thầm, “Mai em muốn ăn rễ sắn hay rễ mì?” “Ăn ễnh ương nướng, em bắt cho.” Sau đó, nghe chị lầm bầm giống như đang nói chuyện với ai rất sụt sùi. Không có mẹ là như vậy sao?

Mẹ tôi có mái tóc dài đen nhánh phủ đến bờ mông. Mái tóc bà đẹp nhất phố. Cha tôi nói, mỗi khi mẹ xoay người trong gió mạnh, một màn tóc đen bay rợp mê hồn. Khi biết mình không còn sống bao lâu nữa, bà đã nhờ dì tôi đến cắt mái tóc, bện thành một đuôi bím, đưa cho cha để làm di vật. Khúc tóc này thấm trộn biết bao là nước mắt của mẹ, của dì, của cha, của chị và của tôi.

Cha trao bím tóc cho chị trước khi đi theo cách mạng. Chị trao bím tóc cho tôi trước khi qua đời. Tôi săn sóc bím, mỗi đầu tháng tẩm một chút dầu cho khỏi khô khan, tẩm một chút trầm hương, vừa thơm vừa trừ mối mọt. Rồi con gái tôi xin cắt một chút ở đuôi bím. “Con muốn nghiên cứu tóc bà nội. Có một dự án mới về DNA nơi trung tâm khoa học nhân sinh, còn đang thử nghiệm, con sẽ đưa tóc bà nội vào kế hoạch thử tóc.”  

Mẹ rất mơ hồ trong trí nhớ, tôi chỉ có thể hình dung bà qua tấm hình điện tử mà cha tôi để lại. Nhưng bím tóc luôn luôn làm tôi xúc động. Thực sự đang cầm một phần thân thể của mẹ. Đưa lên mũi hít vào thật sâu, không biết mùi nào là mùi của mẹ.   

Con nhớ, hôm đó, sinh nhật con, mẹ dẫn ra phố. Không đủ tiền, chỉ mua được một cái bánh kem nhỏ. Mẹ dặn, phải ăn hết trước khi về đến nhà. Có mẹ có phải là như vậy không?

Con nhớ ám ảnh, một lần con bị sốt nặng, chập chờn tỉnh mê. Nghe mẹ khóc. Nghe bác sĩ đặt ống thở, robot chích thuốc. Cảm giác đau nhức, mơ màng, tối tăm, hực lửa. Con thiếp đi rồi nghe mẹ khóc rất lớn, con mở mắt, nắm tay mẹ. Mẹ bật cười nước mắt còn chảy, như bà Sáu khùng vừa tỉnh cơn điên. Có mẹ có phải là như vậy không?

Tết năm 2050, bước vào tuổi bảy mươi, con cháu mừng thọ lớn, tặng tôi món quà kinh ngạc quá sức tưởng tượng. Vẫn giữ tập tục lì xì, sau khi chúc tết, tôi bấm cho mỗi đứa một khoảng tiền chạy thẳng vào trương mục. Tôi đứng lên chuẩn bị khai mạc bàn tiệc. Bỗng dưng đám con cháu kéo đến sắp hàng trước mặt chận tôi lại. Bắt ngồi xuống. Thằng cháu ngoại lớn nhất đại diện nói tiếng Việt rất dở, tôi không thực sự hiểu, nhưng ông ngoại cứ khuyến khích, vỗ tay.  

Hàng ngũ chen lấn trước mặt đột nhiên mở ra ở giữa và thấy mẹ tôi đứng đó. Cảm giác tê người, đờ đẫn. Một khoảnh khắc trống rỗng mênh mông, đóng băng, tê liệt hơi thở. Rồi ập xuống cơn mưa xối xả từ đôi mắt.
 
Ngu Yên
 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tết và Xuân, Xuân và Tết, thời điểm kỳ lạ trong một năm. Vừa trông chờ vừa mong đừng đến. Vừa lưu luyến rét đông vừa háo hức xuân ấm. Vừa khép kín đoàn tụ gia đình vừa chan hoà xôn xao lễ hội. Vừa lặng lẽ hoài niệm chuyện riêng tư vừa hân hoan cùng nhau “nâng chén ta chúc nơi nơi”...
Nhà hiền triết người Ấn Độ Jiddu Krishnamurti (1895-1986) qua đời vào ngày 17 tháng 2 năm 1986 tại Ojai Valley, Quận Ventura, Nam California, Hoa Kỳ, nơi ông đã chọn làm quê hương thứ hai từ năm 1922 cho đến khi ông mất, dù ông không ở đó thường trực. Tính đến tháng 2 năm nay, 2024 đã tròn 38 năm kể từ ngày ông lìa bỏ trần gian. Krishnamurti là một trong những nhà hiền triết có sức ảnh hưởng rất lớn đối với nhân loại trong thế kỷ 20. Cuốn “The First and Last Freedom” của ông được Giáo sư Phạm Công Thiện dịch sang tiếng Việt từ trước năm 1975 ở Sài Gòn với tựa đề “Tự Do Đầu Tiên và Cuối Cùng” là một trong những cuốn sách tôi rất yêu thích đọc từ thời còn niên thiếu. Nhân tìm đọc lại một số bài giảng và bài viết của Krishnamurti, tôi tình cờ gặp được bài thơ “Song of the Beloved” (Bài Ca Về Người Yêu), nhưng không thấy ghi ông đã làm từ bao giờ. Có lẽ bài ca này ông làm vào những lúc về nghỉ ngơi tịnh dưỡng ở Ojai, vì bài đó nói lên lòng yêu thích thâm thiết của ông đối với thiên nhiên,
Ngô Thế Vinh là một tên tuổi đã thành danh ngay từ trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam. Ông đoạt Giải Văn Học Nghệ Thuật VNCH năm 1971 với tác phẩm Vòng Đai Xanh. Sau này ông có thêm hai giải thưởng: 1) Giải Văn Học Montréal 2002 Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do với Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng và 2) Giải Văn Việt Đặc Biệt 2017 với Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng và Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch...
Người viết chơi với Phạm Thiên Thư từ những năm học trung học đệ nhất cấp khoảng 58-59. Thư đến nhà tôi ở ấp Cả Trắc, khu Ông Tạ và chúng tôi thường kéo nhau ra quán cà phê vợt ở đầu ngõ đi vào ấp. Trong những lần uống cà phê, Thư nói sôi nổi về việc lập học hội Hồ Quý Ly, để thực hiện việc nghiên cứu, viết văn, làm thơ. Mục đích là tiến tới làm một tập san văn nghệ...
Chúng tôi vẫn biết Hoàng Cầm là người cùng quê và là bạn với một ông anh họ từ thời kháng chiến chống Pháp, nhưng không ngờ nhà thơ lại theo xe ra đón chúng tôi ở phi trường Nội Bài. Hôm đó Hoàng Cầm mặc một cái màu đỏ xậm trông rất hào hoa dù Hà Nội năm đó vẫn còn rất nghèo...
Mở đầu cho sê-ri bài viết về phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm thập niên 50 tại Bắc Việt Nam, là một tư liệu hiếm quý về/của nhà thơ Phùng Quán. Việt Báo trân trọng giới thiệu.
Nước Mỹ thế kỷ XX cống hiến cho nhân loại sự phong phú và đa dạng của các trào lưu, chủ đề và tiếng nói trong văn học. Một số tác giả và tác phẩm kinh điển đã xuất hiện trong thời kỳ này, góp phần phát triển truyền thống văn học có từ những thế kỷ trước. Riêng trong lĩnh vực tiểu thuyết, văn học hiện đại, thịnh hành vào đầu thế kỷ XX ở Châu Âu với kỹ thuật “dòng ý thức” trong tiểu thuyết của James Joyce và Virginia Woolf, lan rộng sang Mỹ, tìm cách tách rời các hình thức truyền thống thế kỷ XIX để cách tân và hình thành một dòng văn học mới với phong cách độc đáo, táo bạo và mở ra những cánh cửa thú vị bất ngờ cho người đọc đi vào ngôi nhà nghệ thuật. Kỷ nguyên văn học hiện đại phương Tây bắt đầu từ hai thập kỷ đầu của thế kỷ XX và, không thể nghi ngờ, Mỹ là quốc gia có những đóng góp to tát. Các tiểu thuyết gia lớn trong thời kỳ này, ta có thể nhắc đến F. Scott Fitzgerald, Ernest Hemingway và William Faulkner.
Bước đi như vậy rõ ràng là không cần lưu dấu; nhưng chính là bước đi siêu tuyệt của bậc đại nhân, đại sĩ: không dấu tích mà lại tràn đầy công đức, lợi ích cho dân tộc, đạo pháp và nhân loại nhiều thế kỷ sau.
Một chương trong tiểu thuyết Đường Về Thủy Phủ của nhà văn Trịnh Y Thư...
Vũ Hoàng Chương là một nhà thơ lớn của nước Việt trong thế kỷ 20. Ộng có địa vi cao cả trên thì văn đàn miền Nam và là người duy nhất được tôn xưng là thi bá...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.