Hôm nay,  

Tri túc

02/01/202600:00:00(Xem: 1462)

tri-túc-
 
Hồi còn nhỏ, tôi nhớ có đọc một câu chuyện, hình như trong mục truyện vui cười của báo Thiếu Nhi. Đại khái là có một ông nhà giàu, thấy một anh chàng trai trẻ đang nằm nghỉ thảnh thơi trên bãi biển. Ông nhà giàu hỏi sao không lên tàu ra khơi đánh cá. Chàng trai hỏi:

-          Để làm gì?
-          Để có tiền.
-          Có tiền để làm gì?
-          Để mua một con tàu đánh cá cho riêng mình.
-          Để làm gì?
-          Để kiếm nhiều tiền hơn, sau này về già có thể sống thảnh thơi.
-          Thì tôi đang sống thảnh thơi ngay lúc này rồi, đâu có cần làm chi cho cực?
 
Câu chuyện này còn đăng ở nhiều tờ báo khác, đa phần đều nằm trong mục truyện tiếu lâm.
 
Sau này ngẫm nghĩ lại, tôi tự hỏi tại sao câu chuyện này lại được xếp vào mục chuyện vui cười. Nó có thể là một đề tài tranh luận nghiêm túc về một phong cách sống, một triết lý sống có từ xa xưa: tri túc. Đại ý là khi nào mình cảm thấy nhu cầu là đủ thì nó đã đủ rồi, không cần tìm thêm nữa. Tri túc, tiện túc, hà thời túc.
 
Bản thân tôi cũng từng trải qua một câu chuyện tương tự. Hồi trẻ đi làm cho một công ty xây dựng của một thằng bạn học. D. là giám đốc, còn tôi là nhân viên bán hàng. Thấy cuối tuần tôi hay đi làm các công tác từ thiện, D. nói “…Tao mà như mày sẽ dành thì giờ để kiếm tiền. Thêm vài chục năm năm nữa, tao sẽ có thật nhiều tiền, lúc về già sẽ làm từ thiện cho đáng!...” Bạn có phần đúng. Điều này cũng giải thích phần nào tại sao bạn thì làm giám đốc, còn tôi chỉ là nhân viên. Tôi còn nói với D. rằng việc điều hành một công ty tạo ra công ăn việc làm cho 100 người còn có lợi ích cho xã hội hơn làm từ thiện nhiều. Xã hội rất cần có những người có khả năng lãnh đạo như D.
 
Có một vài người thân làm tôi suy nghĩ nhiều về phong cách sống tri túc. Trong xóm lao động có ông Tư làm nghề đạp xe ba bánh chở hàng, nên có tên là Ông Tư Ba Bánh. Gia đình ông nghèo lắm, nhưng lúc nào thấy ông cũng vui, ít khi thấy ông lo lắng. Mỗi sáng chở hàng cho mấy chị bán hàng ra ngoài chợ, chiều chở về, đủ sống qua ngày, nuôi con ăn học. Ngày nào kiếm “đủ sở hụi” là ông về nhà sớm, có ai kêu chạy thêm cũng không nhận. Rồi đến một buổi sáng sớm, Ông Tư chở hàng xong, ngừng xe ba bánh để đi tiểu ở gốc cây bên lề đường, thì một tên lưu manh lên xe đạp đi mất, ông già nên không đuổi kịp, mà đường lúc đó vắng người nên chẳng ai giúp. Ông đành đi bộ về nhà. Con hỏi xe đâu, ông nói “mất rồi!”. Cũng không thấy ông tỏ vẻ quá buồn phiền. Ông nằm nhà một lát, rồi lấy phấn vẽ lên tường nguệch ngoạc mấy chữ: “Hảo sự bất như vô”. Ông giải thích với con theo cách suy diễn của mình về câu ngạn ngữ này: ở đời, điều tốt cũng không bằng không có gì… Hàng xóm thấy thương tình, gom tiền cho ông mượn mua một chiếc xe ba bánh khác cũ hơn để làm phương tiện kiếm sống. Ông sống bình thản trong cảnh nghèo cho đến ngày nhắm mắt ra đi…
 
Anh Hai Lộc trước 1975 từng là đại diện cho Bộ Dân Vận Chiêu Hồi ở Vùng Bốn. Sau ngày Miền Nam thất thủ, anh đi tù cải tạo ba năm. Khi trở về nhà được bà chị đi xuất cảnh sang Pháp để lại cơ ngơi là một cửa hàng bán thuốc tây tại nhà. Vào thời đó, đây là một kiểu kinh doanh nhỏ, không chính thức nhưng kiếm tiền rất khá. Nhưng anh không thích ngồi nhà cả ngày bán thuốc tây để làm giàu. Lúc nào thấy “đủ sở hụi” là anh chạy đi chơi, tổ chức hội họp bạn bè hát hò, văn nghệ, đi đánh mạt chược. Một trong những cuốn truyện mà anh rất thích là “Cuộc Đời Và Kinh Nghiệm Của Alexis Zorba” của nhà văn Hy Lạp Nikos Kazantzakis. Nhân vật chính sống hết mình, sống tự do không chạy theo những giá trị chung của xã hội như giàu sang, danh vọng. Anh Hai Lộc cho rằng đây là một lối sống “thiền”, và anh cũng thế, cho nên không bao giờ giàu tiền bạc. Nhưng nhiều bạn bè nói anh là một trong những người biết cách sống trọn vẹn, và sống giàu tình nghĩa với mọi người nhất.
 
Bố tôi là nhà văn, nhà giáo, trước 1975 sống cuộc đời thanh đạm của một ông bố đi dạy để nuôi tám đứa con. Sau 1975 đi tù hai lần đều liên quan đến tội “biệt kích cầm bút”. Đi tù về, trải qua bao gian khổ, ông càng trân quí với những gì mình đang có hơn. Trong một “câu chuyện đầu năm” nhân một buổi họp mặt đêm giao thừa truyền thống hằng năm, ông tặng cho con cháu một phương châm sống của năm: “Hãy sống giản dị và làm lành”. Thực ra ông sống với phương châm đó cả đời. Đa số những người quen biết không quí ông vì tài viết văn hay dạy học, mà là vì phong cách sống an nhiên tự tại.
 
Trong Phật Giáo, tri túc là quan điểm xem mọi cảm thọ đều bắt nguồn từ cái tâm. Một người sống hạnh phúc hay khổ đau là do cách nhìn những gì xảy ra với mình. Cũng cùng một sự việc, có người thấy đau khổ, có người cảm thấy lạc quan. Hạnh phúc đến từ trong tâm chứ không phải từ bên ngoài. Người Tây Phương cũng có quan niệm tương tự qua khái niệm “nửa ly nước.” Nhìn ly nước còn một nửa, có người than: “Buồn quá! Tôi chỉ còn nửa ly nước!”; nhưng cũng có người mừng: “Vui thật! Tôi có đến nửa ly nước!”
 
Trong đời sống hàng ngày, nhiều người sống tri túc một cách tự nhiên, không lý luận. Khi gặp khó khăn, họ cho đó là cơ hội để rèn luyện khả năng chịu đựng nghịch cảnh. Thấy mình gặp chuyện không may, họ nghĩ đến những hoàn cảnh khốn khó hơn mình đang xảy ra chung quanh. Dù không giàu để ăn sang, mặc đẹp, nhưng vẫn cảm thấy mình may mắn hơn những kẻ hành khất không nhà. Thấy người hành khất mù thì cảm ơn đời vì mình vẫn còn đôi mắt sáng. Nhiều người theo Đạo Phật tin vào nhân quả, khi gặp bất hạnh thì cho rằng mình đang trả quả báo cho những điều mình đã từng làm; trả hết nghiệp rồi thì sẽ bớt khổ. Không xét đến đúng sai, những người lạc quan như vậy dễ có được hạnh phúc trong đời sống.
 
Vua Trần nhân tông, Sơ Tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử có một bài thơ thiền nổi tiếng “Cư Trần Lạc Đạo”. Bản dịch của Hòa Thượng Thích Thanh Từ:
Ở đời vui đạo hãy tùy duyên
Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm
Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền
 
Bài thơ có ý nghĩa thiền thâm sâu, hướng đến sự nhận ra Phật Tánh có sẵn tự tâm của mỗi người. Nhưng nếu hiểu theo ý nghĩa đơn giản của từ ngữ, bài thơ cũng hàm ý tri túc như một cách sống hữu ích cho người tu. Đơn giản hóa nhu cầu đời sống để có cái tâm buông xả. Bản thân mình đã có đủ những thứ để có được an lạc, chẳng cần đi tìm cầu ở bên ngoài.
 
Không phải ai cũng thích lối sống kiểu tri túc. Có người cho rằng những người sống tri túc là an phận, dễ dãi, không cầu tiến, do đó khó thăng tiến trong sự nghiệp, khó thành công ngoài xã hội. Điều này cũng đúng. Những người sống tri túc có lẽ cũng cần học cách sống trung đạo để không bị rơi vào lối suy nghĩ dễ dãi, sống buông trôi không cố gắng. Người xưa có câu “tận nhân lực, tri thiên mệnh”, cố gắng làm hết sức mình rồi mới vui với những gì mình đang có. Nói thì dễ, làm thì khó. Làm thế nào để biết là mình đã làm hết sức mình? Đâu là giới hạn khả năng của một con người? Một câu hỏi khó, câu trả lời có lẽ tùy thuộc vào mỗi cá nhân. Vua Trần Nhân Tông từng khoác chiến bào lãnh đạo dân quân nhà Trần đánh bại quân Mông Cổ hùng mạnh, sau đó mới khoác áo nhà tu sống đời thanh tịnh trên núi Yên Tử. Ngài là một tấm gương cho lối sống thấy việc cần làm thì làm, sau đó lại trở về với vô sự.
 
Sống tri túc không chỉ có được an lạc cho bản thân. Một người khi cảm thấy mình đã đầy đủ sẽ dễ chia sẻ với người khác hơn. Điều này cũng dễ hiểu. Khi chưa thấy đã kiếm đủ tiền bạc, tài sản, làm sao ta có thể giúp đỡ vật chất cho người khác? Mà sự cho đi không chỉ giới hạn ở của cải. Do không còn mong cầu, người tri túc dễ có được sự bình an, dễ cảm thấy hạnh phúc, nhờ vậy mà có thể đem lại bình an cho người khác. Làm sao ta có thể cho người khác cái mà ta không có?
 
Tôi có biết một nhóm Phật tử trẻ thường đi giúp vui cho các vị cao niên sống trong viện dưỡng lão. Các bác không thiếu ăn, thiếu mặc, nhưng cô đơn. Mỗi lần nhóm bạn trẻ đến, các bác vui lắm. Khi trả lời đúng một câu hỏi trong chương trình đố vui, khi cùng hát chung một số bài hát quen thuộc thời trai trẻ, những gương mặt tuổi già cười vui rạng ngời. Cũng có khi là những giọt nước mắt vì hạnh phúc.
 
Tôi có một người bạn trung học tên C. bị chứng bệnh Alzheimer kết hợp với Parkinson từ khi tuổi đời chưa đến 60, phải nằm liệt giường gần 5 năm ở San Diego trước khi qua đời. Nhóm bạn cùng lớp ở California quyết định đi thăm C. một tháng một lần. Gia đình kể mỗi lần biết có bạn sắp đến chơi, C. mong lắm, ngủ sớm từ tối hôm trước để hôm sau tỉnh táo gặp bạn bè. Sáng ra C. nói với con rằng “Hôm nay các bác đến chơi với ba…” Có lần có thêm các bạn từ tiểu bang khác, từ Việt Nam sang chơi, lên đến gần 10 bạn. Những lần như vậy C. vui lắm. Nằm trên giường, cho dù đã quên chuyện đời thường khá nhiều, C. huyên thuyên cười nói, nhắc lại những kỷ niệm thời đi học. Vợ C. nói ít khi thấy chồng mình hạnh phúc đến như vậy.
 
Khi mang lại niềm vui cho những người có hoàn cảnh khó khăn, có người không thấy mình đang làm phước, mà cảm thấy chính mình có được hạnh phúc. Khi biết cách cho, người cho còn hạnh phúc hơn người nhận.
 
Trong một bài giảng, Thầy Phước Tịnh có kể một câu chuyện thú vị về cuộc đối thoại giữa một vị hoàng đế và một người ăn mày. Vị hoàng đế dù có nhiều tiền của nhưng vẫn không sẵn lòng giúp đỡ bố thí cho người khác vì thấy bao nhiêu tài sản cũng là chưa đủ. Hoàng đế dù có địa vị quyền lực cao nhất nhưng vẫn thiếu thốn hạnh phúc, thiếu tình yêu thương đích thực, cho nên vẫn phải đi tìm người giúp mang lại sự bình an cho tâm hồn. Ngược lại, những người dù nghèo của cải vật chất nhưng nhờ biết đủ vẫn sẵn sàng chia sẻ những gì mình có cho những người thiếu thốn hơn. Người nghèo vẫn có thể giàu lòng từ bi nhờ tâm vô cầu. Chỉ cần tâm thấy vui với những gì đang có, thì hạnh phúc liền có mặt trong giây phút hiện tiền, họ sẵn sàng chia sẻ hạnh phúc với những người chung quanh. Làm hoàng đế, hay làm ăn mày, cũng chỉ do cái tâm mà ra…
 
Xin mời nghe bài thiền ca Hoàng Đế Và Ăn Mày, viết theo tinh thần lời giảng của Thầy Thích Phước Tịnh:
 
ĐK: Ta không cho những gì lòng ta mong cầu
Ta không cho những gì lòng còn khát khao
 
Một người ăn mày ái tình
Đi đến thế nhân cố xin tình thân
Một người đi tìm hạnh phúc
Nơi sang nơi giầu mà chẳng thấy đâu
 
ĐK: Ta không cho những gì lòng ta mong cầu
Ta không cho những gì lòng còn khát khao
 
Rồi người không còn si tình
Bố thí nhân gian với tâm từ bi
Rồi người không cần danh tướng
Nhìn ra vô thường người thành đế vương
Hoàng đế cần chi sang giầu
Hoàng đế nhờ tâm vô cầu
 
Doãn Hưng
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội Cựu Sinh Viên Trường Võ Bị West Point loan báo sẽ không tổ chức lễ vinh danh diễn viên Tom Hanks, người được chọn là khôi nguyên giải thưởng danh giá Sylvanus Thayer năm nay, theo NPR News. Buổi lễ, vốn dự trù ngày 25 tháng 9 với diễn hành và tiệc chính thức, bị hủy bỏ, nhưng Hanks vẫn được trao giải. Lý do không được công bố.
Chính quyền Tổng Tống Donald Trump đang mở rộng chiến dịch trấn áp nhập cư sang mạng lưới chăm sóc sức khỏe, tiến hành điều tra chi tiêu Medicaid tại ít nhất sáu tiểu bang do Đảng Dân Chủ lãnh đạo. Đây là những tiểu bang cung cấp bảo hiểm y tế đầy đủ cho người nhập cư không giấy tờ, nghèo và khuyết tật sống tại Hoa Kỳ.
Có lẽ ngày xưa các bậc sinh thành nên đặt tên tôi là Măng mới hợp với lẽ trời. Tôi khoái măng một cách kỳ lạ trong khi thằng con trai tôi lại ghét thậm tệ. Không biết có phải loại hình cha ăn mặn con khát nước không. Măng làm cách chi tôi cũng thích dù chỉ là thứ măng ngâm trong hũ bán đầy chợ. Nhưng món tôi hẩu nhất là món bún măng vịt. Nghe nhà hàng nào có bún măng vịt là tôi tìm tới, như tìm tới nhà người thương. Bún măng vịt với đĩa gỏi thịt vịt nằm xếp lớp trên lớp rau bên cạnh chén nước mắm gừng trông cứ như là Bá Nha của đôi mắt Tử Kỳ là tôi.
Hãy thử kiểm tra lại ký ức của bạn xem. Trong bộ phim kinh điển The Empire Strikes Back, Darth Vader đã nói gì với Luke Skywalker? Bộ sách thiếu nhi về gia đình nhà gấu có tựa đề là Berenstain Bears hay Berenstein Bears? Và trên logo của thương hiệu phô mai Con Bò Cười, liệu con bò có đeo khuyên mũi? Nếu câu trả lời của bạn là “Luke, ta là cha của con,” “Berenstein,” và “Có,” thì xin chia buồn, ký ức đã đánh lừa bạn. Darth Vader thực chất chưa bao giờ nói câu đó; tên của gia đình gấu luôn được viết là “Berenstain”; và con bò trên logo phô mai nổi tiếng chưa từng đeo khuyên mũi.
Giữa lúc tỷ lệ sinh sản (birth rates) tại Hoa Kỳ và nhiều quốc gia trên thế giới liên tục sụt giảm, từ giới công nghệ ở Thung lũng Silicon đến các viên chức tại Tòa Bạch Ốc đều đồng loạt lên tiếng cảnh báo rằng dân số giảm nhanh có thể gây ra những tác động nghiêm trọng cho nền kinh tế. Chính quyền Trump từng tuyên bố đang tìm kiếm các biện pháp để khuyến khích người dân sinh con đẻ cái, nhất là khi tổng sinh suất (Total Fertility Rate, TFR) hiện đã giảm tới 25% so với năm 2007 – xuống mức thấp nhất lịch sử. Tuy nhiên, theo các nhà nhân khẩu học chuyên nghiên cứu về sinh sản, đời sống gia đình và khuynh hướng sinh con: dân số sẽ không giảm ngay, cũng không phải chắc chắn sẽ giảm, và nếu có thì cũng không phải là điều bi đát.
Trong một lần tới thăm Hải Học Viện Nha Trang cách đây khoảng vài chục năm, tôi đã thấy một cặp sam sống trong một lồng kính. Phải thú nhận là tôi rất ngạc nhiên. Chúng dính vào nhau, một con trên một con dưới. “Dính như sam” thì tôi thuộc nằm lòng nhưng không ngờ chúng dính cứng như vậy. Dò hỏi nhân viên của Viện, tôi được cho biết hai con dính vào nhau như vậy suốt ngày đêm. Con đực kính thước chỉ nhỏ bằng nửa con cái luôn nằm dính trên lưng con cái. Cứ như mẹ cõng con đi chơi. Thân nam nhi mà coi bộ lép vế. Đeo dính sát sạt như vậy ngày đêm thì teo tắt là cái chắc. Vết đôi chân con đực bám vào hằn rõ trên mai con cái. Cùng sống chết với nhau như vậy nên ngư dân thường bắt được cả cặp. Nếu chỉ bắt được một con, gọi là sam độc, họ thả trở lại biển. Chẳng phải nhân nghĩa chi nhưng vì họ không bán được cho người ta làm thịt. Thực khách luôn mua làm thịt cả cặp, ăn một con họ tin rằng sẽ bị độc. Vậy sam sống cùng sống, chết cùng chết, lúc nào cũng dính nhau. Như…sam!
Tôi có một người bạn viết lách văn nghệ. Chị cho rằng mình có chút tài nghệ, đủ để khi cần móc túi lấy ra xài. Chị không viết đều. Chỉ viết khi thích – đôi khi chị viết gửi vài tạp chí mạng, có khi chỉ viết để đó, không gửi ai. Chị sống trên căn gác nhỏ, gọi đó là "giang sơn sáng tác" của riêng mình. Mỗi ngày chị dậy lúc gần trưa, pha ly cà phê nguội, rồi mở máy tính. Có bài chị viết ngay sau ngụm cà-phê đầu tiên – vài chục phút là xong – gửi đi ngay rồi gập máy, đi ngủ tiếp. Có bài để ba năm hôm, không sửa gì cả, gửi đi như vậy. Tôi hỏi: “Sao không đọc lại?” Chị nhún vai: Lúc viết là thật nhất. Sửa nhiều, mất hồn. Tôi hỏi tiếp: Không sợ thiếu sót? Chị cười, lấy ngón tay chỉ lên bức thư pháp trên tường:“Tri túc giả phú” (Biết đủ là đủ).
Trong tác phẩm Giông Tố của Vũ Trọng Phụng ấn hành năm 1936. Nhân vật chính trong tác phẩm nầy Nghị Hách, đại tư sản giàu có. “Năm trăm mẫu đồn điền trong tỉnh nhà, có mỏ than ở Quảng Yên, ba chục nóc nhà Tây ở Hà Nội, bốn chục nóc nữa ở Hải Phòng. Cái ấp của hắn đồ sộ nhất tỉnh, đến dinh quan công sứ cũng không bằng” (Giông Tố). Trên đường đến làng quê thăm ruộng lúa, trong lúc chờ người sửa chữa cái xe bị hỏng, hắn nhìn thấy cô gái quê xinh đẹp tên Thị Mịch... Thèm nhỏ dãi nên làm ra chuyện “ép liễu nài hoa”!
Quê nội tôi nằm bên cạnh sông Thu Bồn, dòng họ Tộc Trần có 5 phái nên con cháu rất đông, ở dọc theo tả và hữu ngạn sông Thu Bồn, từ Quốc Lộ I, cầu Cao Lâu chạy dài theo hướng Đông xuống các làng ở phía Nam thành phố Hội An. Tên gọi xã Điện Phương hiện nay qua những lần thay đổi thuộc quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ranh giới xã Điện Phương ở phía Tây thành phố Hội An, phía Bắc giáp Tỉnh Lộ 608 (Vĩnh Điện - Hội An), phía Đông của Quốc Lộ 1 (cạnh cầu Cao Lâu) và phía Nam giáp sông Thu Bồn). Điện Phương vẫn giữ tên các làng cũ như Thanh Chiêm, Phước Kiều, Phú Chiêm, Kim Bồng (thời gian thuộc xã Cẩm Kim)... Theo dòng lịch sử thì những làng nầy được hình thành mấy trăm năm về trước thời Nguyễn Hoàng, trong đó có di dân từ Thanh Hóa. Vài làng nơi nầy nổi tiếng nghề đúc đồng từ thời vua Tự Đức. Nghề bánh tráng và mì Quảng nổi tiếng từ xa xưa…
Hầu hết các nước trên thế giới đều sử dụng tiếng lóng ra đời từ rất lâu, thường được lưu truyền trong dân gian. Đó là khẩu ngữ, phương ngữ trong cách giao tiếp bằng loại ngôn ngữ riêng được áp dụng trong nhóm người, địa phương và cả trong cộng đồng… Các loại tiếng lóng thường được lưu truyền thời gian trong xã hội. Xấu hay tốt còn tùy thuộc vào đối tượng sử dụng với nội dung, ý nghĩa muốn truyền đạt là gì. Trong sinh hoạt cuộc sống, mỗi nhóm vay mượn có tiếng lóng riêng giao tiếp hằng ngày…
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.