Hôm nay,  

Như Những Đời Diêm

09/08/201300:00:00(Xem: 6849)
Trần Khải Thanh Thuỷ
(LGT: Thi Văn Hợp Tuyển tựa đề “Ngày Bão Loạn” của nhà thơ Hương Giang đã xuất bản tuần qua. Buổi ra mắt đã thực hiện tại trung tâm ViVo San Jose chiều 8/07/2011. Bài này do nhà văn Trần Khải Thanh Thủy viết với ghi chú “Cảm xúc khi đọc Ngày Bão Loạn của Hương Giang.”

Tìm mua “Ngaỳ Bão Loạn” tại nhà sách Hương Giang (San Jose, CA) ; Tự Lực, Tú Quỳnh (Orange County, CA) hoặc liên lạc trực tiếp với tác giả qua email: [email protected] hoặc qua Tel: 714-854-2010 hỏi chị Thanh Nhàn.)

Sinh ra và lớn lên trong lòng Xã Hội Chủ Nghĩa, cha mẹ sinh con, đảng, đoàn sinh tính. Tôi bị nhồi sọ khá nhiều điều sai lệch về hình ảnh của những người lính Việt Nam Cộng Hoà - Những người theo lối tuyên truyền của Việt Cộng là không có tim óc, cội nguồn, gốc rễ quê hương, chỉ có hận thù, bắn giết. Vì chút bơ thừa, sữa cặn của quân đội Mỹ mà sẵn sàng xả súng vào đồng bào mình, gây bao cảnh tang tóc, đau thương.

Lớn lên, khi miền Nam “giải phóng” tôi tìm vào thăm các bác, các anh, rồi đến lượt các anh, các chị lặn lội ra miền Bắc thăm gia đình tôi, tôi thấy các anh thật hiền lành, tốt bụng, tốt hơn cả những anh bộ đội cụ Hồ, các chiến sĩ giải phóng quân v.v… vốn là hình tượng một thời của giới trẻ miền Bắc chúng tôi… Trong những lần lặn lội đi lại ấy, chính các anh là người đầu tiên mở mắt cho tôi hiểu rõ hơn về con người và phẩm chất của người lính Việt Nam Cộng Hoà, khác hẳn với những gì mà báo chí Cộng sản tuyên truyền.

Tuy vậy phải đến khi đọc “Ngày Bão Loạn” của Hương Giang tôi mới hiểu rõ hơn về chân dung sống động của những người lính Việt Nam Cộng Hoà, càng hiểu điều mà tác giả định truyền tải tới bạn đọc… Giữa không khí yên bình trên mảnh đất tự do, giàu có của xứ sở Hoa Kỳ mà tên tập sách lại là “ Ngày Bão Loạn” hẳn phải có uẩn khúc, duyên cớ gì?

Càng đọc, tôi càng hiểu được nỗi lòng của tác giả, mỗi câu chữ trong những bài chị viết dần dần thấm đẫm đầu óc, gan ruột tôi, tạo thành những cơn bão lòng nặng nề, day dứt, bão từ trong gan ruột bão ra. Các anh - những kháng chiến quân đầu tiên của khu chiến trong chiến dịch Đông Tiến: Sống trên đất Mỹ mà chết lại vùi nơi đất Thái. Những trái tim như ngọc sáng ngời.

Ngay từ những trang đầu trong “vài trích đoạn về Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh” đã làm tôi sững sờ, choáng váng, bất ngờ rên lên những tiếng nói bi thương, oai hùng, cảm kích: “Tôi đang chỉ thị cho hai chiếc Alpha đến kéo chiếc Monitor bị đạn ra thì bỗng thảm hoạ xẩy ra trước mắt. Thuỷ thủ LVN trên chiếc Tango Bạch Hổ vừa trong ụ súng khẩu đại liên 20mm bước ra ngoài, có lẽ không khí trong thành sắt quá hầm. Một tiếng "phụt" vang lên, thây anh ngã vật xuống sàn, cái đầu văng đâu mất tiêu. Trái B41 không biết từ đâu bay tới hớt gọn cái đầu của anh, rồi lướt qua sàn platform, nổ tung giữa sông... Qua ánh đèn pin chiếu xuống sàn tàu hắt lên, tôi giật mình kinh ngạc, nhận ra người đầu tiên nhảy sang tàu tôi chính là Đại Tá Hoàng cơ Minh, Tư Lệnh Lực Lượng Thuỷ Bộ. Ông Minh bước đến xác thuỷ thủ N, lật tấm mền ra, cố ôm cái xác cụt đầu lên, cằm ông bạnh ra như muốn kìm chế nỗi thương tâm người thuộc cấp.

Mọi người lặng đi trong nỗi xúc động tột cùng. Suốt cả đời tôi không bao giờ quên cảnh tượng bi hùng trong giờ phút ấy...”

Còn tôi, không sao vơi nỗi ám ảnh khi đọc trường đoạn đau thương này. Trường đoạn mà tôi đọc đi đọc lại đến thuộc lòng, và một tứ thơ đột nhiên bật ra trong óc:

Vì đâu con chết mẹ ơi?

Đầu văng xuống đất, nụ cười lăn theo

Câu hỏi cũng là câu trả lời. Nếu chỉ vì bản thân, các anh hoàn toàn được yên vị trên đất Mỹ, Nhật Bản hoặc Đan Mạch, bên gia đình, vợ con, sống quãng đời tự do, giàu có nơi xứ người, đâu phải lao đầu vào chốn hiểm nguy, tạo thành những chấm nhỏ trên dòng sông Mê Kông mênh mông, hung dữ, nối với nhau bằng một sợi dây để trở về bên kia bờ quê hương và phải chịu những cái chết rùng rợn như thế?

Bao gian nan bất hạnh, bao sự khắc nghiệt của thiên nhiên, cũng là bấy nhiêu thử thách của lòng người. Giữa rừng già, thiếu ánh mặt trời, thiếu ăn, thiếu mặc, nhưng các anh đã làm đúng bổn phận của người trai thời loạn như lời tâm sự của chiến hữu Hoàng Cơ Minh: “Chúng tôi chỉ muốn tiếp tục làm tròn sứ mạng của một người quân nhân chiến đấu cho tự do của quê hương. Chúng tôi (5000 người di tản sang Phi Luật Tân) cần một chỗ để tiếp tục chiến đấu, cũng là một chỗ để chết cho quê hương”.


Kết cục, người nằm lại giữa dòng sông nước xiết như chiến hữu đoàn trưởng Dương Văn Tư, người nằm lại giữa rừng biên giới Thái Lan vì sốt rét, ngã nước ( Đặng Quốc Hiền…) Người hy sinh dưới bàn tay Việt Cộng (Trần Hướng Việt, Võ Hoàng, Huỳnh Văn Tiến, Phùng Tấn Hiệp v.v…) Người tự sát trên đường di chuyển ra vùng biên giới để không rơi vào tay Cộng sản (Ngô Chí Dũng, Trần Thiện Khải v.v…)

Những cái chết hào hùng của các anh đã để lại trăm ngàn nấm mộ nơi biên giới Nam Lào, Thái Lan, Campuchia, hoặc Việt Nam. Những nấm mộ không người qua lại chăm sóc, song đã lặng lẽ biến thành những quả tim của đất, đập mãi cùng non nước hôm nay.
ngay_bao_loan_san_jose_y_resized
Trong buổi ra mắt sách “Ngaỳ Bão Loạn” ở San Jose.
Chứng kiến sự hy sinh anh dũng của các anh - những người được gọi bằng cái tên vô cùng trìu mến là “kháng chiến quân” tôi không khỏi bàng hoàng, xúc động, câu thơ tôi không chỉ đứng làm khăn trắng, cúi đầu trước di ảnh của các anh trong những ngày bão loạn của đất nước mà còn bùng lên một câu hỏi:

Thù này bao thuở mới nguôi ?

Cây rừng đẫm lệ thương người trẻ trai!

Vâng, các anh đã có những giấc ngủ say vào cõi hư vô, nhưng tinh thần quả cảm, ý chí kiên định thì còn vang vọng trong lòng người dân mãi mãi: “ Sống huy hoàng trong Việt Nam giải phóng. Chết oai hùng để giải phóng Việt Nam”

Những con người mang trong mình lý tưởng dấn thân giữa vùng khu chiến bạt ngàn gió độc, rắn rết, đói ăn, thiếu mặc ấy không bao giờ chết được, mà ngược lại, trĩu trên vai các anh bao sự tích anh hùng. Tiếc rằng trong phạm vi bài viết nhỏ này, tôi không thể nào truyền tải nổi toàn bộ nội dung mà tác giả đã viết. Vì vậy, chỉ có những người nào biết nâng niu tác phẩm “Ngày Bão Loạn” tìm mua và cầm về nhà đọc mới thấu hiểu hết sự tích anh hùng của họ, cũng là nỗi lòng tác giả.

Điều mà tác giả “Ngày Bão Loạn” muốn truyền tải tới bạn đọc đó là: “Trước sứ mệnh thiêng liêng mà lịch sử trao tặng, các anh tự nhận ra giá trị của mình là phải làm một que diêm cháy bùng lên trong đêm trường tăm tối của dân tộc để soi đường cho lớp trẻ hôm nay”. Tính chất đặc biệt của que diêm mà trong cuộc sống đời thường ai cũng biết, đó là chỉ được sống khi đã và đang đi vào cõi chết… Phải âm thầm chịu đựng, nhốt mình trong hộp tối bao ngày để rồi trong một phút giây ngắn ngủi bùng lên, toả sáng cho cộng đồng, người thân, gia đình và xã hội. Ánh sáng chân lý mà các anh mang theo chính là khi chạm vào cái chết( trong giây phút đối đầu với Cộng sản) - Những kẻ mượn chiêu bài giải phóng miền Nam, nhưng lại tàn phá miền Nam.

Con đường Đông Tiến là con đường gian nan nguy hiểm, con đường dẫn tới cái chết...Các kháng chiến quân đã phải trả giá bằng tuổi trẻ đầy sinh lực, đầy tài năng và chính mạng sống quý giá của mình, như những lời tâm sự của chiến hữu Huỳnh Văn Tiến trong lá thư gởi từ khu chiến cho Nữ Hoàng và chính phủ Đan Mạch: “...Trong khi về nước chiến đấu thì vợ và các con tôi vẫn tiếp tục sống ở Danmark. Trong đời sống này chắc chắn tôi không làm tròn trách nhiệm làm chồng, bổn phận làm cha, nhưng tôi không thể làm khác được! Đối với người Việt Nam, văn hóa Việt Nam chúng tôi có rất nhiều bổn phận. Bổn phận người dân đối với tổ quốc, người học trò đối với thầy, bổn phận của người con đối với cha mẹ, gia đình, anh chị em. Bổn phận làm chồng, làm cha...Chúng tôi sống để thọ ơn, trả ơn. Ơn ông bà cha mẹ, ơn tổ quốc, đồng bào, ơn xã hội loài người, ơn miếng cơm manh áo, ơn cứu giúp khi lênh đênh trên biển, ơn định cư..v.v.

Chúng tôi sống để thi hành những bổn phận và trả những ơn nghĩa kể trên rồi chết! Và tôi chọn con đường có nhiều trách nhiệm nhứt”

Đó cũng là tâm sự của chiến hữu Ngô Chí Dũng: “Sự sống - ai mà không quí trọng ? Sự sống còn quan trọng gấp nhiều lần đối với những người đang chiến đấu cho tương lai tươi sáng của dân tộc. Nhưng sự sống mà những người kháng chiến quân quan niệm chính là được chết cho công cuộc giải phóng Việt Nam. Đó là cái sống miên viễn với thời gian, với dòng lịch sử bất tận của dân tộc”

Xin được bắc cầu về cõi âm trong một phút cúi đầu tưởng niệm. Mong linh hồn các kháng chiến quân siêu thoát, phù hộ độ trì cho tương lai dân tộc Việt Nam.

Sacramento 27/7/2011
TKTT

Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Có lẽ không bao giờ Melania Trump, người từng là Melanija Knavs, rồi Melania Knauss, trước khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump, tưởng tượng được là sẽ có ngày đó. Ngày bà điều hợp một hội nghị thượng đỉnh giáo dục toàn cầu, và nói về… giáo dục. Vì sao thì, chẳng cần phải nói rõ. Có những chuyện khi người ta đã muốn che giấu, thì nếu có đưa ra bằng chứng, họ cũng có trăm ngàn cách phản biện. Huống chi, đó là Melania Trump. Nhưng có một điều, không nói không được. Nghĩ là nói giùm bà đệ nhất phu nhân, cũng được. Hay trừu tượng hơn, nói giùm nhân loại vậy. Đó là, bà đã mạnh dạn, dũng cảm, đứng trước toàn thế giới, và nói về…Plato.
Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.” Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những xung đột dữ dội, ngôn ngữ quyền lực trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.