Hôm nay,  

Danh tác

03/11/202300:00:00(Xem: 2631)

Logo cho fb
 
Tôi đến Pháp non ba mươi năm trước do lời mời của một người bạn. Anh ta cũng là họa sĩ. Như hầu hết các đồng nghiệp cùng chủng tộc, không mấy người sống bằng nghề cầm cọ, họ phải có một việc làm nào đó, tuy phụ nhưng lại là chính, nuôi thân, lo cho gia đình, vợ con. Ngày mới vào Đại học Mỹ thuật, như tất cả những người chọn hội họa làm hướng tiến thân, bạn tôi nuôi nhiều tham vọng. Ra trường sẽ sáng tác, sẽ triển lãm, sẽ bán được tranh, báo chí sẽ ngợi khen, vừa có tiếng vừa được miếng. Thế nhưng ba năm miệt mài vẽ, triển lãm, chả ma nào thèm để ý, tranh bán không ai mua, đã đành, truyền thông cũng ngoảnh mặt, có chăng chỉ vài ba dòng thông tin. Chấm hết! Vợ càm ràm: “Vẽ với vời! Tìm nghề khác mà làm cho được việc, chả lẽ suốt đời đi trên mây, mai mốt còn con cái.” Gẫm cho cùng vợ nói không sai. Bạn tôi rửa cọ, dẹp sơn đi xin việc. Nhờ tấm bằng Đại học, anh ta được một tờ báo lá cải nhận, nhiệm vụ của bạn tôi là giao dịch với các cơ sở thương mại, thiết kế những mẫu quảng cáo sao cho hấp dẫn. Từ một họa sĩ đầy tham vọng trở thành một anh chuyên viên tiếp thị cho các chợ, tiệm phở, bún bò, bánh cuốn… Buồn thối ruột, nhưng dù sao cũng còn hơn loay hoay với cọ sơn, khung bố, chẳng những chả đẻ ra cắc nào, còn mang tiếng ăn bám vợ! Job mới tuy thu nhập không cao song ổn định. Hoài bão xưa dần phai. Bạn tôi chỉ vẽ vào những lúc rảnh rỗi hoặc ban đêm. Năm mười năm, với vài đồng nghiệp cùng cảnh ngộ, chạy đến các tòa báo xin mượn được hoặc thuê phòng họp với giá tượng trưng hai ngày cuối tuần tổ chức triển lãm. Một hình thức hoài nhớ dĩ vãng, vỗ về mộng ước một thời đã bị áo cơm vùi giập! Khách xem lèo tèo, phần đông là bạn bè hoặc đồng hương, vài tờ báo tiếng Việt ngợi ca vớ vẩn.     
   
Thảm!
   
“Tủi lắm!” Anh bạn than.
   
“Vậy bỏ quách, vẽ làm gì nữa.”
   
Toi bỏ được không?”
   
Anh bạn hỏi lại. Tôi ú ớ. Quả thực đã bao nhiêu lần tôi “chừa!” nhất quyết không dan díu gì nữa với cái nghiệp bạc bẽo này, thậm chí đã có lần tặng tất cả sơn cọ, giá vẽ… cho một người bạn trẻ mới chập chững vào nghề. Nhưng rồi thời gian sau, không lâu, tôi lại sắm sửa màu, cọ, dụng cụ. Tôi nhớ mùi sơn, nhớ cảm giác thích thú khi tình cờ bắt gặp một gam màu lạ, nhớ nhiều giờ, nhiều ngày vật lộn với hình khối, đường ngang nét dọc trên khung bố. Mệt bở hơi tai song ngây ngất như say thuốc!
   
Văn học, nghệ thuật tựa ma túy, đã lỡ hệ lụy là trở thành con nghiện, khó dứt bỏ. Nếu bỏ được thì cũng sẽ tái phạm nếu có điều kiện.
   
Thú đau thương? Phải, thú đau thương!
   
Hơn một tuần anh bạn hướng dẫn tôi tham quan nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều địa điểm lừng danh như tháp Eiffel, viện bảo tàng Louvre. Nước Pháp là quốc gia có nền văn hóa cao. Nhiều tác phẩm văn học không những nổi tiếng đối với dân tộc Pháp, mà còn ảnh hưởng không nhỏ ở nhiều đất nước khác. Trong lĩnh vực nghệ thuật, không ai không biết đến viện bảo tàng Louvre, lớn nhất thế giới, nơi qui tụ hàng nghìn danh tác, từ hội họa đến điêu khắc, từ cổ điển đến hiện đại. Muốn thưởng lãm mọi tác phẩm nghệ thuật đang được trưng bày (chưa kể còn vô số danh tác khác tồn kho, sẽ thay đổi luân phiền), chí ít cũng mất vài ngày.
   
Đứng trước bức tranh của Leonardo da Vinci vẽ nàng Mona Lisa, anh bạn hỏi tôi:
    
Toi thấy thế nào?” 
   
“Đẹp, dĩ nhiên, nhưng người ta đã ngợi khen thái quá, Leonardo da Vinci là một thiên tài trong nhiều lĩnh vực, hội họa, kiến trúc, giải phẩu cơ thể, những ý tưởng phát minh đi trước thời đại hàng vài thế kỷ… Song nếu không có những râu ria này góp phần, chưa chắc tác phẩm được săm soi, tụng ca như đã. Nhiều, rất nhiều họa phẩm đẹp và nghệ thuật không kém chúng ta vừa xem của không ít họa sĩ khác, có ai được ưu ái như ông này?”
   
Lùi ra xa ngắm kỹ bức tranh rồi tôi tiếp tục bày tỏ quan điểm:
   
“Moi
 đã đọc những bài khảo luận phân tích cặn kẽ ánh mắt, nụ cười mím chi quyến rũ, khóe môi, bàn tay, hậu cảnh, nếp áo của chân dung người mẫu, thậm chí người ta còn dùng X- quang xem bên dưới nàng kiều nữ này là mặt gỗ “trinh nguyên” hay đã có một bức tranh khác mà vì lý do nào đó, chưa vừa ý chả hạn, bị Da Vinci vẽ chồng lên. Chưa kể, người ta đã cất công tìm hiểu đời tư, chồng con người mẫu. Ngót sáu trăm năm, không biết bao giấy mực, nếu gom lại, không chừng chất đầy một xe tải cỡ lớn. Đúng là vẽ rắn thêm chân!”
   
Anh bạn cười:
   
“Vẽ rắn thêm chân, càng vui chứ sao.”
   
“Có lẽ toi nói đúng, chả lẽ con người chỉ loay hoay trong trong vòng ăn ngủ… thường tình? Vẽ rắn thêm chân, hiểu cách nào đó, là món ăn tinh thần làm phong phú tâm hồn.”
   
Chúng tôi sang phòng khác, nơi này trưng bày nhiều tranh kích thước lớn, thuộc thời kỳ sau Da Vincvi không lâu. Đứng trước một tác phẩm hoành tráng, dễ chừng hai mét chiều ngang, vẽ cảnh dạ vũ chốn cung đình, Anh bạn trầm trồ:
   
“Nhìn kìa, kỳ công chưa?”
   
Kỳ công thực, Hàng trăm nhân vật với y phục cầu kỳ, các mệnh phụ váy dạ vũ lướt thướt, nón đội đầu rộng vành, quai lụa thả rông, điểm xuyết vài bông hoa. Nam giới áo đuôi tôm, tóc giả chải bới công phu, đang cùng nhau thi thố tài năng nhảy nhót trong căn phòng rộng, trần cao, hai dàn đèn lớn tỏa ánh sáng lung linh, ở mỗi góc phòng là bệ tượng lớn tạc mỹ nữ khỏa thân hoặc nam nhân, cũng khỏa thân, đẹp mã.
   
Anh bạn tiếp:
   
“Để hoàn tất tác phẩm, hẳn họa sĩ tốn không ít thời gian tỉa tót hàng ngàn chi tiết. Moi đồ rằng những vị này chả làm gì khác ngoài vẽ.”
   
“Đúng vậy, giới quý tộc và quan lại thường chu cấp mọi nhu cầu vật chất, họ chỉ chụyên tâm vẽ.”
   
“Mấy tay này sướng thật.”
   
“Mỗi thời đại, cái đẹp được đánh giá bằng nhãn quan phù hợp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố tương tác. Ngày nay chúng ta ngắm nhìn những tác phẩm này, đẹp, tất nhiên, không ai hồ đồ phủ nhận, song nếu bảo các họa sĩ tiếp tục vẽ như thế, có lẽ đại đa số lắc đầu.”
   
Anh bạn tán đồng, vừa trả lời tôi đồng thời khẳng định đường hướng mình đang theo đuổi:
   
Moi đồng ý. Thời điểm ấy vẽ thế không lạ, nhưng bây giờ vẫn vẽ thế thì có khác nào đang giậm chân tại chỗ!”
   
Anh bạn cho rằng hội họa cũng giống mọi bộ môn khác, tiến hóa là yêu cầu tất yếu. Tại sao phải kỳ công tỉa tót từng đừng ren, từng nếp gấp y phục, từng nút thắt dây giày, từng gù tua mũ lộng lẫy, từng cành nhánh, lá hoa, từng vòng xoắn hoa văn trên gờ mái lâu đài, v.v… khi đã có caméra và đao cụ, cùng kỹ thuật tân kỳ làm công việc này. Góc nhìn, ánh sáng, trang phục, màu sắc sẽ lạ hơn, đẹp hơn nếu nghệ sĩ có khả năng sáng tạo cao. Đồng ý tác phẩm nghệ thuật là sao chép hiện thực, nhưng ngày nay người ta nhìn hiện thực không như trước, hình ảnh được thấy, qua nhãn giới và tư duy của họa sĩ không còn “như thật” mà mọi tác phẩm cổ điển đã làm. Nói cách khác, hội họa không ngừng tìm kiếm những hướng đi mới, khai mở những vẻ đẹp khác. Để thực hiện công việc này, các trường phái lần lượt khai sinh: biểu hiện, dã thú, lập thể, trừu tượng, hậu hiên đại… Họa sĩ cận đại, đương đại đã đang và sẽ khai phá, dấn thân.
   
Chúng tôi đi và xem cả ngày, thế mà vẫn chưa hết một phần ba tác phẩm đang được trưng bày. Khi ra về, ngang qua hành lang trên cao, người bạn chỉ mái vòm bằng kính hình Kim Tự Tháp bên ngoài dãy tường thấp chói trong nắng, nói:
   
“Đã một thời, báo chí, truyền thông, dư luận tranh cãi rùm beng công trình kiến trúc kia.”
   
Tôi nói:
   
Moi cũng biết chuyện này.”
   
“Đồng thuận thì ít, đại đa số đều phản bác. Người ta cho rằng công trình mang tính hiện đại kia không phù hợp với cảnh quan cổ điển chung. Chả khác gì trống đánh xuôi kèn thổi ngược. Ví von kiểu Việt Nam, tựa anh nông dân áo bà ba quần đùi lại đi diện veston bảnh chọe!”
   
Moi thấy có sao đâu, đẹp chứ.”
   
Moi cũng nghĩ thế. Một phần nó như điểm nhấn trong tranh, giữa màu lạnh chủ đạo có một vệt màu nóng đâu đó, làm sinh động, gây chú ý và bất ngờ ở người xem. Một phần do quen mắt.”
   
Trời ngả sang chiều, nắng xô ngã bóng râm tòa bảo tàng phủ gần trọn đại lộ tấp nập xe cộ. Nhìn những chiếc xe chuyển dịch chậm như rùa, Lâm nghĩ, thảo nào đất nước này phương tiện giao thông công cộng rất phổ biến và tiện lợi. Vô số tuyến métro ngang dọc dưới lòng đất, đưa mọi người đến mọi ngóc ngách xa gần. Tôi cũng quen biết một người bạn vong niên, lính thợ thời Pháp thuộc, định cư ở đây trên bảy mươi năm, vẫn dùng métro mỗi khi muốn đến đâu, không có xe hơi, không biết lái xe. Tôi ngạc nhiên:
   
“Sao thế?”
   
Ông bạn vong niên cười, nụ cười móm mém, dù tuổi tác không quá cao, có lẽ vì vài chiếc răng cửa đi vắng. Chả hiểu không có tiền làm răng giả hay bản tính lười nhác, bất cần:
   
Moi thuộc giai cấp khố rách áo ôm, ở chung cư, garage tập thể, bọn con nít “rệp” ( tiếng lóng, bỉ thử, ám chỉ dân ngụ cư gốc Ả Rập) rất mất dạy, chúng sẽ rạch ngang vạch dọc không chừa bất cứ xe nào, của ai, vô phúc hiện diện trong địa phận công cộng ấy. Thêm nữa, ra đường tìm parking khó như ngậm ngải tìm trầm, cảnh bò tới de lui năm ba trăm mét tìm một chỗ đậu bên vỉa hè là chuyện bình thường. Còn nạn kẹt xe nữa chứ, cuốc bộ có khi còn nhanh hơn. Sắm xe làm gì thêm phiền. Métro vừa rẻ vừa tiện, muốn đến bất cứ nơi nào cũng được.”
   
Paris và nhiều thành phố khác của Pháp, vấn nạn giao thông là chuyện đau đầu vô phương giải quyết. Chẳng cứ gì ông bạn già của tôi, ngoại trừ những người có thu nhập cao, có nhà riêng, sắm xe hơi làm phương tiện di chuyển, còn thì hầu hết đều đi métro, họ không sắm xe chả phải mua không nổi, chỉ vì như ông bạn nói, lợi bất cập hại, rất phiền.
 
– Khánh Trường
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong tác phẩm Giông Tố của Vũ Trọng Phụng ấn hành năm 1936. Nhân vật chính trong tác phẩm nầy Nghị Hách, đại tư sản giàu có. “Năm trăm mẫu đồn điền trong tỉnh nhà, có mỏ than ở Quảng Yên, ba chục nóc nhà Tây ở Hà Nội, bốn chục nóc nữa ở Hải Phòng. Cái ấp của hắn đồ sộ nhất tỉnh, đến dinh quan công sứ cũng không bằng” (Giông Tố). Trên đường đến làng quê thăm ruộng lúa, trong lúc chờ người sửa chữa cái xe bị hỏng, hắn nhìn thấy cô gái quê xinh đẹp tên Thị Mịch... Thèm nhỏ dãi nên làm ra chuyện “ép liễu nài hoa”!
Quê nội tôi nằm bên cạnh sông Thu Bồn, dòng họ Tộc Trần có 5 phái nên con cháu rất đông, ở dọc theo tả và hữu ngạn sông Thu Bồn, từ Quốc Lộ I, cầu Cao Lâu chạy dài theo hướng Đông xuống các làng ở phía Nam thành phố Hội An. Tên gọi xã Điện Phương hiện nay qua những lần thay đổi thuộc quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ranh giới xã Điện Phương ở phía Tây thành phố Hội An, phía Bắc giáp Tỉnh Lộ 608 (Vĩnh Điện - Hội An), phía Đông của Quốc Lộ 1 (cạnh cầu Cao Lâu) và phía Nam giáp sông Thu Bồn). Điện Phương vẫn giữ tên các làng cũ như Thanh Chiêm, Phước Kiều, Phú Chiêm, Kim Bồng (thời gian thuộc xã Cẩm Kim)... Theo dòng lịch sử thì những làng nầy được hình thành mấy trăm năm về trước thời Nguyễn Hoàng, trong đó có di dân từ Thanh Hóa. Vài làng nơi nầy nổi tiếng nghề đúc đồng từ thời vua Tự Đức. Nghề bánh tráng và mì Quảng nổi tiếng từ xa xưa…
Hầu hết các nước trên thế giới đều sử dụng tiếng lóng ra đời từ rất lâu, thường được lưu truyền trong dân gian. Đó là khẩu ngữ, phương ngữ trong cách giao tiếp bằng loại ngôn ngữ riêng được áp dụng trong nhóm người, địa phương và cả trong cộng đồng… Các loại tiếng lóng thường được lưu truyền thời gian trong xã hội. Xấu hay tốt còn tùy thuộc vào đối tượng sử dụng với nội dung, ý nghĩa muốn truyền đạt là gì. Trong sinh hoạt cuộc sống, mỗi nhóm vay mượn có tiếng lóng riêng giao tiếp hằng ngày…
Một anh bạn học cũ, gốc dân Quảng Ngãi (*), mới lãnh lương dạy kèm mấy giờ Anh ngữ, có nhã ý mời tôi đi ăn một món đặc sản quê anh. Ngại cho túi tiền eo hẹp của bạn, tôi từ chối thì anh nói ngay “Rẻ thôi mà!”. Cái quán xập xệ nằm ở đầu đường Bình Giả, Tân Bình. Chị chủ quán có vẻ trầm lặng, khép kín, không đon đả chuyện trò với khách, nhưng quán của chị khá gây ấn tượng là mấy chữ “Don Quảng Ngãi” được ghi dõng dạc, to nét trên tấm bảng lớn treo trước quán. Rồi hầu như để cho đồng bộ, bên trong quán lại có thêm hai cái bảng khác quảng cáo “Bia Dung Quất – Bia Quảng”. Và, rõ ràng là khiêm tốn hơn, một tấm bảng khác nữa ghi mấy chữ “Cháo gà, vịt – Tiết canh – Hủ tíu”, nét nhỏ hơn nhiều so với chữ “Don Quảng Ngãi”
Trước đây tôi đã viết bài phiếm Cao Nhơn, Nhơn Trị từ thành ngữ “Cao nhân tất hữu cao nhân trị” ghi vài nhân vật ngày xưa kiến thức rộng, giỏi văn chương nên tự phụ “mục hạ vô nhân” nhưng người xưa cho rằng “Nhất sơn hoàn hữu nhất sơn cao” (Núi cao còn có núi cao hơn) để nói về con người suy ngẫm. Vì vậy chuyện “sửa lưng” nói nôm na nhẹ nhàng hơn “phản pháo, đá giò lái” giữa hai nhân vật qua lời nói hay hành động. Người xưa sửa lưng không những chỉ người có quyền thế sửa lưng người thất thế mà ngược lại…
Trong cuộc sống của chúng ta cũng thường gặp phải bao chuyện xảy ra họa (rủi ro) và phúc (may mắn). Khi có người bị họa thì lấy thành ngữ “Tái ông thất mã” nghĩa Hán Việt: Tái là “cửa ải”, Ông là “ông lão, ông già”, Tái ông là “ông già sống gần biên ải” ám chỉ khi người gặp họa trước thì may mắn được phúc sau. Thông thường thì thành ngữ nầy chí với tự bản thân để an ủi. Trong Tự Điển Hán Nôm thì phúc và phước viết giống nhau. Theo cách gọi miền Bắc là phúc, Trung và Nam là phước. Với phước, họa thì khôn lường được. Câu nói Lưu Hướng trong Thuyết Uyển “Phúc bất trùng chí, họa tất trùng lai”, phúc chỉ may mắn một lần, họa thì liên miên. Hay “Phúc vô song chí, họa bất đơn hành”.
“Vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm. Vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm”: Khi không có người chỉ huy, kẻ xấu làm bậy. “Gà tức nhau vì tiếng gáy”: Tính ganh đua, đố kỵ, không chịu kém người khác. “Chó cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng”: Cậy thế ỷ lại, bắt nạt người khác. “Khôn ngoan đối đáp người ngoài. Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”: Khuyên bản thân có bản lãnh thì ra ngoài xã hội, anh chị em trong nhà nên đoàn kết, gắn bó với nhau cùng nghĩa tương tự như “Gà nhà lại bới bếp nhà”: Chê cùng phe cánh lại phá hoại lẫn nhau. “Gà què ăn quẩn cối xay”: Chê những người không có ý chí. “Học như gà đá vách”: Chê những người học kém. “Lép bép như gà mổ tép”: Chê người ngồi lê mách lẻo. “Lờ đờ như gà ban hôm”: Quáng gà, chê người chậm chạp, không hoạt bát
Câu nói để đời của TT Nguyễn Văn Thiệu: “Làm kẻ thù của Mỹ thì dễ, làm bạn với Mỹ thì rất khó”. Làm kẻ thù với Mỹ chỉ trực tiếp đối đầu còn làm bạn với Mỹ phải chấp nhận yêu sách, quyền lợi của Mỹ… nếu không sẽ bị “đá giò lái, đâm sau lưng” và có lúc bị bán đứng đất nước!
Tuổi 18 có thực sự là ngưỡng cửa của trưởng thành? Không ai lớn lên giống ai, và hành trình trưởng thành cũng chẳng thể đo đếm bằng một con số. Hầu hết chúng ta đều quen thuộc với cột mốc 18 tuổi – độ tuổi mà luật pháp nhiều nơi, bao gồm Hoa Kỳ, công nhận một cá nhân chính thức bước vào tuổi trưởng thành và phải chịu trách nhiệm hình sự như người lớn. Thế nhưng, câu chuyện không chỉ dừng lại ở đó.
Tình hình thế giới hình như đang rối lung tung, náo loạn như từ khi tổng thống Mỹ nhậm chức nhiệm kỳ II. Ông ở ngôi mới được hơn 100 ngày chút xíu, mà nhiều rắc rối quá, đối ngoại thì như mỗi ngày ông đưa ra những quyết định trừng phạt thế giới về kinh tế và thương mại bằng cách tăng thuế vào các hàng hóa của bất kỳ quốc gia nào nhập khẩu và Hoa Kỳ từ 10 đế 50% và hơn thế nữa.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.