Hôm nay,  

Còn Đó Tiếng Cười

02/01/202500:00:00(Xem: 4020)

kt nha ca kl nh
Khánh Trường với thân hữu tại triển lãm tranh Khánh Trường ở Việt Báo Gallery, tháng 10, 2018. Từ trái: nhà văn Nhã Ca, ca sĩ Khánh Ly, ca sĩ Nhật Hạ, chị Oanh Thạch vợ Khánh Trường.
Tôi chạy tới nhà thương như một quán tính, tìm chỗ đậu xe một cách dễ dàng, nơi đây tôi đã ra vào quen thuộc, nơi đây tôi sắp sống với một cuộc chia ly mới. Tôi quen lắm hành lang phòng ICU, quen lắm với hình ảnh Bác Mai Thảo, Bác Đỗ Ngọc Yến, với Bố, với Mẹ... Và nay hình ảnh một thân quen quá đỗi hiện ra trước mắt - chú Khánh Trường! đang nhắm nghiền mắt, đang thoi thóp thở... Chị Hoà Bình ôm vai tôi, siết thật chặt. Hai chị em chẳng nói với nhau một lời, nhưng tôi hiểu, cả hai chị em, đang lục tìm trong quá khứ, để sống lại những ngày thật đằm thắm bên chú. 

Tuổi thơ của tôi gắn liền với hình ảnh của bác Mai Thảo, chú Khánh Trường và Bố.  Hôm nào họ cũng hẹn hò, họ cũng gặp nhau bù khú, rôm rả tiếng cười… Ồn ào nhất vẫn luôn là chú Khánh Trường, bô lô bô la: Lần này tiền ăn sáng là 500 đô, tôi trả! Ai cũng biết Chú chỉ nói dóc! Họ hẹn hò nhau mỗi ngày ở phở Nguyễn Huệ. Họ thường chiếm chiếc bàn tròn lớn ngay trung tâm. Bao giờ cũng vậy, họ chỉ có 3 người, nhưng chừng mươi phút thì mấy chiếc ghế chung quanh được kéo vào, có khi chen chúc nhau ngồi. Đây là lúc chú Khánh Trường “làm việc,” mắt chú bắt đầu rảo quanh để kiếm… nạn nhân, và rồi chú bắt đầu cười cười, mắt nheo nheo. Buông lời “đâm thọt.” 

- Anh ạ, cái thằng này có hôm nó nói thơ anh không phải thơ! Thế là sao hở anh?

- Ông đếch cần thằng nào khen thơ ông.

Vậy là mắt bác Mai Thảo lừ lừ, “đếch” liên tục. Bác càng “đếch” thì chú Khánh Trường càng bịa ra bao thứ, mặc cho nạn nhân phân trần. Có khi nạn nhân phải đứng dậy đi chỗ khác, chú khoái chí cười hô hố. Trò này diễn ra hàng ngày, nạn nhân có khi là người ở xa, có khi một người trẻ mới tập tành làm thơ… Chú bịa ra đủ thứ chuyện để bác Mai Thảo mắng. Có hôm nạn nhân là mẹ tôi.

- Anh ạ, bà Tuyền sắp ra tập thơ, nhờ em layout, đang muốn nhờ anh viết lời tựa. 

Bác Mai Thảo, dừng đũa, lừ lừ nhìn mẹ tôi. Mặc cho mẹ tôi cãi chính, chú vẫn bô bô

- Thật mà anh. Tôi đã layout nửa cuốn rồi. Chờ anh thôi ạ, anh viết cho bã vài dòng thôi, mới tập tễnh, khen lắm bã lại hăng mà ra thêm cuốn hai thì phiền!

Dù mẹ tôi nói như van chú thôi đi, nhưng chú vẫn châm vào khiến bác Mai Thảo không an tâm, đe doạ mẹ tôi: “Chớ nha em! Không được nha em!”

Hôm đó bố tôi cũng bị lừa, quay qua hỏi mẹ: “Thật không Tuyền!?” Cả bàn phá lên cười. Đương nhiên người cười to nhất là chú Khánh Trường. Nhiều người là nạn nhân của chú vậy mà ai cũng thương.  Trong đó có tôi. Thuở ấy, tôi là 1 đứa trẻ rụt rè, nhút nhát. Tôi không có bạn bè. Bù lại, những người bạn của Bố rất thương và nuông chìu tôi. Bác Cảnh cho tiền tôi đi học thêm. Bác Mai Thảo và chú Khánh Trường thì luôn kêu những món ăn tôi yêu thích.  Dù lúc ấy tôi đã tròn như hột mít, nhưng họ cứ cho tôi ăn. Trong mắt họ tôi luôn là đứa trẻ, cần được bảo bọc, cần phải ăn no, chóng lớn.  Họ ngồi hằng giờ với nhau, mỗi ngày mỗi tháng, hàng năm, mà không hề chán nhau. Trong trí nhớ của tôi, chú Khánh Trường là người yêu cái đẹp. Chú có thể đắm chìm trong nhan sắc của một nàng thơ.  Nhưng ngoài vợ ra, chú chỉ yêu bạn bè.  Chú có thể nhìn say đắm một người phụ nữ, cứ ngỡ chú đang yêu cuồng dại, nhưng nếu bác Mai Thảo hay bố tôi gọi, chú sẽ bỏ ngay để chạy tới với bạn. Trong mắt tôi, chú Khánh Trường cuồng, nhưng không hề dại.  

Trong miền thơ ấu của tôi, chú Khánh Trường ngang tàng, hào sảng… Vậy mà có một ngày, bệnh ập đến với chú. Những người thân xung quanh tôi, có lẽ chú là người đón nhận bệnh tật đầu tiên.  Và dù có bao lần dỗ bệnh, nó cứ ập tới với chú một cách thô bạo, nó dày vò thể xác chú.  Tuy vậy, bạo bệnh, không làm giảm đi sự nồng nhiệt với đời, nồng nàn với văn chương, hội hoạ. Chú vẫn sừng sững như cây tùng, cây bách, chú ngạo nghễ với đời. Những căn bệnh không cướp đi của chú sự ngang tàn. Chúng lại càng không cướp đi được tiếng cười giòn tan.  Sau này, những lần gặp gỡ, khi được ngồi cạnh chú, tôi luôn nhắm mắt vài giây.  Trong những giây phút đó, tiếng cười của chú luôn đưa tôi về quá khứ, với hình ảnh của Bố tôi và Bác Mai Thảo. Tiếng cười hăng hắc của chú Khánh Trường khi chọc phá người này, trêu ghẹo người khác. Tiếng cười giòn giã của chú cũng kèm theo hình ảnh bác Cảnh trong quán Nguyễn Huệ - một ông Hà Thành đỏm dáng, đi tới đi lui với điếu thuốc điệu đàng trên tay. Tôi thấy lại bác Bùi Bảo Trúc với đôi mắt láu lỉnh, luôn châm chọc, giễu cợt một ai đó, bác thích bánh đậu xanh…, Họ nói lớn, cười vang như cùng là chủ nhân của tiệm phở Nguyễn Huệ,

Khanh Truong và Orchid

Họa sĩ Khánh Trường và Orchid Lâm Quỳnh, buổi chiều cuối tháng Ba, 2024.

Suốt một tuần lễ, dù có bận rộn với những ngày cuối năm, lòng tôi, trí tôi vẫn quay về nơi chốn quen thuộc - nhà thương. Tôi không còn sợ nhà thương. Những năm sau này, tôi gọi đó là nhà thương, chứ không gọi là bệnh viện, vì nơi đây, đã đem đến cho tôi những vết thương, rất cần thiết trong đời sống. Tôi vào nhà thương để tìm lại tiếng cười của chú.  Tiếng cười với những người của muôn năm cũ. Nhưng cả tuần qua, nơi đây chỉ có sự tĩnh lặng, tàn nhẫn. 

Tối hôm qua, chú Khánh Trường đã về với tôi trong giấc mơ.  Tôi nhìn rõ khuôn mặt rạng ngời của chú.  Tiếng chú cười lớn trong sớm mai.  Tôi và chị Hoà Bình, ôm chầm lấy chú.  Ba chú cháu chụp với nhau cả triệu tấm hình.  Tim tôi không còn bị cuốn đi bởi nỗi buồn bất biến mà là niềm hạnh phúc vô biên bên chú bên chị.  

Chú ơi, chú đi bình an.  Khi gặp Bố, Bác Mai Thảo, Bác Bùi Bảo Trúc, Bác Cảnh… chú ôm họ thật chặt dùm con. Chú nhớ “dọa” với bác Mai Thảo mẹ con sẽ vẫn chờ lời giới thiệu của bác ấy, nhớ gọi thật nhiều món ăn, và để bác Cảnh trả tiền nghe chú. 
  
Orchid Lâm Quỳnh
 

Ý kiến bạn đọc
04/01/202518:29:53
Khách
Bài viết cảm động và hay
Q vẫn vậy ❤️
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chiều mưa công viên. Hẹn hò đời nhau, duyên nào níu gọi, ai biết. Mưa rơi tầm tã không thấy bóng xe qua. Dưới cây run lạnh, ướt đẫm những hồn lưu lạc. Tuổi trẻ tay trắng, chỉ có tình yêu là nơi gửi trọn tâm chí cuồng nhiệt, đắm say.
Khi một nhà hiền triết lánh đời để sống ẩn dật trong rừng sâu, một lãnh tụ xuất chúng hy sinh quên mình để cải hội, một nhà thơ miệt mài làm thơ để ca tụng vẻ đẹp của cuộc đời, hay một Thiền sư tịch cốc để đối mặt với khoảng vắng lặng mênh mông, tất cả những việc làm đó của họ, không ngoài mục đích nào khác hơn là phá cho được một con đường đề tự cứu mình và từ đó, giải phóng luôn những thống khổ muôn đời của kiếp người. Thu phong nhọ phất thiềm nha, Sơn vũ tiêu nhiên chầm lục la. Dĩ hỹ thành Thiền tâm nhất phiến, Cùng thanh tức tức vị thùy đa. (Sơn vũ) (Gió thu khuya khoắt thoảng hiên ngoài, Quạch quê nhà non lấp ruổi gai. Thôi đã theo Thiền lòng lặng tắt, Nỉ non tiếng dễ vẫn vì ai?) (13) (Huệ Chi dịch)
Cuốn On Earth We’re Briefly Gorgeous được viết dưới dạng một bức thư từ một người con trai có tên gọi Chó Con, gửi cho người mẹ mù chữ. Với nỗ lực giải thích cho Mẹ hiểu về bản thân mình, Chó Con đã bộc lộ hết tính cách, bản sắc riêng của mình – như những kết cấu từ bạo lực gia đình và xã hội. “Một thoáng rực rỡ” là những chuyến trở về thời thơ ấu đầy dãy những chấn thương từ chiến tranh trong gia đình ba thế hệ, những cơn nghiệp ngập, tình cảm tuổi mới lớn, tìm hiểu và nhận diện bản sắc, giới tính, tình cảm và xung đột gia đình, để rồi cuối cùng, chịu đựng một sự mất mát to lớn. Rất nhiều bài viết giới thiệu cuốn sách này đã được đăng tải trên các tờ báo và trang mạng Mỹ, Việt khắp nơi, nhưng độc giả người Việt vẫn chưa có được bản dịch tiếng Việt, hy vọng sẽ ra đời một ngày không xa.
Thi sĩ người Anh Thomas Ernest Hulme (1883-1917) đã viết về đêm trăng mùa thu như thế trong bài thơ “Autumn” [Mùa Thu] của ông được viết vào năm 1908. Bài thơ có cái nét nên thơ của một đêm trăng tròn mùa thu nơi miền quê thanh bình ở Việt Nam. Nước Mỹ đã chính thức bước vào mùa thu ngày 22 tháng 9, với đêm đã bắt đầu dài thêm và bầu trời vào ban đêm và sáng sớm lành lạnh. Ở Miền Nam California dường như hiếm thấy cảnh lá vàng rực rỡ vào mùa thu nhưng ở những tiểu bang cao hơn về phía bắc thì mùa thu đã bắt đầu vẽ những bức tranh màu vàng màu đỏ tuyệt đẹp. Mùa thu có lẽ là mùa thơ mộng nhất của năm.Mùa thu còn là nguồn cảm hứng bất tận của các nhà thơ và nhà văn. Trong văn học nước Mỹ có nhà văn Louis Bromfield đã viết cuốn tiểu thuyết “Early Autumn” [Chớm Thu] vào năm 1926 và nhờ cuốn sách này mà ông đã đoạt Giải Pulitzer Prize vào năm 1927. Nhân đầu thu xin đọc cuốn “Chớm Thu” của Bromfield. Nhưng Bromfield là ai?
Thử bút, không phải tùy bút, không phải tản mạn, không phải tạp văn… Nó ùa ra, nó túa ra, có lúc tòe loe, có khi hụt hẫng, những cảm hứng, những ngẫu hứng, những xúc động bất chợt, như không kềm chế được… Bạn tôi, Lữ Kiều Thân Trọng Minh, con mắt thầy thuốc đắn đo, cái hồn thi sĩ mang mang, trái tim hiền triết đông phương. Tuổi đôi mươi tự vấn văn chương, số phận, ý nghĩa đời người… Rồi “xuôi dòng” với bao bờ bến lạ. -- Đỗ Nghê Đỗ Hồng Ngọc
Chủ nhật, 27 tháng 5, gia đình chúng tôi cùng bốn người bạn đến chùa Hương Sen. Đến và biết, và là lần đầu đảnh lễ Ni sư Thích Nữ Giới Hương. Khi lễ Phật Đản kết thúc là “thủ tục” chúc mừng Sinh Nhật Ni sư Thích Nữ Giới Hương do Phật tử Chùa Hương Sen tổ chức. Đơn giản, nhẹ nhàng, nhanh gọn mà sao chúng tôi cảm nhận được sự ân cần, ấm áp của nghĩa tình Thầy-Trò trong kỷ niệm đáng nhớ này.
Trí tuệ và từ bi có phải chỉ riêng nhân loại mới có? Hay là, loài vật cũng có trí tuệ và từ bi, nhưng ở mức sơ khai hơn? Cuộc nghiên cứu mới đây về heo rừng cho thấy những bất ngờ về mức độ cao của không ngoan và tình thương nơi một trường hợp khảo sát. Cuộc nghiên cứu của các nhà khoa học tại Czech University of Life Sciences Prague cho thấy lần đầu tiên ghi lại đầy đủ hình ảnh về trường hợp được ghi lại trên báo Business Insider hôm 5/9/2021 qua bản tin nhan đề “A family of wild boars organized a cage breakout of 2 piglets, demonstrating high levels of intelligence and empathy” (Một gia đình heo rừng tổ chức phá cũi, cứu 2 heo con, cho thấy mức độ cao của trí tuệ và thương xót). (1) Các hình ảnh ghi lại cho thấy một heo rừng cái đã giúp 2 con heo nhỏ thoát ra khỏi 1 chuồng bẫy. Con heo rừng cái, dựa theo kích thước và tính phái nên được suy đoán là heo mẹ, đã tìm các chiến thuật để đẩy bật các thanh gỗ chốt đang chặn cửa chuồng bẫy.
Lời thơ mộc mạc, giản dị, ngôn từ mang âm hưởng của người dân quê miền Tây Nam Bộ, để diễn tả cảm xúc, tư duy gắn kết với con người, với sinh hoạt xã hội và thiên nhiên, để phát huy cái hay, cái đẹp truyền thống của Việt Nam. Ý thơ mang tính xây dựng, thể hiện gương mẫu đạo đức qua những bài học làm người. Người tốt, theo quan niệm “Trung, hiếu, tiết, nghĩa” của người xưa.
Nếu phân biệt về giới tính, số lượng và tác phẩm của những người viết “Nam” ngoài vòng đai trong Văn chương miền Nam thời chiến (1954-1975) có khá nhiều: Y Uyên, Lê Bá Lăng, Doãn Dân, Trần Hoài Thư, Phạm Văn Nhàn, Luân Hoán, Vũ Hữu Định, Phan Xuân Sinh, Nguyễn Bắc Sơn, Linh Phương... Hầu như không có một người “Nữ” nào viết ngoài vòng đai cả. Có thật vậy không? Phải đợi đến tháng 10/2011, nghĩa là sau 40 năm từ khi sách được phát hành vào tháng 9/1971, khi trang blog Phay Van với cô chủ thật “đặc biệt” và nhóm bạn yêu thích văn chương mà tôi đã ghi lại trong “Hành trình của Cõi Đá Vàng” [1], thì tôi mới biết đến tên nhà văn Nguyễn Thị Thanh Sâm. Trước năm 1975, trong chúng ta hầu như không mấy ai nghe nói tới tác phẩm “Cõi Đá Vàng” của bà, dù cho cuốn sách ấy được nhà An Tiêm, một trong những tên tuổi của miền Nam thời bấy giờ, xuất bản.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.