Hôm nay,  

John McCain Đứng Ở Đâu?

02/02/200800:00:00(Xem: 13668)

...Đảng Cộng Hoà sắp tự bắn vào chân…

Sau khi đảng Dân Chủ tự vả vào mồm, với cựu Tổng thống Bill Clinton nhảy vào cuộc để bênh vợ và gián tiếp đem vấn đề màu da vào cuộc tranh cử tổng thống, đến lượt đảng Cộng Hoà đang hăm hở nhắm bắn vào chân mình, qua cuộc tranh luận về lập trường chính trị của Nghị sĩ John McCain, ứng viên sáng giá nhất của đảng - cho tới tuần này.

Nếu đảng Dân chủ mà chọn một ứng cử viên khác hơn là Nghị sĩ John Kerry trong cuộc tranh cử năm 2004, có khi Tổng thống George W. Bush sẽ lại giống thân phụ, là làm Tổng thống chỉ một nhiệm kỳ. Bộ máy tranh cử của John Kerry có quá nhiều nhược điểm và bản thân ông quá nhiều tỳ vết, nên ông là ứng cử viên bết bát nhất.

Đấy là một giả thuyết - một phỏng đoán giả định.

Nhưng, nếu đảng Cộng Hoà không khéo nhoài mình ra ngoài vào năm 2004 đó, chắc chắn là ông Bush đã thất cử. Năm đó, khi Đại hội đảng khai mạc tại New York vào cuối tháng Tám, tính trung bình, ông Bush chỉ dẫn trước John Kerry có 0,4%! Và đảng Cộng Hoà bèn dàn ra tại Đại Hội năm diễn giả dõng dạc ủng hộ ông Bush. Cả năm người đều không thuộc dòng chính lưu của đảng, thậm chí không là đảng viên Cộng Hoà! Mười ngày sau, ông Bush vượt lên gần 8 điểm và tiến mãi cho tới tháng 11.

Nổi bật nhất trong năm diễn giả này là Nghị sĩ Zell Miller của Georgia, nhân vật bảo thủ của đảng Dân chủ, và là người đả kích ứng viên Dân Chủ nặng nhất vì thiếu ý chí bảo vệ an ninh quốc gia. Một diễn giả hùng hồn phát biểu hôm 30 tháng Tám 2004 là đương kim Thị trưởng Michael Bloomberg của New York, nhân vật ôn hoà, gốc từ đảng Dân Chủ. Với đảng viên Cộng Hoà thuần thành, ông là người "đáng nghi" và quả nhiên năm nay đã đứng ra ngoài như một chính khách độc lập. Đã có lúc còn lăm le ra tranh cử tổng thống như lực lượng thứ ba!

Ba diễn giả còn lại mới đáng chú ý hơn nữa.

Đó là nguyên Thị trưởng New York Rudy Giuliani, anh hùng sau vụ khủng bố 9-11 nhưng có lập trường thiên tả về nội chính, rất gần với đảng Dân Chủ về quyền phá thai hay bảo vệ người đồng tính. Kế tiếp là Thống đốc Arnold Schwarzenegger của tiểu bang California, chẳng những là con rể nhà Kennedy mà còn có nhiều sáng kiến rất Californian, cấp tiến, hoảng tiều và… gần với đảng Dân Chủ. Nghĩa là rất khả nghi.

Diễn giả cuối cùng, cựu đối thủ của ông Bush năm 2000 và một quái chiêu của đảng Cộng Hoà, là Nghị sĩ John McCain. Ông là người có lập trường cực kỳ độc lập, sẵn sàng đứng ra ngoài đảng và bắt tay với đảng Dân Chủ trong một số vấn đề nhạy cảm với thành phần bảo thủ truyền thống của Cộng Hoà.

Nếu nhớ lại thì năm 2004 đó, đảng Cộng Hoà đã phải mở rộng thành phần ủng hộ ra vùng biên tế để huy động hậu thuẫn của cử tri độc lập, ôn hoà, cả cả đảng viên Dân Chủ. Và ông Busah tái đắc cử.

Lần này, từ hai cõi Đông và Tây, hai ngôi sao sáng Giuliani và Schwarzengger trong vùng biên tế cùng đứng ra ủng hộ Nghị sĩ McCain, một nhân vật đang bị khuynh hướng bảo thủ nhất trong đảng đánh cho tơi tả sau khi ông thắng lớn trong chặng Florida. (Khi Thống đốc California nhập cuộc, ta phải suy luận là Thị trưởng Bloomberg sẽ không ra tranh cử như một nhân vật độc lập - hai người vốn đồng quan điểm và thường liên lạc với nhau - và có khi McCain sẽ được sự ủng hộ của Bloomberg. Nghĩa là càng khiến phe bảo thủ trong đảng Cộng Hoà nổi đoá.)

Nổi đoá tới độ tự bắn vào chân và sẽ thất cử! Sôi nổi và om xòm nhất là trường hợp của Ann Coulter, nữ bỉnh bút cực hữu, thông minh và đanh đá. Nàng thậm ghét McCain tới độ đòi ra vận động tranh cử cho Hillary Clinton!

John McCain là một anh hùng thời chiến của Mỹ và là nghị sĩ dày dạn kinh nghiệm của một tiểu bang bảo thủ miền Nam, có bà vợ rất đẹp. Năm 1996, đảng Cộng Hoà cũng đưa ra một nhân vật tương tự là Nghị sĩ Bob Dole; khi ông Clinton đọc bài diễn văn tái nhậm chức đầu năm 1997 thì ông Dole đi quảng cáo thuốc Viagra! Đáng lẽ khách hàng đầu tiên của ông đã phải là Bill Clinton, người một có định nghĩa rất linh hoạt về động từ "có quan hệ tình dục" vào năm 1998.

Đảng Cộng Hoà không thể không quên bài học này. Và nên tìm lại một định nghĩa về chữ "bảo thủ". Chúng ta trở lại trường hợp chính, lý lịch của John McCain.

Từ trong ra ngoài, từ dưới lên trên, bảo thủ có thể được định nghĩa khá linh động như sau.

Về kinh tế, bảo thủ là người đề cao quy luật thị trường, chú trọng tới phát triển kinh tế và nâng đỡ giới sản xuất (hơn là bơm tiền cho giới tiêu thụ). Vì triết lý chính trị ấy, họ chủ trương phát triển tự do mậu dịch (ngoại thương), hạn chế sự can thiệp của nhà nước vào thị trường, giản lược bộ máy hành chánh và thuế khoá, cụ thể là bớt kiểm soát và giảm thuế. Từ quan niệm ấy, người ta có thể đi từ trái qua phải, coi chính quyền là vấn đề hơn là giải pháp, hay hạ thuế nhưng phải quân bình ngân sách, tức là có giảm thuế thì cũng phải hạn chế tăng chi để khỏi bị bội chi ngân sách… Nghĩa là bảo thủ về kinh tế cũng có nhiều loại!

John McCain đồng ý giảm thuế như phải hạn chế công chi, nếu không thì đừng giảm! Ông không coi bộ máy nhà nước là vấn đề mà còn cho rằng đôi khi nhà nước phải can thiệp vào thị trường và cả đời sống dân chúng để hạn chế thế lực của các thiểu số khuynh đảo. Về kinh tế đối ngoại, ông chủ trương tự do mậu dịch, trái ngược với lập trường của Hillary Clinton. McCain là người bảo thủ về căn bản, nhưng không cực đoan và với phe bảo thủ thì ông mắc tội thiếu triệt để.

Về xã hội, bảo thủ là người sùng đạo, đề cao luân lý và kỷ cương gia đình nên chống lại mọi chánh sách có hậu quả "đoạt quyền Thượng đế", như nghiên cứu hay khai thác phôi bào, yểm trợ việc sản sinh vô tính. Họ đặc biệt chống phá thai hay hôn nhân giữa người đồng tính và chủ trương đề cử các thẩm phán có lập trường suy diễn hiến pháp và luật lệ theo quan điểm "vô vi", ít can thiệp vào sinh hoạt của xã hội.

Nhưng, cũng về mặt xã hội, họ chủ trương nhà nước không thể hạn chế quyền tự do của công dân như quyền mua súng hay quyền tự do ngôn luận, tự do quyên góp cho hoạt động chính trị. Khi nhà nước can thiệp để giới hạn hôn nhân đồng tính chẳng hạn, thì cũng xâm phạm vào quyền tự do của công dân. Nghĩa là chủ trương bảo thủ về xã hội thực ra cũng có nhiều cách diễn giải khác nhau.

Và McCain hay Giuliani là những người đứng ở sát lề!

Về đối ngoại, bảo thủ là những người quyết liệt bảo vệ quyền lợi và sức mạnh của Hoa Kỳ, nếu cần thì đánh hơn đàm, dụng binh hơn dụng lễ. Và triệt để trừng phạt di dân nhập lậu! McCain là người lãnh huy chương vàng về bảo vệ an ninh, nhưng có tội nặng vì chủ trương nhân nhượng với di dân nhập lậu - y hệt như Tổng thống Bush! Đã thế, còn quyết liệt chống lại những biện pháp nặng tay với đặc công khủng bố - một định nghĩa khác của "tra tấn".

Khi tranh luận về lập trường bảo thủ hay không của McCain, nhiều người trong đảng Cộng Hoà đã lấy Ronald Reagan làm thước đo. Đấy là đơn giản hoá vấn đề. Nếu muốn bới lông tìm vết, ta thấy Reagan cũng có quyết định ân xá di dân nhập lậu năm 1986 - một nguyên do của khủng hoảng thời nay, và tháo chạy khỏi Trung Đông năm 1983 sau khi Thủy quân Lục chiến Mỹ bị khủng bố tại Beirut! Khi cần thiết, không phải là Reagan không biết tăng thuế! Và Ronald Reagan là tổng thống nổi tiếng nhất vì đã vươn ra ngoài để tranh thủ lá phiếu của cử tri ngoài đảng, chẳng khác gì McCain ngày nay.

Ngược lại, George W. Bush mới thực sự làm cho ba khuynh hướng bảo thủ trong đảng Cộng Hoà bị vỡ đôi - thành sáu mảnh! Thành phần bảo thủ về tôn giáo coi là ông đã phản bội họ, thành phần bảo thủ về kinh tế thì không quên thành tích bội chi của ông, thành phần bảo thủ về xã hội giận ông vì đề nghị ân xá di dân - và cho chìm xuồng đề nghị cải tổ chế độ di dân của ông vào năm ngoái. Thành phần bảo thủ về an ninh cho rằng ông đã phạm sai lầm lớn tại Iraq từ 2003 đến 2006, là quan điểm của McCain, người chủ trương là phải cách chức Tổng trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld và dồn quân đánh tới, cho đến chiến thắng thì thôi!

Đáng lẽ McCain đã rơi vào lãng quên từ mùa Thu năm ngoái nếu chiến lược dồn quân của Bush không đem lại kết quả và bà Benazir Bhutto không bị ám sát tại Pakistan.

Tình hình khả quan hơn tại Iraq và những bất trắc tại Pakistan - tiếp giáp với chiến trường Afghanistan của Mỹ - khiến dư luận nhìn lại. Và thấy McCain chẳng những có lý mà còn sẵn sàng hy sinh sự nghiệp chính trị của mình chứ không xoay chuyển lập trường. Trong vụ khủng hoảng tại Pakistan, ông là người duy nhất trên cả chính trường Hoa Kỳ đã dám lên tiếng biện hộ cho Tổng thống Pervez Musharraf! Việc tình báo Pakistan, một hệ thống bị xu hướng Hồi giáo quá khích xâm nhập rất sâu, lại hợp tác với Mỹ để đạt thành tích không nhỏ được thông báo hôm 31 vừa qua là bắn hạ Abu Laith al-Libi - một thủ lãnh al-Qaeda có thể là đứng hạng thứ ba - ngay trong lãnh thổ Pakistan là một yếu tố phụ trội vào tuần này cho thấy viễn kiến của McCain.

Chính là ưu thế quả cảm ấy về đối ngoại của John McCain khiến dân Mỹ nhìn lại. Và đưa ông ra vùng ánh sáng. Nhưng vì nhìn lại, nhiều người mới soi kính hiển vi xem ứng cử viên này bảo thủ cỡ nào, và có xứng đáng là đại diện đảng Cộng Hoà hay chăng.

Sự nghiệp nghị sĩ của McCain được tổ chức bảo thủ American Conservative Union đánh giá là bảo thủ tới 83%. Nhưng nhiều người chỉ chú trọng tới 17% còn lại! Nếu đảng Cộng Hoà không kịp trưởng thành mà nhìn ra khả năng huy động lá phiếu ôn hoà ở ngoài đảng, ưu thế của McCain, Giuliani và Schwarnegger, thì đảng này không đáng lãnh đạo nước Mỹ. Đã đành là sẽ thua tại Quốc hội mà cũng mất luôn Hành pháp.

Tổng thống George W. Bush là người đã phạm nhiều sai lầm nhưng lại không tháo chạy khỏi Iraq và có lẽ ngay từ năm 2005 đã sớm nhìn ra sự thể. Dư luận chỉ nhớ rằng ông đã chểnh mảng khi trận bão lụt Katrina xảy ra muà Thu năm đó. Nhưng vào tuần ấy, ông đã ôm bánh tới mừng sinh nhật Nghị sĩ John McCain! Chính quyền của ông bị thất thế nên cố tránh không gieo họa cho các ứng cử viên Cộng Hoà bằng bất cứ một lời ủng hộ nào, nhưng thật ra, Bush đã chọn lựa.

Nếu đảng Cộng Hoà quá bết thì thà Hillary Clinton thắng cử còn hơn, miễn là đảng Dân chủ vượt qua được trận nội chiến về màu da. Nhưng nay McCain đã trở lại, và đang leo qua rào cản của phe bảo thủ… Biết đâu chừng!

Vì vậy, đảng Dân chủ đang tự xoa má sau khi đã để Bill Clinton tự vả vào miệng, chúng ta có thể bình thản theo dõi trận nội chiến kế tiếp trong đảng Cộng Hoà.

Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.