Hôm nay,  

Như Những Đời Diêm

09/08/201300:00:00(Xem: 6586)
Trần Khải Thanh Thuỷ
(LGT: Thi Văn Hợp Tuyển tựa đề “Ngày Bão Loạn” của nhà thơ Hương Giang đã xuất bản tuần qua. Buổi ra mắt đã thực hiện tại trung tâm ViVo San Jose chiều 8/07/2011. Bài này do nhà văn Trần Khải Thanh Thủy viết với ghi chú “Cảm xúc khi đọc Ngày Bão Loạn của Hương Giang.”

Tìm mua “Ngaỳ Bão Loạn” tại nhà sách Hương Giang (San Jose, CA) ; Tự Lực, Tú Quỳnh (Orange County, CA) hoặc liên lạc trực tiếp với tác giả qua email: [email protected] hoặc qua Tel: 714-854-2010 hỏi chị Thanh Nhàn.)

Sinh ra và lớn lên trong lòng Xã Hội Chủ Nghĩa, cha mẹ sinh con, đảng, đoàn sinh tính. Tôi bị nhồi sọ khá nhiều điều sai lệch về hình ảnh của những người lính Việt Nam Cộng Hoà - Những người theo lối tuyên truyền của Việt Cộng là không có tim óc, cội nguồn, gốc rễ quê hương, chỉ có hận thù, bắn giết. Vì chút bơ thừa, sữa cặn của quân đội Mỹ mà sẵn sàng xả súng vào đồng bào mình, gây bao cảnh tang tóc, đau thương.

Lớn lên, khi miền Nam “giải phóng” tôi tìm vào thăm các bác, các anh, rồi đến lượt các anh, các chị lặn lội ra miền Bắc thăm gia đình tôi, tôi thấy các anh thật hiền lành, tốt bụng, tốt hơn cả những anh bộ đội cụ Hồ, các chiến sĩ giải phóng quân v.v… vốn là hình tượng một thời của giới trẻ miền Bắc chúng tôi… Trong những lần lặn lội đi lại ấy, chính các anh là người đầu tiên mở mắt cho tôi hiểu rõ hơn về con người và phẩm chất của người lính Việt Nam Cộng Hoà, khác hẳn với những gì mà báo chí Cộng sản tuyên truyền.

Tuy vậy phải đến khi đọc “Ngày Bão Loạn” của Hương Giang tôi mới hiểu rõ hơn về chân dung sống động của những người lính Việt Nam Cộng Hoà, càng hiểu điều mà tác giả định truyền tải tới bạn đọc… Giữa không khí yên bình trên mảnh đất tự do, giàu có của xứ sở Hoa Kỳ mà tên tập sách lại là “ Ngày Bão Loạn” hẳn phải có uẩn khúc, duyên cớ gì?

Càng đọc, tôi càng hiểu được nỗi lòng của tác giả, mỗi câu chữ trong những bài chị viết dần dần thấm đẫm đầu óc, gan ruột tôi, tạo thành những cơn bão lòng nặng nề, day dứt, bão từ trong gan ruột bão ra. Các anh - những kháng chiến quân đầu tiên của khu chiến trong chiến dịch Đông Tiến: Sống trên đất Mỹ mà chết lại vùi nơi đất Thái. Những trái tim như ngọc sáng ngời.

Ngay từ những trang đầu trong “vài trích đoạn về Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh” đã làm tôi sững sờ, choáng váng, bất ngờ rên lên những tiếng nói bi thương, oai hùng, cảm kích: “Tôi đang chỉ thị cho hai chiếc Alpha đến kéo chiếc Monitor bị đạn ra thì bỗng thảm hoạ xẩy ra trước mắt. Thuỷ thủ LVN trên chiếc Tango Bạch Hổ vừa trong ụ súng khẩu đại liên 20mm bước ra ngoài, có lẽ không khí trong thành sắt quá hầm. Một tiếng "phụt" vang lên, thây anh ngã vật xuống sàn, cái đầu văng đâu mất tiêu. Trái B41 không biết từ đâu bay tới hớt gọn cái đầu của anh, rồi lướt qua sàn platform, nổ tung giữa sông... Qua ánh đèn pin chiếu xuống sàn tàu hắt lên, tôi giật mình kinh ngạc, nhận ra người đầu tiên nhảy sang tàu tôi chính là Đại Tá Hoàng cơ Minh, Tư Lệnh Lực Lượng Thuỷ Bộ. Ông Minh bước đến xác thuỷ thủ N, lật tấm mền ra, cố ôm cái xác cụt đầu lên, cằm ông bạnh ra như muốn kìm chế nỗi thương tâm người thuộc cấp.

Mọi người lặng đi trong nỗi xúc động tột cùng. Suốt cả đời tôi không bao giờ quên cảnh tượng bi hùng trong giờ phút ấy...”

Còn tôi, không sao vơi nỗi ám ảnh khi đọc trường đoạn đau thương này. Trường đoạn mà tôi đọc đi đọc lại đến thuộc lòng, và một tứ thơ đột nhiên bật ra trong óc:

Vì đâu con chết mẹ ơi?

Đầu văng xuống đất, nụ cười lăn theo

Câu hỏi cũng là câu trả lời. Nếu chỉ vì bản thân, các anh hoàn toàn được yên vị trên đất Mỹ, Nhật Bản hoặc Đan Mạch, bên gia đình, vợ con, sống quãng đời tự do, giàu có nơi xứ người, đâu phải lao đầu vào chốn hiểm nguy, tạo thành những chấm nhỏ trên dòng sông Mê Kông mênh mông, hung dữ, nối với nhau bằng một sợi dây để trở về bên kia bờ quê hương và phải chịu những cái chết rùng rợn như thế?

Bao gian nan bất hạnh, bao sự khắc nghiệt của thiên nhiên, cũng là bấy nhiêu thử thách của lòng người. Giữa rừng già, thiếu ánh mặt trời, thiếu ăn, thiếu mặc, nhưng các anh đã làm đúng bổn phận của người trai thời loạn như lời tâm sự của chiến hữu Hoàng Cơ Minh: “Chúng tôi chỉ muốn tiếp tục làm tròn sứ mạng của một người quân nhân chiến đấu cho tự do của quê hương. Chúng tôi (5000 người di tản sang Phi Luật Tân) cần một chỗ để tiếp tục chiến đấu, cũng là một chỗ để chết cho quê hương”.


Kết cục, người nằm lại giữa dòng sông nước xiết như chiến hữu đoàn trưởng Dương Văn Tư, người nằm lại giữa rừng biên giới Thái Lan vì sốt rét, ngã nước ( Đặng Quốc Hiền…) Người hy sinh dưới bàn tay Việt Cộng (Trần Hướng Việt, Võ Hoàng, Huỳnh Văn Tiến, Phùng Tấn Hiệp v.v…) Người tự sát trên đường di chuyển ra vùng biên giới để không rơi vào tay Cộng sản (Ngô Chí Dũng, Trần Thiện Khải v.v…)

Những cái chết hào hùng của các anh đã để lại trăm ngàn nấm mộ nơi biên giới Nam Lào, Thái Lan, Campuchia, hoặc Việt Nam. Những nấm mộ không người qua lại chăm sóc, song đã lặng lẽ biến thành những quả tim của đất, đập mãi cùng non nước hôm nay.
ngay_bao_loan_san_jose_y_resized
Trong buổi ra mắt sách “Ngaỳ Bão Loạn” ở San Jose.
Chứng kiến sự hy sinh anh dũng của các anh - những người được gọi bằng cái tên vô cùng trìu mến là “kháng chiến quân” tôi không khỏi bàng hoàng, xúc động, câu thơ tôi không chỉ đứng làm khăn trắng, cúi đầu trước di ảnh của các anh trong những ngày bão loạn của đất nước mà còn bùng lên một câu hỏi:

Thù này bao thuở mới nguôi ?

Cây rừng đẫm lệ thương người trẻ trai!

Vâng, các anh đã có những giấc ngủ say vào cõi hư vô, nhưng tinh thần quả cảm, ý chí kiên định thì còn vang vọng trong lòng người dân mãi mãi: “ Sống huy hoàng trong Việt Nam giải phóng. Chết oai hùng để giải phóng Việt Nam”

Những con người mang trong mình lý tưởng dấn thân giữa vùng khu chiến bạt ngàn gió độc, rắn rết, đói ăn, thiếu mặc ấy không bao giờ chết được, mà ngược lại, trĩu trên vai các anh bao sự tích anh hùng. Tiếc rằng trong phạm vi bài viết nhỏ này, tôi không thể nào truyền tải nổi toàn bộ nội dung mà tác giả đã viết. Vì vậy, chỉ có những người nào biết nâng niu tác phẩm “Ngày Bão Loạn” tìm mua và cầm về nhà đọc mới thấu hiểu hết sự tích anh hùng của họ, cũng là nỗi lòng tác giả.

Điều mà tác giả “Ngày Bão Loạn” muốn truyền tải tới bạn đọc đó là: “Trước sứ mệnh thiêng liêng mà lịch sử trao tặng, các anh tự nhận ra giá trị của mình là phải làm một que diêm cháy bùng lên trong đêm trường tăm tối của dân tộc để soi đường cho lớp trẻ hôm nay”. Tính chất đặc biệt của que diêm mà trong cuộc sống đời thường ai cũng biết, đó là chỉ được sống khi đã và đang đi vào cõi chết… Phải âm thầm chịu đựng, nhốt mình trong hộp tối bao ngày để rồi trong một phút giây ngắn ngủi bùng lên, toả sáng cho cộng đồng, người thân, gia đình và xã hội. Ánh sáng chân lý mà các anh mang theo chính là khi chạm vào cái chết( trong giây phút đối đầu với Cộng sản) - Những kẻ mượn chiêu bài giải phóng miền Nam, nhưng lại tàn phá miền Nam.

Con đường Đông Tiến là con đường gian nan nguy hiểm, con đường dẫn tới cái chết...Các kháng chiến quân đã phải trả giá bằng tuổi trẻ đầy sinh lực, đầy tài năng và chính mạng sống quý giá của mình, như những lời tâm sự của chiến hữu Huỳnh Văn Tiến trong lá thư gởi từ khu chiến cho Nữ Hoàng và chính phủ Đan Mạch: “...Trong khi về nước chiến đấu thì vợ và các con tôi vẫn tiếp tục sống ở Danmark. Trong đời sống này chắc chắn tôi không làm tròn trách nhiệm làm chồng, bổn phận làm cha, nhưng tôi không thể làm khác được! Đối với người Việt Nam, văn hóa Việt Nam chúng tôi có rất nhiều bổn phận. Bổn phận người dân đối với tổ quốc, người học trò đối với thầy, bổn phận của người con đối với cha mẹ, gia đình, anh chị em. Bổn phận làm chồng, làm cha...Chúng tôi sống để thọ ơn, trả ơn. Ơn ông bà cha mẹ, ơn tổ quốc, đồng bào, ơn xã hội loài người, ơn miếng cơm manh áo, ơn cứu giúp khi lênh đênh trên biển, ơn định cư..v.v.

Chúng tôi sống để thi hành những bổn phận và trả những ơn nghĩa kể trên rồi chết! Và tôi chọn con đường có nhiều trách nhiệm nhứt”

Đó cũng là tâm sự của chiến hữu Ngô Chí Dũng: “Sự sống - ai mà không quí trọng ? Sự sống còn quan trọng gấp nhiều lần đối với những người đang chiến đấu cho tương lai tươi sáng của dân tộc. Nhưng sự sống mà những người kháng chiến quân quan niệm chính là được chết cho công cuộc giải phóng Việt Nam. Đó là cái sống miên viễn với thời gian, với dòng lịch sử bất tận của dân tộc”

Xin được bắc cầu về cõi âm trong một phút cúi đầu tưởng niệm. Mong linh hồn các kháng chiến quân siêu thoát, phù hộ độ trì cho tương lai dân tộc Việt Nam.

Sacramento 27/7/2011
TKTT

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.