Hôm nay,  

Đi tới NIRVANA

23/07/202312:05:00(Xem: 2891)
Tôn giáo

walking buddha
Tượng Phật đi -- Thái Lan, thời kỳ Sukothai, thế kỷ 14, bằng đồng, cao 28cm, hiện trưng bày tại Bảo tàng viện Anh quốc, London.


(Ý nghĩa thâm nghiêm của tượng phật đi. Xin tri ân tác giả Huỳnh Thanh Bình).

 

Canh khuya giấc điệp mơ màng,

Kìa ai thao thức bên giường cạnh tôi.

Giấc xuân chợt tỉnh bồi hồi,

Kìa ai bế ẵm, kìa ai dỗ dành?

 

Là ai? Khi đó, thầy giảng về kinh hiếu tử, kinh đại báo phụ mẫu trọng ân, thầy Quảng Độ, thầy cứ giảng thao thao, rồi bất chợt, ngừng giảng, thầy đọc một hơi bốn câu thơ trên. Thầy ngừng nói một giây và nhìn chúng tôi, một đám phật tử, đệ tử ngây ngô, y là vịt đang nghe sấm, vì không ai trả lời. Thầy đi qua lại, rồi đứng im, thầy đan hai bàn tay khít vào nhau để vòng thõng xuống phía trước bụng, đưa qua đưa lại, như bế, như dỗ dành một đứa bé thơ đang nhõng nhẽo, quấy khóc. May quá, có chị Diệu Thảo, mau mắn, tỉnh táo, đứng lên trả lời thầy:
    – Dạ, là mẹ ạ…
    – Chứ còn ai vô đó nữa!
    Có vậy thôi, chỉ có bốn câu thơ và hai bàn tay lồng vào nhau đưa qua đưa lại, mà mãi mãi đến giờ này, chúng tôi không quên kinh báo ân và nhứt là không quên thầy. Thầy Quảng Độ. Thầy sinh quán ở Thái Bình, khi nước nhà đang chìm đắm mịt mờ trong ảnh hưởng đệ II thế chiến và chiến tranh Đông Dương phức tạp. Năm 14 tuổi ngài xuất gia, nhưng vẫn lo cả việc đạo việc đời, ngài tình nguyện đi cứu đói năm Ất Dậu 1945. Năm 1952, ngài rời quê hương, rời mẹ đi du học ở Tích Lan và Ấn Độ, khi trở về Việt Nam, vì hoàn cảnh đất nước phân ly chia cắt, ngài về miền Nam tự do để hoằng dương phật pháp, vì như vậy, tình mẫu tử sự gần gũi với mẹ và gia đình bị gián đoạn.
    Tháng 2 dương lịch 1982, hòa thượng Quảng Độ đang ở Thanh Minh thiền viện thì bị trục xuất ra khỏi thành phố Saïgòn, 7 năm sau ngày mất miền Nam tự do. Trước đó một tuần lễ, không biết nghe phong phanh tin tức từ đâu, mà hai cô phật tử Diệu Thảo và Diệu Thịnh nghi ngờ sắp có tai họa nữa đến với thầy, họ vội lại thiền viện thăm, lúc nào phật tử cũng sợ thầy lại vô tù lần nữa, đến thăm thì thầy trò nói chuyện vu vơ  hồi lâu quanh đó công an vẫn lảng vảng canh gác dò la. Sau cùng, Diệu Thảo buồn buồn nói câu như để từ giã:
    – Vậy là có thể thầy lại phải đi nữa.
    – A Di Đà Phật, đi thì đi, có sao đâu mà lo sợ, đã đi thì phải đi tới cùng. Thầy từ tốn trấn an. Nhưng rồi vài giây sau, khi với tay cài vòng dây xích quanh cổng chùa, thầy cười nói thêm:
    – Nói vậy, là đi phải đi tới cùng, mà cũng không biết đâu là cùng, các con à.
    Thầy chúng tôi thấm nhuần tư tưởng Phật giáo, am tường sâu sắc có là không, không là có, đi là đến, đến là đi, nên thầy an nhiên tự tại trước mọi thay đổi của hoàn cảnh, nhất là sống trong nghịch cảnh với cộng sản, thì nhiều thay đổi là cơ man chóng mặt.
    Không biết thầy có ngờ được là lần này thầy không vào tù ra khám như những năm trước nữa, mà thầy bị công an trục xuất khỏi miền Nam Việt Nam, thầy bị phát vãng lưu đầy, cộng sản áp tải thầy một buổi sáng ra khỏi Saïgon. Cánh cổng thiền viện Thanh Minh khép lại ken két sau lưng, họ đuổi thầy, thầy như bị lưu đầy phát vãng về tận miền Bắc xa xôi, đó lại là quê hương bản quán, tỉnh Thái Bình, từ đó thầy trụ ở chùa Long Khánh, nơi đây thầy sống với mẹ già, thầy nuôi mẹ ở trong căn nhà lá sau chùa từ năm 1982 tới năm 1994, với điều kiện kinh tế hạn hẹp, với những bữa cơm rau thanh đạm bằng gạo « ba chìm, bẩy nổi, chín lênh đênh », là gạo mốc, gạo lép, có lẫn đầy vỏ thóc.
    Cuộc sống mẹ con lúc bấy giờ rất cơ hàn nhưng với tư cách và lòng tự trọng của một bậc lãnh đạo tinh thần nhiều triệu tín đồ Phật giáo miền Nam, ngài không hề nói tới hay than van (theo ý anh Trần Trung Đạo). Ngài luôn giữ đạo tâm kiên cố và lưng thẳng trước mọi nghịch cảnh, ngài thể hiện hiếu đạo rất tận tình, rất thiêng liêng với thân mẫu, ngài luôn đi, đi tới, hướng tới chân trời cao rộng của đức Như Lai.
    Khi thân mẫu qua đời năm 1994, lo hậu sự chu đáo xong. Ngài vụt đi trở vào chùa Từ Hiếu trong Nam, về với Phật tử, với Phật tổ. Không thể tưởng tượng nổi, một người già trên 70 tuổi, mà vượt đường trường từ Bắc vô Nam, qua bao trạm gác canh chừng khắt khe. Thưa vâng, ngài khi đi xe, lúc đi bộ, đi một vèo qua hơn 1780km suôn sẻ như ý muốn, cả nước hoảng hồn, công an có lẽ có lúc cũng giằng co, nhưng ngài đã về tới, chắc hẳn là có thiên long bát bộ và chư phật cứu giúp độ trì.
    Suốt đời thầy, lúc nào thầy cũng nghĩ tới đi, đi làm phật sự, đi  cứu trợ thiên tai, đi nâng đỡ tinh thần thanh niên sinh viên phụng sự xã hội… Nơi nào cần là thầy đi tới, đi hoằng pháp độ sanh, đi tranh đấu cho tự do tôn giáo, đi khai phóng giáo dục và mở trường Bồ Đề trong rất nhiều năm trời, giáo hóa học sinh nghèo. Ý niệm và mục đích giáo dục của thầy hoàn toàn bố thí và vị tha, không một chút vụ lợi mảy may nào.
    Ý niệm tu hành, thiền hành, phật sự hành, nơi thầy luôn nhất quán và sánh bước cùng nhau. Nay, thầy chúng tôi đã thong dong đi vào cõi an nhiên tịch mịch. Khi tưởng niệm về thầy, người ta liên tưởng tới hình ảnh một tượng Phật đi.
    Nhắc tới tượng Phật đi, người viết xin nhớ, gợi nhớ về dịch giả Hoàng Phong, ông kể về tượng Phật đi mà ông đã mua được ở Tích Lan với một niềm hoan hỉ đặc biệt. Ông rất trân quý mô tả tượng như sau: đó là tượng đức Thích Ca đang đi tới với các thủ ấn: bàn tay trái  để ngửa, tượng trưng cho sự bố thí, bàn tay phải đưa ra phía trước, tượng trưng cho sự che chở, ngón cái ngón trỏ chạm vào nhau, là sự thuyết giảng. Chân trái hơi co lên là cho thấy sự đi tới. Có nghĩa là pho tượng không đứng yên một chỗ mà ngài đang đi, bánh xe đang chuyển pháp luân.
    Ở nhiều nơi kể cả ở Việt Nam, tượng Phật đi rất hiếm, có lẽ tạo tư thế đi không dễ. Còn như Phật thoại đã kể, khi Như Lai ra đời, ngài đã đứng lên đi bẩy bước, mỗi bước đi có một đóa hoa sen nở đỡ dưới chân. Phật thoại đó cũng không ngoa, vì trong phòng khám các trẻ sơ sinh, test d’asgar cho thấy các bác sĩ đỡ hai bên mạng sườn, các em bé đều bước đi nhiều bước trên bàn khám, rất phản xạ và phấn khích, cảm động.
    Lại nói về cuộc đời của Như Lai, sau khi đắc đạo, ngài đã dùng cả thân giáothuyết giáo để giảng dạy chi tiết cặn kẽ trong kinh tương ưng: « Từ vô thủy cho tới ngày nay, chúng sinh đi, đi là hành nghiệp, làm nhiều nghiệp nên trôi lăn luân hồi trong lục đạo. » Vậy gặp cơ may, cơ duyên lành gặp Phật pháp, có hiểu mới tu hành được, đây là nền tảng triết lý thiết lập nên sự hiểu biết và sự tỉnh thức do giác ngộ mà đạt được. Tự đi, tự giác một mình mình, đừng trông chờ vào một sự linh thiêng phù trợ nào ở ngoài ta cả.
    Từ phút suy nghĩ chiêm bái trong thâm sâu, qua hình ảnh di động tuyệt vời của tư tưởng, người ta không còn chú ý nhiều về mỹ thuật tạo dáng mà để hết tâm tưởng vào những ý nghĩa thâm nghiêm của tượng Phật đi. Đi, là hành một trong 4 tư thế năng động căn bản của giáo pháp: Hành trụ tạ ngọa, đi đứng ngồi nằm.
    Đây là những quy luật mà các tỳ kheo, tỳ kheo ni tu học theo để giữ giới cho nghiêm cẩn, không buông thả, không giãi đãi.
    Hành như phong, là đi như gió, nhẹ nhàng thanh thoát.
    Trụ như sơn, là đứng phải vững vàng, như núi, như tùng, bách.
    Tọa như chung, ngồi nghiêm trang cẩn thận như chuông.
    Ngọa như cung, nằm khoan thai như cung.
    Tứ đại uy nghi biểu hiện thành hình tướng đạt chuẩn khi vị tu hành cảm thấy tự nhiên, không còn gò bó trong mọi động tác hằng ngày.
    Ba trạng thái, trụ, tọa, ngọa ở trạng thái tĩnh, còn hành, ở tư thế động vì thế nên tượng Phật đi khó tạo tác nhất.
    Tượng Phật đi bắt nguồn từ các biểu tượng của người Khmer và người Sri Lanka từ thế kỷ thứ VIII: nghệ thuật Sokuthai ở thế kỷ XIII-XIV nhằm thiết kế nên sự biến đổi và tạo dáng Phật đi thanh thoát hơn, tượng Phật đi đắp y vàng (gọi là đại y, y tăng già lê) như tung lên một chuyển động cùng bước đi. Phật dậy chúng sanh hành, là đi, là đi đâu? đi đến sự tỉnh thức, đi về NIRVANA, là niết bàn, bên cạnh NIRVANA, là vô minh, bản chất của vô minh là khổ đau.
    Vậy chúng sanh đi, để tránh sự vô minh, tới sự tỉnh thức, không có gì khó hiểu cả, đến NIRVANA, đến sự không còn nữa trong liên hệ giữa ta nhỏ bé và vòng luân hồi cay nghiệt. Tượng Phật đi, đang đi, ngài đang gióng lên tiếng chuông tỉnh thức, tỉnh thức bằng kỷ luật sống của mỗi con người theo tam quy ngũ giới. Hãy ngắm nhìn Phật bằng một cảm nhận trung thực, không có mặc khải, không van xin một ân huệ thiêng liêng, không cầu cứu, khi chúng sanh cảm nghiệm được tính tuyệt vời đại giác ngộ của Phật tổ, y là ngài hiện ra cho ta một tính thể huyền nhiệm siêu thoát:
    Như hoa bay ngập cả khung trời Mạn Đà La như tuyết trắng tinh khôi phủ đầy Hy Mã Lạp Sơn như nhạc thinh không đang rung rung tiếng!
    Trong nguyệt san Giác Ngộ số 197, tác giả Huỳnh Thanh Bình kể rằng lần đầu tiên ông được chiêm ngưỡng bức tượng Phật đi ở chùa Ba Xe, Trà Vinh, do nghệ nhân Thạch Tư, người Khmer tạo tác từ trước năm 2010, là một tác phẩm quý và hiếm ở Việt Nam. Dạng tượng tròn, xuất hiên với dáng đi duyên dáng, một chân khẽ nhấc cao lên như lướt trên không, một tay bắt ấn thí vô úy.
    Phật thoại là nguồn cảm hứng để các nghệ nhân Sukhothai tạo tượng đi, tượng Phật đi từ đó, mang nhiều ý nghĩa thâm nghiêm hơn là mỹ thuật và nghệ thuật, tất cả tính thể huyền nhiệm như xuất phát từ các Phật thoại lâu đời và xa xưa sau:
    Một mùa chay mùa báo hiếu, Đức Phật đến cung trời Đao Lợi để thuyết pháp cho mẹ ngài là hoàng hậu Maya. Sau mùa chay đó, Đức Phật trở về trần gian bằng chiếc thang pha lê. Thần Indra và thần Brahma bước từng bước theo ngài trên chiếc thang này và có chư thiên cung nghênh cúng dường. Cầu thang là biểu tượng của sự vươn tới hiểu biết, của sự thăng thượng tới nhân chân và chuyển hóa. Phía cầu thang đi xuống là sự hiểu biết huyền bí và là những chiều sâu của vô thức. Cầu thang rất gần với ý tưởng về trục của thế giới. Ngoài ra, hình ảnh Đức Phật đi lên hóa độ cho mẹ ngài là để truyền dậy hiếu đạo cho mọi chúng sanh. Trong kinh Hiếu Tử, Phật dậy rằng con nuôi cha mẹ, ngoài việc phụng dưỡng chăm sóc, con cần làm sao cho cha mẹ giác ngộ đạo pháp và thoát khỏi luân hồi, đó là đạo hiếu trong sự viên dung lý và sự vẹn toàn.
    Một quan điểm lại nghĩ là Phật đi là hình tượng của ngài trong tư thế ngăn pho tượng gỗ đứng dậy. Đó là bức tượng ngài giơ tay trái lên phía trước, câu chuyện hình tượng này được kể như sau:
    Khi Phật về thăm mẹ ngài, vua Ưu Điền Vương / Udayana sau đó đặt tạc một tượng Phật bằng gỗ chiên đàn và đặt ở thất. Có chi tiết nói rằng, khi Phật quay lại, tượng gỗ chiên đàn đó từ bệ đứng lên đảnh lễ ngài, ngài liền giơ tay ngăn tượng gỗ đứng lên, đây là một nguyên ủy của tượng Phật đi.
    Còn có một nguyên ủy thứ ba giải thích rằng, sau khi thành đạo, ngài đang ở gốc cây, bên bờ Ni Liên Thiền, ngài trầm tư quan sát căn tánh của chúng sanh, sợ chúng sanh còn nhiều luyến ái ngũ trần, khó học đạo. Khi ấy, ngài Phạm Thiên đến cung thỉnh ngài đi thuyết pháp, hóa độ chúng sanh. Cùng lúc ngài nhìn ra ao sen, thấy có cây cao, cây thấp, cây la đà mặt nước, ngài hiểu ngay căn tánh có khác nhau nhưng đều có Phật tánh, ngài quyết định đi truyền bá giáo pháp. Bước đi của ngài biểu hiện việc chuyển pháp luân.
    Khi chúng sanh bước đi là chúng sanh đang hành động, đang hành nghiệp, kể cả nghiệp xấu và nghiệp tốt. Khi đức phật bước đi là bánh xe chuyển pháp luân là có sự giáo huấn nhiệm mầu và chúng sanh có Phật tánh sẽ là những vị Phật sẽ thành.
 

A Di Đà Phật.

 

– Chúc Thanh

(Tháng 7, Vu Lan 2023)

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
“Cười với nắng một ngày sao chóng thế / Nay mùa đông, mai mùa hạ buồn chăng” (2). Không ngại chi với việc cười vui, buồn khóc theo vận hành vô thường của bốn mùa đổi thay. Trong niềm vui có nỗi buồn; trong tang tóc có niềm hy vọng, tin yêu. Người đến, rồi người đi. Người đi, rồi người sẽ về.
Ở tuổi 90, Tết đến Xuân về suy gẫm bài kệ “CáoTật Thị Chúng ”của thiền sư Mãn Giác qua bản dịch của Hòa Thượng Thích Quảng Độ tôi thấy thấm thía vô cùng về triết lý nhân sinh. Chúng ta thường vui khi Xuân về hoa nở, buồn khi Đông đến tuyết lạnh rơi rơi. Nhưng quên rằng Đông là mùa ẩn tàng sức sống cho một ngày Xuân bừng dậy: “Nếu chẳng một phen sương lạnh buốt, hoa mai đâu đến ngát mùi hương”. 90 năm trong cuộc đời thăng trầm chìm nổi, gân xương mòn mỏi, cảm thương cho những ai vẫn mong đợi một điều không thật đó là trẻ mãi không già, sống hoài không chết. Già bệnh không hẹn với ai vẫn mà cứ đến, từ đó bao ưu bi, khổ não kết hợp gió bụi thời gian làm cho chúng ta da nhăn, tóc bạc thuận chiều theo triết lý duyên sinh.
Tại Chùa Bát Nhã số 4171 W 1St Santa Ana nơi đặt trụ sở Văn Phòng Thường Trực Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ (GHPGVNTNHK) đã long trọng tổ chức tang lễ cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Thắng Hoan, Tăng Trưởng Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương Viện Tăng Thống, GHPGVNTN; Trưởng Ban Điều Hợp Tăng Ni Việt Nam Hải Ngoại; Chánh Văn Phòng Hội Đồng Giáo Phẩm GHPGVNTNHK, Chứng Minh Hội Đồng Hoằng Pháp Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã viên tịch vào lúc 6 giờ 50 phút sáng Thứ Năm, 25 Tháng Giêng (nhằm ngày Rằm Tháng Chạp năm Quý Mão), tại California, Hoa Kỳ, trụ thế 97 năm, 72 hạ lạp.
Bồ-đề-đạo-tràng, Ấn độ, vào cuối năm 2023 và đầu năm 2024 rất rộn rịp với nhiều sự kiện Phật giáo quan trọng như Đức Đạt Lai Lạt Ma về thuyết giảng ba tuần (từ ngày 29/12/2023-20/01/2024), Lễ Vía Phật Thích Ca Thành Đạo (do Hội Công Đức Phật Giáo Thế Giới, World Buddhist Merit Society, tổ chức tại Bồ-đề-đạo-tràng vào ngày 17/01/2024) và Hội Trùng Tụng Tam Tạng Pali (tại Bồ-đề-đạo-tràng, ngày 2-12/12/2023).
Tịnh Xá Giác Lý tọa lạc tại 11262 Lampson Ave., thành Phố Garden Grove do Thượng Tọa Thích Minh Tâm Trụ Trì đã long trọng tổ chức Lễ Đại Tường Tưởng Niệm Cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Giác Sĩ, Viện Chủ khai sơn Tổ Đình Tịnh Xá Giác Lý vào lúc 10 giờ sáng chủ Nhật ngày 01 tháng 01 năm 2024.
Ban Trị Sự Phật Giáo Hòa Hảo Miền Nam California trang trọng tổ chức Đại lễ Đản Sanh Đức Huỳnh Giáo Chủ vào lúc 10 giờ sáng Chủ Nhựt ngày 07 tháng 01 năm 2024, nhằm ngày 26 tháng 11 năm Quý Mão tại Hội quán PGHH số 2114 W. Mc Fadden Ave. Santa Ana CA 92704.
Tại Chánh Điện Chùa Kiều Đàm Địa chỉ: 1129 South Newhope Street, Santa Ana, CA 92704 do Ni Sư Thích Nữ Nguyên Bổn làm Viện Chủ, vào lúc 10 giờ sáng Thứ Hai ngày 1 tháng 1 năm 2024, Hội Đồng Điều Hành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ đã long trọng tổ chức Lễ Khánh Thọ lần Thứ 97 Đại Lão Hòa Thượng Thích Thắng Hoan, Chánh Văn Phòng Hội Đồng Giáo Phẩm Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ (GHPGVNTNHK)
Tổ Đình Chùa Huệ Quang do Hòa Thượng Thích Minh Mẫn khai sơn, viện chủ đã long trọng tổ chức Lễ Hiệp Kỵ, Tưởng Niệm Ân Sư, và lễ lạc thành khai trương Thiền Đường Huệ Quang. Theo thông lệ, hằng năm vào ngày 25 tháng 12, (ngày lễ Giáng Sinh) Tổ Đình Chùa Huệ Quang đều long trọng tổ chức Lễ Hiệp Kỵ, được coi như ngày Giỗ Tổ của chùa Huệ Quang để tưởng niệm công đức cao dầy của chư vị Tổ Sư, Ân Sư và những người đã có công xây dựng chùa Huệ Quang, đặc biệt cũng để tưởng nhớ và cầu nguyện cho cố Viện Phó Thích Thiện Chí và song thân của Hòa Thượng Viện Chủ được vãng sanh về miền Cực Lạc.
Tại nhà thờ Giáo xứ Saint Barbara, 730 S. Euclid St, Santa Ana, CA 92704 đã tổ chức Lễ Vọng Giáng Sinh vào lúc 3 giờ chiều Chủ Nhật 24 tháng 12 năm 2023 với sự tham dự của gần hai ngàn giáo dân. Trước thánh lễ, ca đoàn thiếu nhi mang tên “Ca đoàn Chúa Hài Đồng” hát một số bài thánh ca Giáng Sinh nổi tiếng. Sau đó, Linh mục Joseph Trịnh Ngọc Danh (Phó xứ) Chủ tế, linh mục Paul Vũ Duy Hòa (Phó xứ) và cha khách Hoàng Cao Thăng rước tượng Chúa Hài Đồng lên cung thánh cử hành thánh lễ.
Đa phần các tôn giáo muốn được phát triển mạnh để tồn tại với thời gian. Điều kiện ắt phải có là sự mở rộng việc truyền bá giáo pháp bằng mọi hình thức, với mục đích mang đến cho mọi tầng lớp xã hội nhận thức đúng đắn về chánh pháp để hướng đến giác ngộ. Vì vậy sứ mạng của phổ thông giáo lý cho Đạo rất cần thiết và khẩn cấp...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.