Hôm nay,  

Kích Thích Và Bảo Hộ

05/02/200900:00:00(Xem: 6708)

Kích thích và Bảo hộ

Nguyễn Xuân Nghĩa & RFA
...e ngại là ngoại thương thế giới đang suy sụp sẽ còn suy sụp hơn nữa...
Kế hoạch kích thích kinh tế Hoa Kỳ đang gây tranh luận trong dư luận và chính giới Mỹ. Từ bên ngoài, một số quốc gia lại e là nhân việc cấp cứu kinh tế, Hoa Kỳ có thể đưa ra nhiều biện pháp có tính chất bảo hộ mậu dịch và gây ra trận chiến về ngoại thương khi kinh tế toàn cầu đang suy trầm. Diễn đàn Kinh tế đài RFA tìm hiểu vấn đề qua cuộc trao đổi cùng nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa, do Việt Long thực hiện sau đây.
Hỏi: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Kinh tế Hoa Kỳ bị suy trầm từ hơn một năm nay nên Chính quyền của Tổng thống Barack Obama đã vận động một kế hoạch kích thích kinh tế.
Trong tiến trình đó của một xứ dân chủ, mà chúng ta có phân tích vào tuần trước, Hạ viện Mỹ vừa biểu quyết đạo luật kích thích kinh tế vào hôm 30.
Giữa các cuộc tranh luận về kế hoạch kích thích của Mỹ, nhiều quốc gia đã nêu vấn đề về phản ứng bảo hộ mậu dịch của Hoa Kỳ vào một thời điểm nguy ngập của kinh tế toàn cầu, như là đài chúng tôi đã đưa tin hôm Thứ Ba, về biện pháp gọi là “Buy American measures” mà Hạ viện đưa vào dự luật kích thích kinh tế đang được đưa lên Thượng Viện. 
Vậy nên chúng tôi đề nghị là ta sẽ tập trung tìm hiểu về khía cạnh bảo hộ đó trong chương trình kỳ này. Để mở đầu, xin đề nghị ông tóm lược bối cảnh của việc soạn thảo ra kế hoạch kích thích này.
- Thưa ông, ngày mùng tám tháng Giêng, Tổng thống tân cử Barack Obama đã lần đầu công bố một vài chi tiết về kế hoạch kích thích kinh tế mà ông mong là sẽ sớm ban hành sau khi nhậm chức vào ngày 20. Sau đó, Hạ viện Hoa Kỳ đã khai triển và bổ xung kế hoạch với nhiều chương trình cụ thể trình bày trong một văn kiện 647 trang. Hôm 30 vừa qua, Hạ viện đã biểu quyết đạo luật thi hành kế hoạch ấy, gọi tắt là Đạo luật H.R. 1. Điều đáng chú ý là toàn thể 177 dân biểu Cộng Hoà và 11 dân biểu Dân Chủ đã bỏ phiếu chống vì rất nhiều lý do mà ta khỏi nói ở đây.
Hỏi: Đó là về phần Hạ viện, còn vai trò của Thượng viện ra sao trong tiến trình này"
- Tuần này, đến lượt các Nghị sĩ tại Thượng viện thảo luận về đạo luật kích thích kinh tế của họ với nhiều chi tiết bổ xung khác và kết quả có thể còn lớn hơn kế hoạch trị giá 819 tỷ của Hạ viện, có khi lên tới 888 tỷ hay gần 900 tỷ Mỹ kim. Sau khi được biểu quyết, văn kiện của hai viện của Quốc hội Mỹ mới kết hợp làm một, chuyển qua Hành pháp để Tổng thống Obama thẩm xét và ban hành nếu ông đồng ý. Nếu không đồng ý, ông có quyền phủ quyết và yêu cầu Quốc hội nghiên cứu lại. Xin nói thêm là các thủ tục và tranh luận sôi nổi đang xảy ra trước sự chứng kiến của công chúng, thị trường và truyền thông. Trước các khó khăn chồng chất, ông Obama chuẩn bị chiến dịch thuyết phục dân chúng tác động vào các đại diện dân cử ngõ hầu Quốc hội sớm hoàn tất kế hoạch cấp thiết, cấp bách và thiết thực, cho yêu cầu cứu nguy kinh tế hiện nay.
- Thế rồi Đạo luật H.R. 1 lại có vài điều khoản do đảng Dân Chủ đề ra trong mục đích bảo vệ kỹ nghệ, việc làm và lương bổng của công nhân Hoa Kỳ. Các nước bên ngoài chú ý đến mấy chi tiết ấy mà họ cho là có nội dung bảo hộ mậu dịch và đã lập tức lên tiếng phản đối.
Hỏi: Bây giờ, xin ông trình bày cho biết các điều khoản gây tranh luận này.
- Trước hết, Dân biểu Dân Chủ Peter Visclosky của tiểu bang Indiana đưa ra một tu chính án được Ủy ban Chuần chi Hạ viện gài vào đạo luật kích thích kinh tế thành điều khoản tạm gọi là "Mua hàng Mỹ". Điều khoản này đòi hỏi là mọi loại sắt và thép trong các dự án xây dựng hay tu bổ hạ tầng của kế hoạch kích thích kinh tế phải là sản phẩm được sản xuất tại Mỹ, trừ phi là quá đắt. Mục đích là để bảo vệ kỹ nghệ thép Mỹ, một khu vực thu dụng chừng 150 ngàn công nhân.
- Kế hoạch kích thích kinh tế của Hạ viện cũng cho áp dụng một đạo luật ban hành từ năm 1931, gọi là Davis-Bacon Act, theo đó các nhà thầu thực hiện công tác cho cơ quan liên bang phải trả lương công nhân ít ra là bằng giá biểu hiện hành, mà do bộ Lao động tính ra. Quyết định có mục đích nâng đỡ công nhân này thực tế là can thiệp vào thị trường lao động và có thể gây ra lệch lạc về giá cả và lương bổng. Đồng thời, kế hoạch kích thích kinh tế cũng chuẩn chi 600 triệu đô la mua công xa và tất nhiên sẽ phải là xe hơi của các doanh nghiệp Mỹ đang bị đe dọa phá sản.
- Ngoài ra, dù không đưa vào đạo luật kích thích kinh tế, Hạ viện trong tay đảng Dân Chủ cũng trù tính mở rộng việc bắt buộc mua hàng Mỹ khi trang bị đồng phục cho hơn 100.000 nhân viên bộ Nội an hoặc thiết kế chương trình điện toán hoá hồ sơ y tế trong một dự án trị giá 20 tỷ đô la.
Hỏi: Hạ viện Hoa Kỳ đề ra các điều kiện ấy để bảo vệ hàng hoá và việc làm của dân chúng Mỹ. Vì sao lại có sự chống đối trong dư luận và nhất là từ các nước khác ở bên ngoài" 
- Vì một điều tôi xin gọi là "quy luật đầu đời của kinh tế học". Đó là "kết quả của mọi quyết định kinh tế phải được thẩm định một cách toàn diện và lâu dài". "Toàn diện" là phải đếm ra điều lợi cho một thành phần này và điều hại cho các thành phần khác hầu cân nhắc lợi hại và tránh được cái hại toàn bộ chỉ vì mối lợi cục bộ. Thẩm định trong "lâu dài" là nhìn ra cái hại cho ngày mai, cho trường kỳ, chìm trong mối lợi cho hiện tại. Dư luận bên trong có sự chống đối vì lợi bất cập hại.


- Một cách cụ thể thì các quyết định trên của Hạ viện Mỹ nhắm vào việc bảo vệ - vì đem lại mối lợi cho - một thành phần dân chúng, ở đây là công nhân viên trong ngành thép hoặc là các doanh nghiệp Mỹ, nhưng lại gây thiệt hại lập tức hay sau này cho thành phần khác cũng của Mỹ.
- Thí dụ như khi thép của Mỹ được bảo vệ thì doanh nghiệp thép khỏi bị cạnh tranh nên không cải tiến và càng suy sụp thêm trong lâu dài. Trước mắt thì các ngành sử dụng thép phải mua thép Mỹ có thể đắt hơn thép nhập khẩu từ xứ khác và bán hàng đắt hơn nên bị mất lợi tức và có khi phải sa thải nhân viên. Năm 2002, Tổng thống Bush đã từng có quyết định bảo vệ ngành thép của Mỹ với hậu quả mà giới kinh tế đã tính ra là 200 ngàn người bị mất việc oan chỉ để gìn giữ việc làm cho hơn 100 ngàn công nhân của ngành thép. Vì vậy mà quyết định này bị bãi bỏ.
Hỏi: Đó là chuyện lợi và hại trong nội bộ thị trường Hoa Kỳ. Vì sao các quốc gia khác bên ngoài nước Mỹ cũng phản đối quyết định này"
- Nhìn ra ngoài nước Mỹ, tức là nhìn theo cách toàn diện trong khung cảnh toàn cầu hóa, các biện pháp trên bảo vệ một số doanh nghiệp hay công nhân Mỹ khiến họ có thế mạnh trong cạnh tranh quốc tế. Nhưng, vì điều mà thế giới bên ngoài gọi là "cạnh tranh bất chính" ấy, các biện pháp ấy lại gây họa cho nhiều doanh nghiệp khác của Mỹ.
- Thí dụ như hãng General Electrics chuyên sản xuất đồ gia dụng bằng sắt thép hay hãng Caterpillar hoặc John Deer chuyên ráp chế máy ủi, máy cầy, họ phải mua thép đắt hơn ở bên trong nếu liên hệ đến các dự án thuộc diện kích thích kinh tế của Hạ viện. Khi xuất khẩu sản phẩm ra ngoài, họ bị các thị trường khác trừng phạt, tẩy chay và bị thiệt hại thêm một lần nữa. Vì vậy, điều khoản chỉ mua hàng Mỹ có được một số doanh nghiệp thép ủng hộ lại bị nhiều doanh nghiệp khác chống đối.
- Cũng thế, chủ trương can thiệp vào thang lương bổng trong các hợp đồng cung cấp cho khu vực nhà nước được các công đoàn ủng hộ nhưng gây thiệt hại cho công nhân ngoài nghiệp đoàn, hoặc việc chỉ mua xe Mỹ hoặc tranh phục Mỹ để cứu giúp kỹ nghệ Hoa Kỳ mặc nhiên tạo ra sự cạnh tranh bất chính với các loại xe hơi hay đồng phục mà xứ khác sản xuất và cung cấp.
Hỏi: Cho đến nay, các nước khác đã phản ứng ra sao với đạo luật của Hạ viện Hoa Kỳ"
- Ngay sau khi Hạ viện biểu quyết đạo luật kích thích này thì lãnh đạo nhiều quốc gia khác đang dự thượng đỉnh kinh tế tại Davos lập tức phản đối. Sau đấy, các quốc gia như Canada, Liên bang Nga hay Trung Quốc và nhất là Anh, Đức, Pháp và cả Liên hiệp Âu châu đều than phiền là Mỹ thoái lui về chế độ bảo hộ mậu dịch nên họ e sợ làn sóng trả đũa của các nước khác khiến chiến tranh ngoại thương có thể bùng nổ giữa cơn suy trầm kinh tế.
- Ta không quên rằng Thượng đỉnh Kinh tế của nhóm G-20, do Tổng thống Bush triệu tập hồi trung tuần tháng 11 tại thủ đô Hoa Kỳ, đã tuyên bố là dù có phải đối mặt với khủng hoảng tài chính và suy trầm kinh tế thì cũng không nên có phản ứng bảo hộ mậu dịch và còn kêu gọi phải cấp tốc khởi động vòng đàm phán Doha của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, bị bế tắc từ tháng 10 năm 2001 cho đến nay. Dư luận bên ngoài cho rằng đạo luật chỉ mua hàng Mỹ ngày nay cũng tương tự như các quyết định tai hại của thời khủng hoảng 1929-1933, khiến tổng khủng hoảng lan rộng và kéo dài.
Hỏi: Liệu biện pháp trên của Hạ viện có phản ánh quan điểm của Tổng thông Barack Obama hay không" Nói cách khác liệu ông Obama có thể khuyên giải đảng Dân Chủ để thu hồi các điều khoản trên không"
- Nhiều người mong như vậy, nhất là khi Tổng thống Obama đã chọn Thị trưởng thành phố Dallas là Ronald Kirk làm Đại diện về Ngoại thương và hôm Thứ Ba vừa chỉ định lại Nghị sĩ Cộng Hòa Judd Gregg làm Bộ trưởng Thương mại. Hai nhân vật này đều có xu hướng phát huy tự do mậu dịch hơn là bảo hộ mậu dịch.
- Tuy nhiên, nhiều người vẫn cho rằng ngay từ khi tranh cử và cho tới sau này, Tổng thống Obama vẫn nói đến yêu cầu bảo vệ công việc làm cho dân Mỹ và trong cuộc điều trần trước Thượng viện để được phê chuẩn làm Ngoại trưởng vào ngày 13 tháng trước, Nghị sĩ Hillary Clinton cũng nêu ý kiến là sẽ phải thương thuyết lại Hiệp định Thương mại Tự do mà Hoa Kỳ đã ký kết với Nam Hàn. Ngoài ra, nhiều hiệp định khác đã ký kết mà vẫn chưa được Thượng viện Mỹ phê chuẩn vì sức ép rất nặng của phe bảo hộ mậu dịch.
- Nói chung, đảng Dân Chủ ngày nay có tinh thần bảo hộ mậu dịch mạnh nhất kể từ nhiều thập niên và ông Obama không che giấu lập trường tương tự nên các nước khác đều e ngại là ngoại thương thế giới đang suy sụp sẽ còn suy sụp hơn nữa.
Hỏi: Câu hỏi cuối, thưa ông, tình hình rồi sẽ ra sao"
- Tôi e rằng Tổ chức Thương mại Thế giới WTO sẽ bị tê liệt và cơ chế quốc tế đa phương đó mà không giải quyết được các mâu thuẫn mậu dịch giữa các nước thì từng nhóm quốc gia hay từng nước sẽ tìm đến các thỏa ước song phương với nhau. Trong hoàn cảnh đó, các nước nghèo và chủ yếu sống nhờ xuất khẩu sẽ gặp thế yếu và bị chèn ép nặng.
- Hoa Kỳ và cả đảng Dân Chủ vẫn có truyền thống bảo vệ tự do thương mại giữa các nước mà nay lại xoay chuyển lập trường như vậy thì đấy là một kịch bản rất đáng sợ. Dù sao, ta cũng cần theo dõi phản ứng của Thượng viện và kết quả sau cùng của chuyện kích thích mà nhiều người thật ra lại không thích.

Có vẻ như ngày Thứ Hai của tuần mới không phải là một “Good Day” cho Tổng thống Trump. Cuộc đàm phán vòng hai với Iran chưa biết sẽ ra sao. Iran vẫn “cứng cựa” không chịu cho Trump cái mà ông ta muốn: chiến thắng. Do đó, ông lại phải mượn Truth Social để tấn công vào những nơi mà ông ta cho là an toàn nhất và “đã” nhất. Bởi vì ít nhất họ cũng chấp nhận im lặng như đã từng trong suốt thời gian qua. Trong hai bài đăng trên mạng xã hội, Trump đã gay gắt chỉ trích các thành viên Đảng Dân Chủ, gọi họ là “TẤT CẢ ĐỀU LÀ KẺ PHẢN BỘI” cũng như giới truyền thông vì những lời phê bình và sự hoài nghi của họ đối với cách ông ta xử lý cuộc chiến tại Iran.
Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.