Hôm nay,  

Băn Khoăn Dấu Tích

30/03/202016:05:00(Xem: 4743)


Mợ nằm im ắng, nét mặt bình thản.  Làn da xanh tái và hai má lõm sâu, mợ không còn là mợ của hằng ngày.  Mọi người chung quanh đi lại nói năng lao xao một cách nhẹ nhàng, và lũ trẻ trêu chọc nhau cách đó mươi thước cũng không làm dậy lên được khoảng trống âm thầm chung quanh mợ.  Thì có bao giờ mợ ồn ào lên tiếng về một việc gì. Mợ cần mẫn như cỏ - lan rộng vươn cao – nâng bước chân của mỗi đứa con và hứng lấy mọi nhọc nhằn một cách thản nhiên. Cả khi mợ lặng im như bây giờ, Ngà cho rằng mợ vẫn gánh lên vai mình những bất trắc của các con, ôm vào lòng những phiền muộn mà mỗi đứa riêng mang, ít nhiều tùy theo chỗ đứng của từng đứa trong lòng mợ.

Như rất nhiều bậc sinh thành của thuở trước, mợ và bố mỗi người yêu dấu riêng một đứa con dù vẫn luôn khẳng định mình thương tất cả con cái đồng đều.  Mợ thương anh Huân nhất, nói anh Huân cười đẹp trai như tây lai!!! Anh con trai đẹp như tây lai ấy, anh Huân mà Ngà vẫn thường rủ rỉ nói chuyện mỗi tối sau một ngày dài lao vào cuộc sống thuở mới đặt chân lên đất Mỹ, giờ lại mang trên mình một câu hỏi có lẽ chả ai có thể trả lời, và nếu có e đó không phải là câu trả lời mợ muốn nghe cũng như có ai muốn nói

Hôm đó mợ gọi Ngà hỏi thăm vu vơ.  Rồi mợ kể chuyện anh Huân với lời dặn dò là phải giữ kín.  Ngà nghe xong câu chuyện thì hiểu, mợ lo, và mối lo buồn đầy ắp tâm can nên mợ phải tìm Ngà mà thở than.  Nhưng đến chỗ này thì không thể lấy thúng úp voi lấy giấy gói lửa. Mợ tin anh Huân vô can, riêng trong lòng Ngà phải than thầm - anh Huân, sao anh lại quá thờ ơ?

Ngày tháng qua đi nhưng tổn thất quá sâu xa khiến đổ vỡ không còn có thể hàn gắn, Vĩnh, chồng của Huyền, nói vậy khi hắn ghé tới ngồi kế bên Ngà.  Vĩnh có vẻ thân thiện với Ngà chứ không lấn cấn như những người trong gia đình. Ngà hiểu, cái vị thế lửng lơ với Hùng, hoàn cảnh qua cầu rút ván như ba của Gia đã từng trề môi mai mỉa, là một vết chàm muôn thuở không phai dù chả ai còn muốn nhắc.  Giọng Vĩnh đều đều, cả lúc buông tiếng gọi anh Huân là thằng, thằng khốn nạn, vì “em không thể nào gọi tiếng gì khác hơn.”

Vĩnh rù rì kể lể.  “Bả,” chị Lan vợ anh Huân, sang trọng như sao.  Một bữa ăn trưa ba bốn ngàn đô, sắc bóp hiệu LV không mua như mình đi dòm đi ngó.  Bả vào thẳng phòng VIP ngồi uống xâm banh chờ các cô bán hàng mang từng chiếc ví đến giới thiệu và đeo biểu diễn.  Tậu cái nào thì đều có khắc hàng chữ “Làm riêng cho Lan!” Thiên hạ chóa mắt há mồm, nên nghe chị Lan giới thiệu mối đầu tư rất riêng kín để không bị cạnh tranh thì ùn ùn nộp tiền.  Lời rất cao rất sòng phẳng trong những tháng đầu khiến mọi người không ngần ngại vét quĩ tiết kiệm, cầm cố nhà cửa bỏ thêm vào. Dĩ nhiên anh chị em trong nhà cũng như bạn thân nối khố phải được ưu tiên góp vốn trước, nên khi cái trò mượn đầu heo nấu cháo sụp như nó phải sụp thì thân bằng quyến thuộc bị trời giáng  tại chỗ. Và, nạn nhân đầu tiên chính là vợ chồng Huyền Vĩnh.  

Vĩnh quả quyết, chính anh Huân là bộ não chỉ huy, bởi chị Lan dẫu mồm miệng cũng không đủ trình độ để nói chuyện đầu tư một cách bài bản và biết dùng những chiến thuật chiêu dụ hữu hiệu.  Ngà ngó sang chỗ anh Huân. Anh ngồi im như pho tượng, mái tóc muối nhiều hơn tiêu từ thuở thanh xuân nay trắng bóng trên nước da hồng hào áo quần chải chuốt. Trông anh như một người Mỹ đẳng cấp cuối tuổi trung niên.  Thì anh đẹp trai như Tây lai mà, mợ vẫn hằng nói vậy. Ngà cố tìm trên gương mặt anh một nét gian xảo, một ánh mắt sắc lạnh hay u uẩn, nhưng anh chỉ ngồi yên trong vẻ xa lạ hững hờ. Có thật anh cũng chỉ là nạn nhân của chính vợ mình?  Mợ bảo căn nhà của anh chỉ còn cái xác vì “nó” đã rút hết ruột, cũng bằng cách giả mạo chữ ký như đã làm với căn nhà của vợ chồng Vĩnh Huyền.

“Không dính vô trò đầu tư của bả mà vợ chồng em phải mất 4 năm và 250 ngàn đô tiền luật sư để lấy lại được căn nhà.”  Vĩnh đứng dậy rủ Ngà đi lấy cà phê ra ngoài nói chuyện cho thong thả.

“Ông Hùng không phải mất 200 mà là 700 ngàn đô, anh Giản bạn chí thiết của ông Huân từ thuở trung học mất một căn nhà và họ nhà vợ mất 16 căn.  Có tổng cộng có 25 người mất nhà! Mợ đã quá già để biết mọi sự.” Ngà nghĩ, lòng thương con khiến mợ không thể tin dù có thể trong thâm tâm mợ cũng ngờ cái điều tăm tối ấy.  Vĩnh lại tiếp tục, “Chị không tin ổng là chủ mưu? Ngày em gọi ổng bả xuống để nói trắng đen, trước mặt ông Huân bà Lan bảo vợ chồng em không đủ tiền chạy luật sư chơi lại bả đâu thì ổng chỉ làm thinh.  Chính ổng cù cưa lần lữa nói tụi em từ từ cho anh chị tính nên em mới phải kiện 2 lần, tốn thêm bộn bạc.”

Bất chợt Hùng đi ngang, Vĩnh thúc Ngà, “chị để ý nè, cả anh Hùng lẫn con Huyền đều đâu nói chuyện với ông Huân.”  Quả thật chả ai nhìn ai nói với ai lời nào, và cả anh Giản cũng khéo léo quay sang nói chuyện với một ai đó để khỏi bắt tay anh Huân đứng chờ cách đó 2 bước.  Anh Huân, thực vậy sao? Ngà cố nhớ lại anh Huân của những ngày tháng cũ. Đâu là tình anh em thân mật ấm áp bất ngờ những ngày đầu lạc loài trên đất Mã Lai, đâu rồi cái ấp đầu an ủi mừng ngày đặt chân lên đất lành, đâu là những chia sẻ vui buồn những tâm sự riêng tư bước đầu tị nạn.  Anh thông minh sắc sảo và có phần ích kỷ vì là con yêu của mợ, anh cũng là người khép kín với gia đình, nhưng anh là người dễ mến hiểu đời và có vẻ không quan tâm đến những chuyện vật chất bề ngoài. Như đọc được lòng Ngà, Vĩnh tiếp ngay – xe hơi 300 ngàn ổng có vài chiếc, đồng hồ 150, 80, chứ 30 ngàn chỉ là đeo chơi!  Máy hình Canon một bộ 25 ngàn, máy Leica loại đặc biệt làm theo ý khách 50 ngàn, sao lại không liên can.  Vĩnh liệt kê tiếp: ngày FBI bố nhà, bả có 3 triệu tiền bóp Louis Vuitton, ổng có 1 triệu tiền rượu, và sở thuế truy cáo 25 triệu tiền trốn thuế.  Ngà thấy xây xẩm, bạc trăm ngàn, bạc triệu, mà nghe như vài trăm lẻ!  Anh Huân, thật không? Anh Huân vẫn ngồi yên không biểu lộ gì trên nét mặt.  Bên cạnh, chị Lan vui vẻ như chưa từng là người gạt gẫm gia đình chồng. Vĩnh dập thêm cú chót: nếu chồng chị làm vậy chị có còn muốn chung sống?  Bả làm Lê Lai cứu Chúa ở tù thế cho nên ổng vẫn sống với bả đến giờ này, còn bả thì nhởn nhơ nơi đây như người vô tội.  Ngà lại liếc nhìn anh Huân, như muốn đào cho ra cái lẽ thật chỉ có mình anh ôm giữ.  Ngà chợt nhận ra, từ những ngày đầu của 40 năm trước khi bước vào gia đình này bằng mối tình học trò với Hùng để rồi cùng họ sống chết, anh Huân luôn là một nhân vật gợi tò mò và đầy những ngạc nhiên.  Anh như trang sách ố vàng im lặng trong một góc mà mỗi hàng chữ mở ra một con người một thế giới hoàn toàn khác với mọi thứ chung quanh. Và cho mãi đến 40 năm sau, anh vẫn mang lại cho Ngà những bất ngờ khôn lường.  Ngà nghĩ, dẫu ngay gian gì thì anh Huân vẫn là kẻ bản lãnh không hoài công mợ dấu yêu, nhưng kịp giữ lại ý nghĩ ấy, và Ngà e rằng chính Ngà cũng mang tâm trạng hoài nghi không muốn tin của mợ.

Tiếng sư ông trầm trầm vang dội, hết bài kinh con cháu rạp đầu.  Ba tuần trà một bát cơm, anh Huân, anh nghĩ gì giây phút ấy? Ngà thấy lạnh buồn bởi phút giây nữa thôi mợ sẽ về với đất mà tiễn đưa mợ chỉ là những eo xèo tai ương khôn bề gột rữa.  Mấy tháng trước mợ đã thở than, “bố mợ bao lâu nay cố gắng làm mọi điều lành, sao giờ đây…” Ngà nhìn mợ thêm lần nữa. Cả đời mợ nhẫn nại lặng thầm, ngay cả giây phút sau cùng sự im lặng trong lành của mợ vẫn là giòng nước êm che lấp những bão bùng đã xảy ra, mang những đứa con ra khỏi tranh chấp oán hờn mà cùng nhau tiễn mợ.  Mợ, không có tội ác nào làm vẩn được thiện lương của mợ. Mợ hãy tin thiện lương ấy rồi sẽ rửa lành mọi vết thương. Mợ hãy tuôn ra biển, hãy đến với bố.  

Chuông mõ lại khơi, Ngà theo với những tấm khăn tang quì lạy mợ lần chót.  Nắm đất cuối cùng đưa mợ về cõi không lả tả rơi, Ngà đi giữa hai hàng cây rợp bóng trên lối nhỏ quanh co tưởng như mình đã về đến quê nhà.  Tàu SS-0682-IA giờ không còn dấu tích.


Lưu Na

03232020


Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.
Buổi sáng cuối cùng ở Chamonix im lặng lạ thường. Suốt đêm qua, tôi đã để cửa sỗ mở toang, nên khi giựt mình thức dậy, ánh sáng trong suốt của núi tràn đầy phòng. Tấm mền len và drap giường trắng lóa như được phủ lân tinh. Không một tiếng động nào từ dưới đường phố vọng lên. Chỉ có hơi lạnh. Tôi nằm co ro và nghĩ đến ly cà-phê đen. Mùi thơm sẽ bốc lên cùng hơi nóng, rồi tan dần vào không khí. Giống như ký ức. Đôi giày đóng đầy đất bùn và gậy trekking đã xếp gọn gàng trong bao duffle cùng với áo quần đi núi từ đêm hôm qua. Chúng nằm bên cửa, sẵn sàng lên đường. Bên ngoài cửa sổ, rặng núi Mont Blanc vẫn kia, vẫn vĩ đại, vẫn trùng điệp, vẫn lặng lẽ xa xăm. Tôi nghĩ đến 11 ngày vừa qua và cảm thấy buồn buồn, làm như có điều gì tôi đã đánh mất, hay đã để quên trên ngọn núi kia, ở đâu đó, trong quãng đường dài tôi đã đi.
Năm nào cũng vậy, tháng 7 tháng 8, mùa mưa, mùa lũ lụt lại về trừng phạt quê hương Việt Nam. Từ rất xa xôi, người Việt khắp nơi thấp thỏm buồn rầu và lo sợ cho cảnh ngập lụt, bão tố hoảng loạn ở nhà, không riêng chỉ miền Trung mà cả miền Nam cũng lụt, miền Bắc và Bắc trung phần bị càn quét dữ dội do bão Bualo, rồi kế đến là bão Matno. Miền Bắc và cả thủ đô Hà Nội mưa bão trước chưa kịp khô, lại ngập nước, đường phố hóa thành sông do vỡ đập nước Lạng Sơn, nước sông dâng cao đỉnh điểm, tại thành phố còn có một số tổ chức cứu trợ, nhưng kẹt là ở các tỉnh miền cao, nước lên quá mau, đa số dân cư phải leo vội lên trú trên những mái nhà cao hơn. Cũng tại xả nước các đập thủy điện nữa v.v…


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.