Hôm nay,  

Thương Nhớ Mười Hai

06/02/202010:28:00(Xem: 4010)

Đây là tựa đề một tác phẩm văn học rất dễ thương của nhà văn Vũ Bằng. Ông bắt đầu viết từ tháng Giêng 1960, tiếp tục viết 1965, và hoàn thành vào khoảng 1970 – 1971. Hơn mười năm cho một quyển sách, có thể là dòng suy tưởng của tác giả bị gián đoạn do công việc mưu sinh, có thể tác giả chưa nắm bắt được sự rung cảm của riêng mình.


“Thương Nhớ Mười Hai”, tức là niềm thương nhớ, xúc cảm của tác giả trong mười hai tháng Âm lịch, xúc cảm của “những người thiên lý tương tư” khi vào miền Nam vẫn nhớ nhung về phương Bắc. Tác giả ghi lại tâm tư mình với những cung bậc tuyệt vời của người Hà nội, người xứ Bắc thanh lịch nỗi tiếng một thời xa xưa liên quan tới cây lành trái ngọt của vùng miền qua từng tháng.

Có một điều, người viết muốn chia xẻ với bạn đọc là chúng ta không có tháng Một, và cũng không có tháng Mười Hai, mà chỉ có tháng Giêng, và tháng Chạp như trong ca dao :


Tháng Chạp là tháng trồng khoai.

Tháng Giêng trồng đậu, tháng Hai trồng cà.


Tháng Chạp, tháng Giêng quá đặc sắc, dễ thương, như : “Ra Giêng anh cưới em”, hay “Tháng Chạp anh về quê ngoại”..v..v..


“Thương Nhớ Mười Hai” của chúng tôi là nỗi niềm trong tháng 12/2019 này đây. Tháng Mười Hai với những kỷ niệm đầy vơi trong cuộc đời lao đao, chìm nổi của một người không còn trẻ nữa. Tháng Mười Hai Dương lịch với ngày Lễ Giáng Sinh rộn ràng, và ngày Tết Dương lịch bắt đầu cho một năm mới. Trẻ nhỏ thêm một tuổi lớn, và người già đăm chiêu thêm một tuổi già.


Đầu tháng Mười Hai, ngày 07/12/2019, chúng tôi mất đi người huynh trưởng của chương mục Viết Về Nước Mỹ : Anh Nguyễn Văn Tân, bút hiệu Bồ Tùng Ma. Ông là người nhiều tuổi nhất trong nhóm Việt Bút chúng tôi, và cũng là người ít lời nhất. Ông ít cười. Một bạn trẻ nói với ông :


-Chú Ma, sao chú lại không cười vui khi chụp ảnh với nhóm. Chú cứ coi cô SL kìa, lúc nào cũng cười tươi như đang còn tuổi thanh xuân !


Ông trả lời :


-Tại chú cười không đẹp như cô SL.


Một câu chuyện nhỏ, nhưng đó là một kỷ niệm lớn trong lòng tôi đối với anh Tân.


Vẫn biết rằng “Sống gửi thác về”, nhưng sự ra đi của ông cũng gieo trong lòng tôi nhiều sự xao xuyến. Rất nhiều tháng ông ở trong bệnh viện trong trạng thái coma, vì ông bị stroke nặng. Chúng tôi vẫn thầm bảo nhau “sợ ông không qua khỏi”. Dù tinh thần đã chuẩn bị, ý thức đã sẵn sàng, nhưng khi được tin ông giã từ, chúng tôi không khỏi bàng hoàng, tiếc nuối. Một văn hữu trẻ đã có bài thơ “Tiễn Anh” :


Phũi sạch nợ duyên, kiếp vô thường

Về miền Cực Lạc, cõi Tây Phương

Anh đi, bao kẻ sầu, đau, tiếc

Người ở trăm chiều mộng, nhớ, thương


Thong dong rồi bước trần gian khổ

An lạc dừng chân chốn Niết Bàn

Thân ái chào Anh lìa cõi tạm

Bằng hữu nghiêng mình bên khói hương.

(B.T)


Chúng tôi đã “thân ái chào Anh”, và “nghiêng mình tưởng niệm” Anh. Dù Anh không còn trên trần thế này, nhưng ở thế giới nào khác, chúng tôi ước mong Anh mãi yên vui. Chúng tôi chào Anh, người huynh trưởng đáng yêu, người bạn văn đầm ấm, và trên hết, một người lính Việt nam Cộng hòa suốt đời giữ gìn được bản chất tốt đẹp của người sĩ quan Hải quân trong chiến tranh nghiệt ngã.


Cũng trong ngày hôm sau 08/12, gia đình chúng tôi trân trọng kỷ niệm ngày mất của Mẹ tôi, Người đã rời xa chúng tôi đã sáu năm nay. Kỷ niệm ngày giỗ của Bà năm nay, chúng tôi về chùa Giác Lâm ở thành phố Philadelphia – Pennsylvania, cúng dường Tam bảo, hồi hướng ân phước cho Bà. Chúng tôi không tổ chức nghi thức rườm rà, chỉ có hoa, trái, và cúng cơm chay. Chúng tôi nghĩ rằng Mẹ chúng tôi đã về Trời, vì lúc còn trên cõi tạm này, Bà là người phụ nữ rất đổi hiền dịu, không làm điều gì phật ý một ai. Mẹ tôi sống thọ ở tuổi chín mươi ba, đó là ơn phước từ Trời đã ban cho chúng tôi. Tôi chỉ có một thoáng ân hận vì hoàn cảnh phải bỏ Mẹ mà đi dong ruỗi xứ người thoắt đã gần ba mươi năm, và lúc Bà đi tôi đã thương cảm viết ra hai câu đối để thờ :


Một chuyến đi xa, Má đã yên vui miền Tiên cảnh

Bao lần đứng lại, con còn lận đận với nhân gian.


Cũng trong tháng Mười Hai này, ngày 17/12 là ngày kỷ niệm bốn mươi lăm năm nghĩa chồng tình vợ của chúng tôi. Ngày 17/12/1974 chúng tôi cưới nhau, và chỉ bốn tháng sau, miền Nam mất, và tháng 6/1975 chồng tôi bị tóm vào trại cải tạo. Ngày xưa khi Từ Hải chia tay Thúy Kiều, văn hào Nguyễn Du đã viết hai câu thơ nỗi tiếng :


Nửa năm hương lửa đương nồng

Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)


Đó là hoàn cảnh của chúng tôi. Cám ơn Trời, Phật, chồng tôi đã trở về Saigon sau gần mười năm biệt xứ. Trong thời gian xa cách đó, thỉnh thoảng mẹ anh ấy cứ nói với tôi :


-Bây giờ đã hơn năm năm rồi, không biết sự thể ra sao, tuổi xuân của con thì có hạn, nếu có ai ý hợp tâm đầu, con có thể bước thêm bước nữa!


Tôi choáng váng với câu nói đó của mẹ chồng. Bà không “đón gió” đâu, tôi biết vậy, vì bà là người miền Nam, rất hiền lành, chất phác, cả đời không ra khỏi nhà gia đình chồng, có thể nói không ra tới chợ của địa phương nữa mà…Tôi không nói gì, chỉ cười nhẹ, không trả lời câu nói của bà. Tôi làm sao làm được điều bà nói, vì bên nách còn có đứa con gái thật dễ thương năm tuổi. 

Khi anh vào trại tập trung, tôi đã mang bầu gần sáu tháng. Phải chăng đứa nhỏ là sợi dây vô hình cột chặt tình cảm của hai vợ chồng tôi!!? Hơn nữa, tôi là cô giáo, được lớn lên trong một gia đình lễ nghi, phép tắc, không thể đi dọc về ngang.

Sinh thời, trong vấn đề hôn nhân của các con, ba tôi thường nói :


-Ba cho chọn chứ không cho đổi.


Tức là ba tôi chủ trương không có việc thay chồng đổi vợ. Điều này quá khó trong thời đại bây giờ ở các nước phương Tây, và ngay cả ở trong nước. Cám ơn cuộc đời! anh em chúng tôi bây giờ cũng đã già, và đã làm đúng với mong muốn của ba tôi, dù trong đời sống vợ chồng làm sao tránh khỏi va chạm, xích mích, chẳng hài lòng về nhau? Có lẽ nhờ ân đức của cha mẹ, chúng tôi chẳng giàu có gì đâu, nhưng vẫn bình an trong đời thường có nhau. Ba tôi mất đã lâu, nhưng dáng hình, lời dạy dỗ của ông vẫn còn hiện hữu trong tâm trí các con. Trong bài thơ ngắn nói về ba, có đoạn tôi đã viết :


…Ba gieo nhân đức cho nhân thế

Để lại bình an cho các con.



Bây giờ đọc giả cho phép tôi nói một chút về “lão gia của tôi”.

Chúng tôi gọi chồng là “lão gia” là vừa có chút châm biếm, giễu cợt, vừa có chút trân trọng theo kiểu phim Tàu ngày xưa. 

Lão gia của tôi đã bảy mươi ba tuổi rồi, nhiều bệnh, đã nghỉ hưu từ ba năm nay. Cả ngày ông chỉ quanh quẫn vườn sau sân trước, chăm bón cây cảnh trong  những ngày Hè. Mùa Đông lạnh dữ dội, ông chỉ tiêu khiển bằng cách đi tập Gym. Vì tôi phàn nàn cái bụng nước lèo nên ông lo tập tành mỗi ngày vài tiếng đồng hồ. Than ôi ! người đi bên cạnh cuộc đời mình ngày xưa đẹp trai, oai phong, bây giờ rệu rã vì bệnh tật, vì tuổi già! Cuộc đời như đại dương mà mỗi người chúng ta chỉ giống là chiếc thuyền nan, biết đâu là bến bờ, biết nông sâu thế nào mà dò trong, lóng đục ? Những cặp vợ chồng già như chúng tôi họa hoằn lắm mới được ở chung với con, cháu, còn đa số ở riêng nương tựa nhau mà sống cho “qua ngày, chờ ngày.. qua đời”


Thưa Quý bạn đọc,

Tôi không bi quan đâu, vì tôi nhận ra rằng chúng tôi đang có bonus từ Thượng Đế nên ngày nào còn yên vui là ngày ấy cảm ơn cuộc đời này. Làm sao chúng ta biết được ngày mai !!?? (No-body knows tomorrow).

Tình yêu không còn hực hỡ như tuổi thanh xuân, nhưng còn là tình nghĩa, là sự trông cậy, nương tựa lẫn nhau. Tôi giống như đang ở trong chiếc thuyền nan giữa biển lớn, mưa gió bất kỳ, tôi làm sao giữ nỗi tay chèo !!??

Đã nói rằng tôi đã buông bỏ hết mọi ước mơ thì chưa đúng lắm. Tôi vẫn còn mơ ước bên kia bờ đại dương quê hương Việt nam có được Độc lập, dân mình có được Tự do, nhưng biết đến bao giờ !!??


Tháng Mười Hai Dương lịch ở miền Đông Bắc này, mùa Đông thật khắc nghiệt. Thời tiết lạnh lẽo. bầu trời u ám, mưa dầm. Nhiệt độ có khi xuống 0oF. Mấy hôm nay sáng sớm 17o. Gió lạnh buốt, nhưng có đôi ngày cũng có chút nắng mong manh.

Với cảm xúc về mùa Đông giá lạnh nơi đất khách quê người này, xen lẫn với tình thương yêu vô bờ bến đối với các em tôi, dâng ngập tự đáy tim, tôi đã cảm tác một bài thơ để ghi lại tình cảm chan chứa này với hai câu kết thật ưu ái :


…Vào Đông lạnh cả đất đất trời

Gửi em chút nắng thay lời cảm ơn.

(Có Em – SL. 2006)

 

 Sự ấm áp đó là những ngày phép của đứa cháu từ Base Huachuca-Arizona trở về nhà sau gần một năm ở quân trường. Cháu trai này tiếp tục bước chân của cha chú thời xa xưa, trở thành người sĩ quan của Quân lực Hoa Kỳ.


Thời gian qua nhanh như giòng thác đỗ. Ngày gia đình chúng tôi rời Saigon, chú nhóc này chỉ vừa tròn tháng tuổi. Mới đó cháu tôi đã gần ba mươi tuổi đời. Trong quân phục ngày về thăm nhà, tôi không kìm được nỗi xúc động khi gặp cháu mình.

Tôi xúc động vì hình ảnh người lính Việt nam Cộng hòa năm mươi năm trước của anh tôi, các anh, các bạn của tôi, của chồng tôi nay lại được tái hiện ở thế hệ thứ hai là đứa cháu ngày nào tôi ẵm ngữa trên tay, lúc bịn rịn giã từ mọi người theo chồng đến xứ người :


Lịch sử bây giờ đang lập lại

Giữa miền Đông Bắc xứ Cờ Hoa.


Đúng vậy, hình ảnh người lính Mỹ gốc Việt luôn là niềm hãnh diện, nỗi xúc động âm thầm trong tâm hồn tôi. Cháu tôi đang nói lời “Thank you America” cho cả gia đình tôi, đang ở Mỹ cũng như những người thân còn ở lại quê nhà.


Tháng Mười Hai với đèn, hoa ngập lối, với hàng triệu trái tim hớn hỡ đón chờ ngày Chúa Giáng Sinh. Đây là ngày Lễ của thế giới, không chỉ là của các tín đồ Thiên Chúa :


Vinh danh Thiên Chúa trên trời

Bình an dưới thế cho người Thiện tâm.


Lời của Chúa Jesus mãi còn đọng lại trong trái tim già nua, héo hắt của tôi, bây giờ, và mãi mãi : “Ta đi, ta để lại Bình an cho các con”.


Ngày Lễ Giáng Sinh là ngày của Bình An, đầm ấm, sum họp. Đó cũng là ngày Lễ của Tha thứ, Chia sẻ, Cảm thông để người, và người biết thương nhau, dẹp bỏ hết những ganh ghét, tị hiềm. Đây là ngày Lễ của con tim mở rộng chào đón Chúa giáng trần, chào đón tình yêu của nhân loại.


Tháng Mười Hai sẽ qua, năm mới Dương lịch 2020 sẽ đến. Chúng ta chờ mong những điều May mắn, Tốt đẹp cho hòa bình thế giới, trong đó có nền dân chủ, tự do cho nhân dân Việt nam.

Ngày tháng sẽ trôi xuôi. Hiện tại sẽ trở thành quá khứ. Tất cả rồi sẽ trở thành kỷ niệm. Ký ức của mỗi con người cảm nhận về tháng Mười Hai ; tháng cuối cùng của một năm ; với những vui buồn, hồi ức, nhớ nhung, tưởng niệm. Người viết chỉ mong được san sẻ chút lòng bâng khuâng trong mùa Đông lạnh giá đến sững sờ.


Vui buồn trong tháng Mười Hai sẽ khép lại như cánh màn nhung sau buổi diễn, và sân ga cuối cùng của cuộc đời người già như chúng tôi đang thấp thoáng đằng kia. Con tàu đêm sẽ đến sân ga đó, giờ khắc không bao giờ báo trước với một ai !


Với tất cả lòng yêu thương, và quí trọng, người viết xin được phép thân chúc mọi người trên thế giới được Bình An, đầm ấm mùa Giáng Sinh, và năm mới 2020, với những tin vui mới về chính trị, kinh tế trong xã hội loài người tràn trề tình thương yêu.


Cuối bài, xin thêm một lần cảm ơn nhà văn Vũ Bằng với “Thương Nhớ Mười Hai” của ông, đã là nguồn cảm hứng cho người viết trong tháng Mười Hai 2019 với  “..Những buổi mây chiều gió sớm, sầu biệt ly vơi sáng đầy chiều..” (1).


(1) Trích trong “Thương Nhớ Mười Hai” Vũ Bằng.



Song Lam.

Mùa Giáng Sinh.

Cherry Hill-NJ, Tháng 12/2019.         


    

 

Ý kiến bạn đọc
07/02/202017:59:16
Khách
Đọc bài này xong thấy buồn, bâng khuâng. Viết rất hay. Cám ơn bạn, Song Lam.
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.
Buổi sáng cuối cùng ở Chamonix im lặng lạ thường. Suốt đêm qua, tôi đã để cửa sỗ mở toang, nên khi giựt mình thức dậy, ánh sáng trong suốt của núi tràn đầy phòng. Tấm mền len và drap giường trắng lóa như được phủ lân tinh. Không một tiếng động nào từ dưới đường phố vọng lên. Chỉ có hơi lạnh. Tôi nằm co ro và nghĩ đến ly cà-phê đen. Mùi thơm sẽ bốc lên cùng hơi nóng, rồi tan dần vào không khí. Giống như ký ức. Đôi giày đóng đầy đất bùn và gậy trekking đã xếp gọn gàng trong bao duffle cùng với áo quần đi núi từ đêm hôm qua. Chúng nằm bên cửa, sẵn sàng lên đường. Bên ngoài cửa sổ, rặng núi Mont Blanc vẫn kia, vẫn vĩ đại, vẫn trùng điệp, vẫn lặng lẽ xa xăm. Tôi nghĩ đến 11 ngày vừa qua và cảm thấy buồn buồn, làm như có điều gì tôi đã đánh mất, hay đã để quên trên ngọn núi kia, ở đâu đó, trong quãng đường dài tôi đã đi.
Năm nào cũng vậy, tháng 7 tháng 8, mùa mưa, mùa lũ lụt lại về trừng phạt quê hương Việt Nam. Từ rất xa xôi, người Việt khắp nơi thấp thỏm buồn rầu và lo sợ cho cảnh ngập lụt, bão tố hoảng loạn ở nhà, không riêng chỉ miền Trung mà cả miền Nam cũng lụt, miền Bắc và Bắc trung phần bị càn quét dữ dội do bão Bualo, rồi kế đến là bão Matno. Miền Bắc và cả thủ đô Hà Nội mưa bão trước chưa kịp khô, lại ngập nước, đường phố hóa thành sông do vỡ đập nước Lạng Sơn, nước sông dâng cao đỉnh điểm, tại thành phố còn có một số tổ chức cứu trợ, nhưng kẹt là ở các tỉnh miền cao, nước lên quá mau, đa số dân cư phải leo vội lên trú trên những mái nhà cao hơn. Cũng tại xả nước các đập thủy điện nữa v.v…


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.