Hôm nay,  

Nhật-Hoa Tái Ngộ

25/07/201500:00:00(Xem: 6764)
Sự sợ hãi của ngươi mới làm ta hãi sợ...

Ngày xưa, có một quốc gia thiếu tài nguyên đã sớm bước vào tiến trình kỹ nghệ hóa rồi phát giác rằng mình càng thiếu tài nguyên. Tài nguyên đó là nguyên nhiên vật liệu và sức lao động. Quốc gia đó là Nhật Bản, sau cuộc canh tân của Minh Trị Thiên Hoàng.

Là một quốc gia quần đảo, Nhật giải quyết nạn thiếu thốn ấy bằng chinh phục: tìm nguồn cung cấp ở nơi khác và dùng nhân công xứ khác giải quyết việc sản xuất cho mình. Càng tiến nhanh trong bước công nghiệp hóa, Nhật Bản càng phải bảo vệ nguồn cung cấp tài nguyên và nhân lực. Một cách khái quát, đấy là những nguyên nhân chính khiến Nhật Bản trở thành cường quốc hung hăng đã chiến thắng hai đại cường lân bang tại Á Châu, là Trung Quốc và Đế quốc Nga, trong các trận hải chiến lừng danh cuối thế kỷ 19 (1895) và đầu thế kỷ 20 (1905). Sau đó, Nhật còn dữ dội hơn vậy, chiếm đóng bán đảo Triều Tiên năm 1910 và một phần lãnh thổ Trung Quốc năm 1937.

Từ hướng Đông của biển Thái Bình, một cường quốc khác theo dõi động thái này và tìm cách giới hạn sự bành trướng của Nhật để bảo vệ các tiểu bang miền Tây của mình. Đó là Hoa Kỳ.

Khi Nhật hất cẳng các nước Âu Châu tại vùng thuộc địa ở Đông Nam Á và uy hiếp đất bảo hộ của Mỹ trên Thái Bình Dương là Philippines thì Hoa Kỳ quyết định phong tỏa kinh tế Nhật và chặn mất 80% nguồn năng lượng cho các hãng xưởng Nhật Bản. Vì vậy, đáng lẽ Hoa Kỳ chẳng nên ngạc nhiên về phản ứng của Nhật, là vụ tấn công Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) của quần đảo Hawaii ngày bảy Tháng 12 năm 1941.

Ngay hôm sau, Hoa Kỳ khai chiến và tham gia Thế chiến II, thật ra khởi sự trước đó khá lâu tại Âu Châu.

Sau một cuộc chiến dai dẳng và tốn kém trên biển Thái Bình, Hoa Kỳ khuất phục được Nhật Bản, cách nay đúng 70 năm, bằng hai quả bom nguyên tử. Điều kỳ lạ là khi nước Nhật bại trận phải đầu hàng, toàn bộ hệ thống kỹ nghệ bị tan tành mà người dân vẫn cam chịu và gìn giữ sự ổn định của một xã hội thuần chủng. Nhật bị giải giới, chấp nhận một Hiến pháp phi quân sự do Hoa Kỳ soạn thảo, vài chục năm sau trở thành một đồng minh phú cường của Hoa Kỳ, theo chế độ dân chủ. Từ đó, Nhật giải quyết nhu cầu kinh tế - nguyên nhiên vật liệu và nhân công – theo hướng tự do và hòa bình, qua ngoại thương và đầu tư, dưới cái dù bảo vệ của Hoa Kỳ.

Khi Chiến tranh lạnh kết thúc năm 1991, cường quốc kinh tế này ở vào phe chiến thắng nhưng bắt đầu bị khủng hoảng. Nạn bể bóng đầu tư dẫn tới suy trầm và cơ chế chính trị sơ cứng cản trở việc cải cách nên trong hơn 20 năm, Nhật Bản vẫn chưa ra khỏi khó khăn.

* *

Đó là chuyện ngày nay, khi mà tuần qua, Thủ tướng Shinzo Abe tung ra “mũi tên thứ ba” của công cuộc cải cách sau hai mũi tên tiền tệ và ngân sách, nhằm phá vỡ các thế lực cản trở, nhất là trong khu vực năng lượng, lao động và canh nông. Nhưng bài toán của Nhật không chỉ có vậy.

Vì khi Nhật Bản bắt đầu suy trầm, bên kia biển Hoàng Hải, một cường quốc đã xuất hiện và đi theo con đường bành trướng của Nhật trăm năm về trước. Đấy là Trung Quốc.

Sau 100 năm lụn bại kể từ 1842, trong Thế chiến II, Trung Quốc là nạn nhân của Nhật, lãnh thổ là trận địa của chiến tranh chống Nhật và nội chiến Quốc-Cộng. Sau khi đảng Cộng sản chiến thắng năm 1949, trong 30 năm, Trung Quốc là nạn nhân của Mao Trạch Đông cho đến khi Mao tạ thế năm 1976 và Đặng Tiểu Bình cải cách năm 1979. Từ đó Trung Quốc nghĩ đến việc phục hưng và cũng áp dụng bài học canh tân và công nghiệp hóa của Nhật và của các nước Đông Á khác.

Ngày nay, vào thế kỷ 21, lãnh đạo xứ này cũng phát giác “sự thật Nhật Bản” đã thấy từ thế kỷ 19: đói ăn, khát dầu, thiếu nước và cần nguyên nhiên vật liệu cùng các thị trường xuất cảng.

Nhưng thay vì giải quyết như Nhật Bản sau Thế chiến II, một cách hòa bình theo quy luật thị trường, lãnh đạo Trung Quốc nghĩ đến giải pháp bành trướng và phòng thủ một cách tích cực hơn. Chiếm đóng để bảo vệ. Bắc Kinh mở rộng kiểm soát vùng biển cận duyên bao trùm lên một chuỗi quốc gia bán đảo hay hải đảo, gọi là “Đệ nhất Đảo liên” ngoài Đông hải, và còn nghĩ đến vùng biển viễn duyên, Thái Bình Dương, là chuỗi “Đệ nhị Đảo liên” kéo đến tận căn cứ Guam và quần đảo Hawai của Hoa Kỳ.


Rút kinh nghiệm tốn kém của chiến tranh quá xa lãnh thổ thời Đệ nhị Thế chiến trên Thái Bình Dương và hai cuộc chiến Á Châu trên bán đảo Triều Tiên và tại Việt Nam, Hoa Kỳ muốn tránh đụng trận với Trung Quốc. Mỹ chủ trương bảo vệ quyền tự do lưu thông trên biển và không can dự vào vấn đề chủ quyền ở các quần đảo thuộc vòng “Đệ nhất Đảo liên” hay cái “Lưỡi Bò 10 Khúc” của Bắc Kinh.

Nhật Bản không có hoàn cảnh địa dư đó.

Vì vậy, song song cùng việc cải cách kinh tế xã hội bên trong, từ nhiều năm nay, Chính quyền Shinzo Abe vận động việc cải tổ Hiến pháp và luật lệ để Nhật Bản sẽ có khả năng quân sự bảo vệ quyền lợi của mình – lẫn các đồng minh. Hôm 21 vừa qua, cùng “mũi tên thứ ba” về kinh tế của Abe, Bộ Quốc phòng Nhật Bản công bố Bạch thư “Phòng vệ Nhật Bản 2015”.

Tài liệu này được hoãn một tuần theo yêu cầu của đảng cầm quyền Tự do Dân chủ LDP của ông Abe, để bổ sung phần nhận định về mối nguy từ Trung Quốc. Văn kiện vừa xuất hiện là gây phản ứng gay gắt từ phía Bắc Kinh. Ngay hôm sau, Bộ Ngoại giao Bắc Kinh kết án việc Nhật Bản đe dọa chủ quyền của Trung Quốc trên các quần đảo có tranh chấp và yêu cầu Tokyo chấm dứt “những trò nguy hiểm”.

Cả phần bối cảnh rất dài ở trên chỉ dễ dẫn tới động thái Bắc Kinh, mâu thuẫn Hoa-Nhật, và lập trường của Mỹ.

* *

Nhật Bản là một nước không có tài nguyên, lãnh thổ là một quần đảo có bốn đảo lớn nằm giữa đại dương. Khi hữu sự, dân Nhật chỉ có một đất lùi là trôi xuống biển.

Trung Quốc là một đại cường lục địa ngày nay bị lệ thuộc vào thế giới bên ngoài như chưa từng bị trong mấy ngàn năm lịch sử. Vì vậy, thế hệ lãnh đạo mới là Chủ tịch Tập Cận Bình và Thủ tướng Lý Khắc Cường – “Thế hệ Tập-Lý” – mới vạch ra “Con Đường Tơ Lụa của Thế kỳ 21”. Chiến lược bành trướng và củng cố này gồm có “Nhất Đới” là các đường lộ vận trên đất liền để qua Trung Á, Trung Đông là vào tới Âu Châu; phần kia là “Nhất Lộ”, đường vận chuyển trên biển nối liền các thương cảng và quân cảng Trung Quốc trên vùng biển Hoa Đông và Hoa Nam của họ với các dòng hải lưu trên vùng biển Đông Nam Á qua Ấn Độ Dương rồi Địa Trung Hải. Bạch thư Quốc phòng của Bắc Kinh được công bố hôm 26 Tháng Năm đã khẳng định quyền bảo vệ quân sự của Trung Quốc trên các ngả giao lưu đó. “Hạch tâm nghĩa lợi” hay quyền lợi cốt lõi là đấy.

Hóa ra, vì sợ bị thiên hạ phong tỏa những đường yết hầu ngoài biển cận duyên, Bắc Kinh bèn “tiên hạ thủ” là mở rộng vùng định vị phòng không ADIZ rồi chiếm đóng và củng cố các quần đảo đang có tranh chấp chủ quyền với các lân bang để làm căn cứ quân sự trong một vùng trái độn họ đòi kiểm soát.

Trong khung cảnh đó, mâu thuẫn và xung đột với Nhật là điều dễ xảy ra.

Theo phép suy bụng ta ra bụng người, Bắc Kinh không tin rằng Hoa Kỳ sẽ ra tay bảo vệ quyền lợi và nhân sự của Trung Quốc khi gặp nạn ở bên ngoài và lại còn có khả năng khống chế các eo biển thông thương tại vùng biển Đông Nam Á để phong tỏa kinh tế Trung Quốc. Nhưng Bắc Kinh cũng cho rằng Hoa Kỳ chỉ muốn duy trì nguyên trạng tự do lưu thông trong khu vực chứ không muốn trực tiếp khai chiến với mình. Chỉ cần nêu ra những rủi ro và tổn thất về phía Hoa Kỳ thì Bắc Kinh cũng tránh được một trận Mỹ-Hoa chinh chiến.

Và hình như Hoa Kỳ của Barack Obama ứng xử như vậy thật. Việc Mỹ tái phối trí phương tiện quân sự qua biển Thái Bình như Tổng trưởng Quốc phòng thời ấy là Lenon Panetta thông báo từ năm 2012 vẫn chưa tiến hành.

Nhưng Nhật Bản lại khác. Chính quyền Shinzo Abe nói và làm với những phương tiện quân sự hiện đại hơn Trung Quốc, và Tokyo còn ra sức phổ biến võ khí phòng thủ cho các nước trong vùng. Nỗi sợ hãi là con đường hai chiều và sự sợ hãi của ngươi lại làm ta hãi sợ!

Hai cường quốc Á Châu có cùng một nỗi lo vì có cùng loại vấn đề. Và đấy là mới mối nguy tại Đông Á.

Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.