Hôm nay,  

Kích Thích Và Bảo Hộ

05/02/200900:00:00(Xem: 6509)

Kích thích và Bảo hộ

Nguyễn Xuân Nghĩa & RFA
...e ngại là ngoại thương thế giới đang suy sụp sẽ còn suy sụp hơn nữa...
Kế hoạch kích thích kinh tế Hoa Kỳ đang gây tranh luận trong dư luận và chính giới Mỹ. Từ bên ngoài, một số quốc gia lại e là nhân việc cấp cứu kinh tế, Hoa Kỳ có thể đưa ra nhiều biện pháp có tính chất bảo hộ mậu dịch và gây ra trận chiến về ngoại thương khi kinh tế toàn cầu đang suy trầm. Diễn đàn Kinh tế đài RFA tìm hiểu vấn đề qua cuộc trao đổi cùng nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa, do Việt Long thực hiện sau đây.
Hỏi: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Kinh tế Hoa Kỳ bị suy trầm từ hơn một năm nay nên Chính quyền của Tổng thống Barack Obama đã vận động một kế hoạch kích thích kinh tế.
Trong tiến trình đó của một xứ dân chủ, mà chúng ta có phân tích vào tuần trước, Hạ viện Mỹ vừa biểu quyết đạo luật kích thích kinh tế vào hôm 30.
Giữa các cuộc tranh luận về kế hoạch kích thích của Mỹ, nhiều quốc gia đã nêu vấn đề về phản ứng bảo hộ mậu dịch của Hoa Kỳ vào một thời điểm nguy ngập của kinh tế toàn cầu, như là đài chúng tôi đã đưa tin hôm Thứ Ba, về biện pháp gọi là “Buy American measures” mà Hạ viện đưa vào dự luật kích thích kinh tế đang được đưa lên Thượng Viện. 
Vậy nên chúng tôi đề nghị là ta sẽ tập trung tìm hiểu về khía cạnh bảo hộ đó trong chương trình kỳ này. Để mở đầu, xin đề nghị ông tóm lược bối cảnh của việc soạn thảo ra kế hoạch kích thích này.
- Thưa ông, ngày mùng tám tháng Giêng, Tổng thống tân cử Barack Obama đã lần đầu công bố một vài chi tiết về kế hoạch kích thích kinh tế mà ông mong là sẽ sớm ban hành sau khi nhậm chức vào ngày 20. Sau đó, Hạ viện Hoa Kỳ đã khai triển và bổ xung kế hoạch với nhiều chương trình cụ thể trình bày trong một văn kiện 647 trang. Hôm 30 vừa qua, Hạ viện đã biểu quyết đạo luật thi hành kế hoạch ấy, gọi tắt là Đạo luật H.R. 1. Điều đáng chú ý là toàn thể 177 dân biểu Cộng Hoà và 11 dân biểu Dân Chủ đã bỏ phiếu chống vì rất nhiều lý do mà ta khỏi nói ở đây.
Hỏi: Đó là về phần Hạ viện, còn vai trò của Thượng viện ra sao trong tiến trình này"
- Tuần này, đến lượt các Nghị sĩ tại Thượng viện thảo luận về đạo luật kích thích kinh tế của họ với nhiều chi tiết bổ xung khác và kết quả có thể còn lớn hơn kế hoạch trị giá 819 tỷ của Hạ viện, có khi lên tới 888 tỷ hay gần 900 tỷ Mỹ kim. Sau khi được biểu quyết, văn kiện của hai viện của Quốc hội Mỹ mới kết hợp làm một, chuyển qua Hành pháp để Tổng thống Obama thẩm xét và ban hành nếu ông đồng ý. Nếu không đồng ý, ông có quyền phủ quyết và yêu cầu Quốc hội nghiên cứu lại. Xin nói thêm là các thủ tục và tranh luận sôi nổi đang xảy ra trước sự chứng kiến của công chúng, thị trường và truyền thông. Trước các khó khăn chồng chất, ông Obama chuẩn bị chiến dịch thuyết phục dân chúng tác động vào các đại diện dân cử ngõ hầu Quốc hội sớm hoàn tất kế hoạch cấp thiết, cấp bách và thiết thực, cho yêu cầu cứu nguy kinh tế hiện nay.
- Thế rồi Đạo luật H.R. 1 lại có vài điều khoản do đảng Dân Chủ đề ra trong mục đích bảo vệ kỹ nghệ, việc làm và lương bổng của công nhân Hoa Kỳ. Các nước bên ngoài chú ý đến mấy chi tiết ấy mà họ cho là có nội dung bảo hộ mậu dịch và đã lập tức lên tiếng phản đối.
Hỏi: Bây giờ, xin ông trình bày cho biết các điều khoản gây tranh luận này.
- Trước hết, Dân biểu Dân Chủ Peter Visclosky của tiểu bang Indiana đưa ra một tu chính án được Ủy ban Chuần chi Hạ viện gài vào đạo luật kích thích kinh tế thành điều khoản tạm gọi là "Mua hàng Mỹ". Điều khoản này đòi hỏi là mọi loại sắt và thép trong các dự án xây dựng hay tu bổ hạ tầng của kế hoạch kích thích kinh tế phải là sản phẩm được sản xuất tại Mỹ, trừ phi là quá đắt. Mục đích là để bảo vệ kỹ nghệ thép Mỹ, một khu vực thu dụng chừng 150 ngàn công nhân.
- Kế hoạch kích thích kinh tế của Hạ viện cũng cho áp dụng một đạo luật ban hành từ năm 1931, gọi là Davis-Bacon Act, theo đó các nhà thầu thực hiện công tác cho cơ quan liên bang phải trả lương công nhân ít ra là bằng giá biểu hiện hành, mà do bộ Lao động tính ra. Quyết định có mục đích nâng đỡ công nhân này thực tế là can thiệp vào thị trường lao động và có thể gây ra lệch lạc về giá cả và lương bổng. Đồng thời, kế hoạch kích thích kinh tế cũng chuẩn chi 600 triệu đô la mua công xa và tất nhiên sẽ phải là xe hơi của các doanh nghiệp Mỹ đang bị đe dọa phá sản.
- Ngoài ra, dù không đưa vào đạo luật kích thích kinh tế, Hạ viện trong tay đảng Dân Chủ cũng trù tính mở rộng việc bắt buộc mua hàng Mỹ khi trang bị đồng phục cho hơn 100.000 nhân viên bộ Nội an hoặc thiết kế chương trình điện toán hoá hồ sơ y tế trong một dự án trị giá 20 tỷ đô la.
Hỏi: Hạ viện Hoa Kỳ đề ra các điều kiện ấy để bảo vệ hàng hoá và việc làm của dân chúng Mỹ. Vì sao lại có sự chống đối trong dư luận và nhất là từ các nước khác ở bên ngoài" 
- Vì một điều tôi xin gọi là "quy luật đầu đời của kinh tế học". Đó là "kết quả của mọi quyết định kinh tế phải được thẩm định một cách toàn diện và lâu dài". "Toàn diện" là phải đếm ra điều lợi cho một thành phần này và điều hại cho các thành phần khác hầu cân nhắc lợi hại và tránh được cái hại toàn bộ chỉ vì mối lợi cục bộ. Thẩm định trong "lâu dài" là nhìn ra cái hại cho ngày mai, cho trường kỳ, chìm trong mối lợi cho hiện tại. Dư luận bên trong có sự chống đối vì lợi bất cập hại.


- Một cách cụ thể thì các quyết định trên của Hạ viện Mỹ nhắm vào việc bảo vệ - vì đem lại mối lợi cho - một thành phần dân chúng, ở đây là công nhân viên trong ngành thép hoặc là các doanh nghiệp Mỹ, nhưng lại gây thiệt hại lập tức hay sau này cho thành phần khác cũng của Mỹ.
- Thí dụ như khi thép của Mỹ được bảo vệ thì doanh nghiệp thép khỏi bị cạnh tranh nên không cải tiến và càng suy sụp thêm trong lâu dài. Trước mắt thì các ngành sử dụng thép phải mua thép Mỹ có thể đắt hơn thép nhập khẩu từ xứ khác và bán hàng đắt hơn nên bị mất lợi tức và có khi phải sa thải nhân viên. Năm 2002, Tổng thống Bush đã từng có quyết định bảo vệ ngành thép của Mỹ với hậu quả mà giới kinh tế đã tính ra là 200 ngàn người bị mất việc oan chỉ để gìn giữ việc làm cho hơn 100 ngàn công nhân của ngành thép. Vì vậy mà quyết định này bị bãi bỏ.
Hỏi: Đó là chuyện lợi và hại trong nội bộ thị trường Hoa Kỳ. Vì sao các quốc gia khác bên ngoài nước Mỹ cũng phản đối quyết định này"
- Nhìn ra ngoài nước Mỹ, tức là nhìn theo cách toàn diện trong khung cảnh toàn cầu hóa, các biện pháp trên bảo vệ một số doanh nghiệp hay công nhân Mỹ khiến họ có thế mạnh trong cạnh tranh quốc tế. Nhưng, vì điều mà thế giới bên ngoài gọi là "cạnh tranh bất chính" ấy, các biện pháp ấy lại gây họa cho nhiều doanh nghiệp khác của Mỹ.
- Thí dụ như hãng General Electrics chuyên sản xuất đồ gia dụng bằng sắt thép hay hãng Caterpillar hoặc John Deer chuyên ráp chế máy ủi, máy cầy, họ phải mua thép đắt hơn ở bên trong nếu liên hệ đến các dự án thuộc diện kích thích kinh tế của Hạ viện. Khi xuất khẩu sản phẩm ra ngoài, họ bị các thị trường khác trừng phạt, tẩy chay và bị thiệt hại thêm một lần nữa. Vì vậy, điều khoản chỉ mua hàng Mỹ có được một số doanh nghiệp thép ủng hộ lại bị nhiều doanh nghiệp khác chống đối.
- Cũng thế, chủ trương can thiệp vào thang lương bổng trong các hợp đồng cung cấp cho khu vực nhà nước được các công đoàn ủng hộ nhưng gây thiệt hại cho công nhân ngoài nghiệp đoàn, hoặc việc chỉ mua xe Mỹ hoặc tranh phục Mỹ để cứu giúp kỹ nghệ Hoa Kỳ mặc nhiên tạo ra sự cạnh tranh bất chính với các loại xe hơi hay đồng phục mà xứ khác sản xuất và cung cấp.
Hỏi: Cho đến nay, các nước khác đã phản ứng ra sao với đạo luật của Hạ viện Hoa Kỳ"
- Ngay sau khi Hạ viện biểu quyết đạo luật kích thích này thì lãnh đạo nhiều quốc gia khác đang dự thượng đỉnh kinh tế tại Davos lập tức phản đối. Sau đấy, các quốc gia như Canada, Liên bang Nga hay Trung Quốc và nhất là Anh, Đức, Pháp và cả Liên hiệp Âu châu đều than phiền là Mỹ thoái lui về chế độ bảo hộ mậu dịch nên họ e sợ làn sóng trả đũa của các nước khác khiến chiến tranh ngoại thương có thể bùng nổ giữa cơn suy trầm kinh tế.
- Ta không quên rằng Thượng đỉnh Kinh tế của nhóm G-20, do Tổng thống Bush triệu tập hồi trung tuần tháng 11 tại thủ đô Hoa Kỳ, đã tuyên bố là dù có phải đối mặt với khủng hoảng tài chính và suy trầm kinh tế thì cũng không nên có phản ứng bảo hộ mậu dịch và còn kêu gọi phải cấp tốc khởi động vòng đàm phán Doha của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, bị bế tắc từ tháng 10 năm 2001 cho đến nay. Dư luận bên ngoài cho rằng đạo luật chỉ mua hàng Mỹ ngày nay cũng tương tự như các quyết định tai hại của thời khủng hoảng 1929-1933, khiến tổng khủng hoảng lan rộng và kéo dài.
Hỏi: Liệu biện pháp trên của Hạ viện có phản ánh quan điểm của Tổng thông Barack Obama hay không" Nói cách khác liệu ông Obama có thể khuyên giải đảng Dân Chủ để thu hồi các điều khoản trên không"
- Nhiều người mong như vậy, nhất là khi Tổng thống Obama đã chọn Thị trưởng thành phố Dallas là Ronald Kirk làm Đại diện về Ngoại thương và hôm Thứ Ba vừa chỉ định lại Nghị sĩ Cộng Hòa Judd Gregg làm Bộ trưởng Thương mại. Hai nhân vật này đều có xu hướng phát huy tự do mậu dịch hơn là bảo hộ mậu dịch.
- Tuy nhiên, nhiều người vẫn cho rằng ngay từ khi tranh cử và cho tới sau này, Tổng thống Obama vẫn nói đến yêu cầu bảo vệ công việc làm cho dân Mỹ và trong cuộc điều trần trước Thượng viện để được phê chuẩn làm Ngoại trưởng vào ngày 13 tháng trước, Nghị sĩ Hillary Clinton cũng nêu ý kiến là sẽ phải thương thuyết lại Hiệp định Thương mại Tự do mà Hoa Kỳ đã ký kết với Nam Hàn. Ngoài ra, nhiều hiệp định khác đã ký kết mà vẫn chưa được Thượng viện Mỹ phê chuẩn vì sức ép rất nặng của phe bảo hộ mậu dịch.
- Nói chung, đảng Dân Chủ ngày nay có tinh thần bảo hộ mậu dịch mạnh nhất kể từ nhiều thập niên và ông Obama không che giấu lập trường tương tự nên các nước khác đều e ngại là ngoại thương thế giới đang suy sụp sẽ còn suy sụp hơn nữa.
Hỏi: Câu hỏi cuối, thưa ông, tình hình rồi sẽ ra sao"
- Tôi e rằng Tổ chức Thương mại Thế giới WTO sẽ bị tê liệt và cơ chế quốc tế đa phương đó mà không giải quyết được các mâu thuẫn mậu dịch giữa các nước thì từng nhóm quốc gia hay từng nước sẽ tìm đến các thỏa ước song phương với nhau. Trong hoàn cảnh đó, các nước nghèo và chủ yếu sống nhờ xuất khẩu sẽ gặp thế yếu và bị chèn ép nặng.
- Hoa Kỳ và cả đảng Dân Chủ vẫn có truyền thống bảo vệ tự do thương mại giữa các nước mà nay lại xoay chuyển lập trường như vậy thì đấy là một kịch bản rất đáng sợ. Dù sao, ta cũng cần theo dõi phản ứng của Thượng viện và kết quả sau cùng của chuyện kích thích mà nhiều người thật ra lại không thích.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.