Hôm nay,  

Lịch Sử Viên Aspirin

10/07/202000:00:00(Xem: 5713)

 

BS Nguyen Y Duc

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

 

Đa số những cơn đau mà con người thường gặp không phải gây ra do giải phẫu hoặc mới bị thương mà thuốc mê có thể dùng để chữa nhưng còn những cơn đau kinh niên như viêm xương khớp hoặc đau ngắn hạn như nhức đầu và đau răng thì chữa bằng cách nào. Với các đau này, một loại dược phẩm rất cần để giảm đau trong khi đó ta vẫn có thể đi làm được.
 
Vào mùa hè năm 1758, đức cha Edward Stone, ở Chipping Norton bên Anh bị sốt và viêm xương khớp. Vô tình ngài  đã nhai cành của cây liễu trắng rất đắng , ngài rất ngạc nhiên mà thấy rằng cơn đau giảm. Ngài liền nghĩ ra cách để phơi khô  và làm thành bột vỏ cây này và thử nghiệm để kiếm một liều hiệu nghiệm nhất.Trong vòng năm năm sau ngài tặng món thuốc này cho năm mươi người khác và đều thấy công hiệu. Vui mừng với sự khám phá của mình, ngày 25 tháng Tư năm 1763, ngài viết một bức thư cho bá tước Macclesfield, Hội trưởng Hoàng Gia, nhưng không được hồi âm.
 
Năm 1820, dược sĩ Thụy Sĩ Johana S.F. Pagenstecher bắt đầu lấy  một chất từ lá  của cây Spirea ulmaria, thường được gọi là lá dâu dê, rất công hiệu để giảm đau trong y học dân gian.
 
Báo cáo của Pagenstecher trên báo khoa học được đọc vào năm 1835 bởi nhà hóa học người Đức Karl Jacob Lowig, giáo sư hóa học ở Montpellier Uniniversity. Ông cũng cố gắng thay đổi lá cây Spirea ulmaria để loại bỏ tác dụng phụ quan trọng như cơn đau kích thích lớp lót của bao tử nhưng ông ta thấy phương pháp quá mất thì giờ cho nên đã bỏ.
 
Salicylic acid chỉ được một số người mà cơn đau trầm trọng hơn cơn đau của chính dược phẩm.Một trong những người đó là Her Hoffma, sống ở thành phố Đức quốc Elberfield và bị bệnh viêm khớp khiến ông bị què quặt.Con trai của ông ta là một hóa học gia làm việc tại Bayer, một hãng dược phẩm rất lớn ở gần đó và vào năm 1895 anh ta quyết định thử nó để làm bớt cơn đau của bố. Anh ta làm giản dị hóa phương pháp của Gerhard và làm ra aceytylsalicylic acid. Hoffman bèn lấy một lọ nhỏ và đưa cho bố và ông này đã có một đêm hết đau trong nhiều năm. Về sau này người ta mới biết rằng thuốc đó không phải chỉ giảm cơn đau mà còn hạ nhiệt độ và viêm.
 
Đồng nghiệp của Hoffman là ông Heinrich Dresser nhận ra rằng dược phẩm mới có tác dụng rất tốt vì nó chia làm hai ở máu.Để thử giả thuyết của mình, ông ta bèn nuốt chửng một số acetylsalicylate và thường xuyên thử nước tiểu trong vòng 12 giờ.Ông đã tìm ra dấu vết của salicylic acid  nhưng không thấy chất acetylsalicylate: hợp chất quả có tách làm hai.
 
Đến năm 1899,Hopffman và Dreser đặt tên cho dược phẩm mới tìm ra của mình:aspirin- chữ a cho acetyl, spir cho Spirea. Năm sau, công ty dược phẩm Bayer  xin bản quyền cho aspirin, cho các hợp chất trực tiếp của hãng và hình dáng của các dụng cụ của hãng và bắt đầu bán một sản phẩm rất phổ biến trên thế giới.
 
Năm 1914, để đề phòng sự lớn mạnh của chiến tranh và cũng để ngăn cản sự cung cấp của nước Đức, chính phủ Anh bèn tặng 20,000 bảng Anh cho những ai sống tại chính quốc hoặc ở Liên Hiệp Anh đã tìm ra một chất mới cho aspirin mà vẫn tránh né được bản quyền của Bayer.Chính quyền Úc Đại Lợi bèn tặng thêm 5000 bảng anh để khích lệ và hóa học gia George Nicholas nhận lời thách đố đó. Dùng các dụng cụ rất sơ sài và gần như mù vì phòng thí nghiệm của mình bị nổ, ông ta tìm ra một cách để tạo ra một chất aspirin hết sức thuần túy và thắng giải.
 
Sau khi nước Đức thua trận, công ty British Alien Properties Custodian tịch thu tên “aspirin” và công ty Bayer mất bản quyền cả tên lẫn việc sản xuất dược phẩm. Trong số những cơ sở bắt đầu làm hợp chất  là của George Nicholas; và sản phẩm “Aspro” của ông trở thành một loại aspirin bán nhiều nhất ngoại trừ nước Mỹ. Tại nước Mỹ, công ty dược phẩm Sterling, mặc dù đã không liên lạc với công ty Đức, tiếp tục sản xuất aspirin dưới dạng “Bayer”, một tên riêng. Xin nói rõ,  tên riêng (Trademark) là một thương hiệu hàng hóa riêng, trong đó chứa đựng bất kỳ chữ, tập hợp của nhiều chữ, tên riêng và biểu tượng nào. Những từ ngữ này đã từng được sử dụng hoặc sẽ được đưa vào sử dụng trong thương mại để nhận dạng, phân biệt và giúp chỉ ra xuất xứ hàng hóa.
 
Nhưng khám phá về vỏ cây liễu của ngài Stone trong mấy năm về trước không phải là không được dể ý tới. Năm 1826, hai người Ý đã tìm ra chất chính của vỏ cây liễu một chất gọi là salicin và ba năm sau một hóa học gia người Pháp đã thành công khi tìm ra một chất dưới dạng thuần túy. Năm 1839, một hóa học gia khác người Ý đã lấy salycilic acid  từ chất salicin và từ đó chất chính của aspirin được lấy ra từ cây liễu và cây dâu dê.Ngày nay chất này được tổng hợp, dùng phương pháp không khác nhiều lắm với phương pháp mà Herman Kolbe đã tìm ra tại Strasbourg vào năm 1874.
 
Mãi đến năm 1971 các nhà nghiên cứu ở Anh mới tìm ra tại sao aspirin lại công hiệu như vậy. Prostaglandins, một nhóm như kích thích tố tìm thấy ở hầu hết các mô bào của cơ thể có vẻ như làm tăng sự nhạy cảm của đoạn cuối dây thần kinh tại nơi bị viêm và aspirin dường như có liên hệ tới công dụng của các chất này.
 
Sau này aspirin trở thành một phần của các chất được biết với tác dụng chống viêm mà ngày nay bao gồm cả các dược phẩm mới tìm ra là ibuprofen. Đến năm 1980, aspirin bị paracetamol qua mặt. Paracetamol  được dùng lần đầu vào năm 1893 như một chất giảm đau rất bình dân của mọi người.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
David Khayat là một bác sĩ chuyên khoa về ung thư nhiều kinh nghiệm. Ông là trưởng khoa ung thư tại bệnh viện Pitié –Salpétrière Paris từ năm 1990,đồng thời cũng là giáo sư về ung thư tại Université Pierre et Marie Curie (Paris VI). Ông còn là professeur adjoint tại Centre médical MD Anderson Houston (Texas). David Khayat là bác sĩ riêng của nhiều yếu nhân nặng ký chẳng hạn như vợ chồng cựu TT Chirac, nhà điện ảnh Roger Vadim, nhà điêu khắc César, v.v...
Ngành y tế của các quốc gia kỹ nghệ nói chung đang đối đầu thường xuyên với tình trạng cần phải gia tăng ngân sách y tế một cách liên tục. Để giải thích, các nhà khoa học cho biết rằng, có thể có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, chẳng hạn như sự kiện tuổi thọ càng ngày càng cao hơn xưa, cho nên bệnh tật cũng phải nhiều hơn...
Thống kê cho biết có trên 70% người dân Canadien đã sử dụng ít nhất một loại thuốc thiên nhiên nào đó.
Cá tôm và đồ biển là nguồn thực phẩm rất quý báu của con người. Ngoài chất đạm ra, thủy sản còn cung cấp cho chúng ta các chất khoáng (calcium, phosphorus) và vitamins (vitamin A và D). Chất béo oméga-3 rất tốt cho sức khỏe, thấy hiện diện trong mỡ cá đặc biệt là trong các loại cá vùng nước lạnh, chẳng hạn như mackerel, salmon, herring, tuna… Thông thường cá chỉ được ăn chín mà thôi, tuy vậy cũng có người thích dùng cá sống, thí dụ như hai món Sushi và Sashimi của Nhật Bản.
Mùa hè, bà con mình tại hải ngoại thường có thói quen hay tổ chức nướng thịt ngoài trời, ngoài sân để ăn nhậu vui vẻ với gia đình hoặc với bạn bè. Tây Mỹ gọi là tiệc Barbecue hay BBQ. Ngộ độc thực phẩm đôi khi cũng có thể xảy ra sau buổi tiệc. Nhẹ thì ói mửa, đau bụng, bị tào tháo rượt chạy có cờ, còn nặng thì tiêu chảy có máu, có thể kéo theo suy thận sau đó và nếu trị không kịp và không đúng cách thì sẽ đi luôn. Khoa học gọi đây là bệnh Hamburger.
Đây là một chứng rối loạn nhân cách rất phức tạp để chỉ những người có vấn đề về hình ảnh của chính họ Ngày nay, những nười mang chứng ái kỷ lệch lạc có mặt mọi khắp mọi nơi. Họ ghét cay ghét đắng cái hình ảnh tồi tàn mà họ đang có. Để tồn tại họ tìm cách chuyển nó qua người khác. Họ có thể là một người bạn, một đồng nghiệp trong sở, một người trong đoàn thể, hội ái hữu, một người trong gia đình, là chồng hay vợ của chính bạn. Đặc tính chung: Để che lấp cái tồi tàn của chính bản thân, họ có khuynh hướng hạ thấp người khác xuống, áp đặt, sai khiến, bóp nắn người ta theo như ý họ.
“Tôi bảo nó học đàn dương cầm. Nó quyết định theo học khóa guitare. Tôi ghi cho nó khóa thể dục thẩm mỹ nhưng nó lại chuộng môn bóng chuyền (volley ball)” Đây là nỗi lòng của một bà mẹ nói về cô gái cưng 18 tuổi. Một tình huống mà cha mẹ của giới teen thường hay gặp phải: “ Con gái tôi bằng mọi cách làm ngược lại ý tôi.” Theo nhà tâm lý học Gonzaque Masquelier, giám đốc trung tâm Ecole parisienne de gestalt - thérapie (EPG) thì thái độ trên phù hợp với giai đoạn phát triển cá nhân. Đó là giai đoạn “chống lại sự lệ thuộc”(contre dépendance). Giai đoạn trung gian này giúp vượt qua tánh lệ thuộc đặc trưng nơi các cháu nhỏ, để sau đó chuyển qua giai đoạn độc lập (indépendance) của tuổi trưởng thành.
Đây là chuyện tập đoàn kỹ nghệ thực phẩm Hoa kỳ đã dùng thế lực đồng tiền, các cuộc vận động hành lang (lobby), và bàn tay lông lá của họ để mua chuộc và hối lộ một số nhà lãnh đạo cao cấp hầu nắm giữ những chức vụ then chốt trong chánh phủ để tạo những hậu thuẩn thuận lợi cho kỹ nghệ thực phẩm. Họ không ngớt tung ra những lối quảng cáo vô cùng khoa học và rất hấp dẫn nhằm rù quến tập thể người tiêu thụ về những loại sản phẩm mới. Họ tập cho chúng ta có những thói quen ăn uống mới để phù hợp và thích ứng với sự tiến hóa của xã hội ngày nay. Nói tóm lại họ muốn chúng ta cứ việc nhắm mắt ăn đi, uống đi, càng nhiều càng tốt, nhưng đừng bao giờ thắc mắc đến việc sản phẩm được sản xuất như thế nào cũng như đừng quan tâm đến khía cạnh vệ sinh và sự trong lành của sản phẩm. Tất cả đều được cơ quan FDA “áp pru” mà!
Trong sáu phương pháp mà tác giả trình bày dưới đây, ngoài chuyên môn về dinh dưỡng và thể thao thì việc thiền và châm cứu có nguồn gốc từ phương Đông và đã có lịch sử hàng ngàn năm. Việc thiền định trong Phật giáo là một phương pháp căn bản để thanh tịnh tâm, phát triển trí huệ. Thiền định là pháp tu quan trọng trong nhà Phật, vốn có nhiều trường phái khác nhau và phương pháp hành trì khác nhau như thiền minh sát, thiền Bắc tông… Thiền, ngoài ý nghĩa tôn giáo, tâm linh, ngày nay các nhà khoa học, bác sĩ phương Tây úng dụng thiền để chữa trị bệnh tâm lý cho người và cả thân bệnh. Bài viết này trình bày rõ ràng lợi ích của việc ứng dụng thiền. Thiền làm giảm sự xung động của thân, xoa dịu căng thẳng, tăng lưu thông máu lên não, cân bằng giao cảm và phó giao cảm…
Nhiều nhà chuyên môn đã tìm cách giúp người dân Mỹ chuẩn bị đời sống tinh thần vững vàng để vượt qua mùa đại dịch. Tiến Sĩ Giáo Dục Bạch Xuân Khỏe là một trong số này. Thực ra, Tiến Sĩ Khỏe không xa lạ đối với cộng đồng giáo dục California. Là một giáo viên trung học tại Sacramento, trước đây anh đã từng có những buổi huấn luyện cho các giáo viên thuộc các học khu California về chủ đề ứng dụng thực tập Chánh Niệm (Mindfulness) tại các trường học, giúp học sinh tăng cường khả năng học tập, và có sức khỏe tâm lý vững vàng hơn. Trong mùa dịch COVID-19, những buổi hướng dẫn của anh đã được thực hiện theo dạng trực tuyến trên mạng. Đại Học Stanford và The California Teachers Association (CTA) đã phối hợp tổ chức hai buổi webinar: vào ngày 21 tháng 04 có chủ đề “Mindfulness and Self-Care for Educators in the Time of Pandemic”, và ngày 5 tháng 5 có chủ đề “The Science of Mindfulness and Self-Care”. Hai diễn giả là Tiến Sĩ Bạch Xuân Phẻ và Jason Dilg- Giám Đốc Điều Hành của tổ chức Be Mindfu


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.