Hôm nay,  

Ơn Sâu Nghĩa Nặng

24/07/202014:24:00(Xem: 4066)
Nguyen Manh San-1
Trên thế gian này trong đời sống hàng ngày, ai cũng có những lúc thăng trầm trong đời sống riêng tư của mỗi người, lúc gian nan khốn khó, lúc thành công hay thất bại, lúc hạnh phúc hay đau khổ, nhưng nhờ vào những vị ân nhân có lòng bác ái, giúp đỡ lẫn nhau một cách trực tiếp hay gián tiếp, để cùng nhau vượt qua được những sự gian nan thử thách trên trần gian này, rồi cùng nhau tiến tới sự thành công trong tương lai mà không một ai có thể biết trước được. Do đó, không ai trong chúng ta là không có những vị ân nhân giúp đỡ chúng ta, nếu không về vật chất thì cũng về tinh thần, ít nhất cũng phải là một lần trong đời chúng ta nhận được sự giúp đỡ này. Chính vì ỳ nghĩa cao quý nhất đời qua những hành động bác ái vô giá này, mà người Việt Nam chúng ta nói riêng, không bao giờ có thể quên 2 câu nói nằm lòng là: Uống Nước Phải Nhớ Nguồn hay Ăn Quả Nhớ Kẻ Trồng Cây và để tỏ lòng biết ơn sâu xa qua 2 câu nói tràn đầy ý nghĩa này, nói riêng những người Việt Nam tỵ nạn cộng sản đã định cư tại Hoa Kỳ vào Tháng Tư Đen 1975 cho đến nay, mà cứ mỗi năm vào dịp Lễ Tạ Ơn của người dân Hoa Kỳ, chúng ta lại có dịp cùng nhau tỏ lòng biết ơn của chúng ta đối với các vị ân nhân của chúng ta bằng nhiều hình thức cụ thể khác nhau, đối với những ân nhân người Hoa Kỳ đã bảo trợ cho chúng ta ra khỏi các trại tạm cư, để được hòa nhập vào đời sống hàng ngày trong xã hội Hoa Kỳ, tại đất nước Tự Do Dân Chủ này. 
Hôm nay ở cái tuổi gần đất xa trời tám bó, tôi ngồi một mình trong đêm khuya thanh vắng, hồi tưởng lại những ngày khi tôi còn thơ ấu, Mẹ tôi đưa tôi với 3 cô em gái của tôi rời khỏi tỉnh Bắc Ninh về Hanoi sinh sốngTại đây, gia đình tôi được 2 người em trai ruột của Mẹ tôi, đã tận tình giúp đỡ cho cả gia đình chúng tôi từ tinh thần lẫn vật chất, đó là nhạc sĩ Hoàng Trọng và nhạc sĩ Hoàng An. Riêng cá nhân tôi ghi dấu những mối chân tình sâu đậm đặc biệt của 2 người Cậu ruột, nhạc sĩ Hoàng Trọng và nhạc sĩ Hoàng An, đã dành cho tôi nhiều sự thương mến, những kỷ niệm quý báu nhất trong thời niên thiếu của tôi với 2 người Cậu ruột này, mà trong đời tôi không bao giờ có thể quên được như sau: 
Trong khoảng thời gian đầu mới từ tỉnh Bắc Ninh về Hanoi định cư, Mẹ tôi làm những loại bánh ngọt tại nhà, theo đúng y như công thức của người Pháp chỉ dạy, rồi đem đến cho một tiệm bán bánh ngọt của người Pháp tiêu thụ và để giúp thêm một chút ít lợi tức hàng tháng cho Mẹ tôi, nên vào hai ngày nghỉ cuối tuần, nhạc sĩ Hoàng An là em trai út của Mẹ tôi mà tôi gọi bằng Cậu, đánh đàn Accordion trong một vũ trường dành cho người Pháp, tôi vác trên vai một thùng bánh ngọt Caravat, rồi Cậu tôi chở tôi trên xe vespa đến vũ trường buổi tối, để bán bánh cho các quan khách khiêu vũ mua ăn tại chỗ. Điều đáng nhớ nhất là lúc đó tôi còn nhỏ tuổi, nên tôi rất sợ những ông Tây bà Đầm uống rượu ngà ngà say, noi to tiếng với nhau, Cậu tôi thấy tôi lo sợ nên phải cho tôi ngồi bán bánh caravat ngay cạnh chỗ Cậu tôi ngồi đánh đàn, để tôi không còn bị lo sợ nữa, nhất là thỉnh thoảng mấy ông Tây đến véo tai tôi hoặc vuốt má tôi tỏ cử chỉ thương mến tôi, vì thấy mặt mũi tôi trông khôi ngô kháu khỉnh. Ngồi nghĩ lại những kỷ niệm này, tôi thấy thương nhớ Cậu nhạc sĩ Hoàng An của tôi vô cùng, không những Cậu tôi không xấu hổ đem theo tôi đi bán bánh ngọt trong vũ trường, mà còn để tôi ngồi gần bên phía Cậu tôi ngồi đánh đàn trong ban nhạc, rồi trước khi vũ trường đóng cửa, Cậu tôi tỏ vẻ hãnh diện, dẫn tôi ra giới thiệu với mấy ông Tây bà Đầm khiêu vũ: Đây là thằng cháu ruột của ông. Cậu nhạc sĩ Hoàng An mến yêu của tôi đã qua đời ngày 4 tháng 7 năm 1971 tại Sàigòn, cách đây đã 50 năm rồi. Cố nhạc sĩ Hoàng An là một người chồng chung thủy với vợ, là một người Cha gương mẫu hết lòng tận tụy chăm sóc con cái và còn là một nhạc sĩ được nhiều người quý mến vì tính tình hiền hòa của Cậu tôi. 
Người Cậu ruột thứ hai của tôi, tức là anh ruột của nhạc sĩ Hoàng An và là em trai sát Mẹ tôi, là một nhạc sĩ nổi tiếng tài danh Hoàng Trọng. Trước năm 1954 khi gia đình 4 Mẹ con tôi mới dọn từ tỉnh Bắc Ninh về Hanoi như đã nói ở trên, gia đình chúng tôi được Cậu tôi cung cấp cho nơi ăn chốn ở, để cùng sống chung trong cùng một nhà với Cậu tôi trong vài năm đầu. Vì Bố tôi mất sớm khi tôi mới lên 9 tuổi nên Cậu tôi coi tôi như con ruột của Cậu tôi. Sau khi Mẹ con chúng tôi di cư vào Miền Nam VN 1954, tôi được Cậu tôi chỉ dạy tôi về âm nhạc và sáng tác nhạc, nhất là Cậu tôi mời nhạc sĩ dương cầm Vũ Ngọc Lan về dạy đàn dương cầm cho nữ ca sĩ Bạch La là ái nữ duy nhất của Cậu tôi, nên tôi cũng được học đàn dương cầm cùng với nữ ca sĩ Bạch La. Tôi vẫn còn nhớ mãi một kỷ niệm hết sức đặc biệt với Cậu Hoàng Trọng của tôi, mà trong đời tôi sẽ không bao giờ có thể quên được kỷ niệm này. Vì những năm đầu tiên từ Miền Bắc di cư vào Miền Nam, phương tiện thâu băng nhạc vẫn còn eo hẹp, chưa có những phòng thâu băng chuyên nghiệp như những năm sau này, nên mỗi lần Cậu tôi sáng tác một ca khúc mới và ca khúc này đã được xuất bản, Cậu tôi muốn phát thanh cho những khách bộ hành dạo phố trên đường Lê Lợi, Saigon nghe những ca khúc mới này, qua máy phát thanh được đặt tại trước cửa tiệm sách Khai Trí, thì Cậu tôi phải cho thu âm bản nhạc mới này tại nhà của Cậu tôi. Rồi có một lần Cậu tôi thâu bản nhạc mới tại nhà, tôi được phép đệm đàn guitar nhưng có một đoạn nhạc, tôi chuyển âm giai chậm mất một nhịp, Cậu tôi trừng đôi mắt nhìn tôi, làm tôi sợ quá xuýt tí nữa tôi vãi nước đái ra quần. Tôi nói ra câu này sẽ không làm ngạc nhiên đối với tất cả những ca sĩ nhạc sĩ nào đã từng cộng tác với Cậu tôi trong ban nhạc Đại Hòa Tấu Tiếng Tơ Đồng trước năm 1975 và mọi người coi Cậu tôi như là một Thầy Đồ Nho ít nói, lúc nào nét mặt cũng nghiêm khắc, cùng lắm chỉ tủm tỉm cười. Cho đến giờ phút này, cứ mỗi lần nhớ tới Cậu tôi, thì tôi vẫn cảm thấy ân hận một điều trong lương tâm tôi là, mặc dầu tôi là người lo liệu tất cả các giấy tờ và thủ tục pháp lý di trú Hoa Kỳ, cho gia đình Cậu tôi sang tới Hoa Kỳ, theo diện đoàn tụ gia đình với Mẹ của tôi tại đây. Nhưng tôi chưa kịp được đền ơn báo hiếu Cậu tôi một điều gì, đối với những gì mà Cậu tôi đã tận tình giúp đỡ cho gia đình tôi và cho riêng tôi khi còn ở quê nhà, thì Cậu tôi đã vĩnh viễn nhắm mắt lìa trần tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên chỉ còn một chút điều an ủi trong lương tâm tôi, là tôi đã có mặt tại nhà hòm để đọc kinh cầu nguyện cho Linh Hồn Giuse Hoàng Trọng là người Cậu của tôi, tiếp theo được hiện diện trong Thánh Lễ An Táng tại Nhà Thờ trong thiên chức Phó Tế của tôi tại Bàn Tiệc Thánh và cuối cùng tiễn đưa Cậu tôi đến nơi an nghỉ cuối cùng, trong tình thương yêu của Chúa Kitô. Nói tóm lại, ngày 4 tháng 7, 2020 vừa qua là ngày Giỗ kỷ niệm 50 năm của nhạc sĩ Hoàng An và ngày 16 tháng 7 năm 2020 vừa qua cũng là ngày Giỗ kỷ niệm 22 năm của nhạc sĩ Hoàng Trọng, tôi xin kính cẩn thắp nén hương lòng để tưởng nhớ 2 người Cậu ruột yêu quý nhất đời của tôi.
Hồi ký PT. Nguyễn Mạnh San

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.
Buổi sáng cuối cùng ở Chamonix im lặng lạ thường. Suốt đêm qua, tôi đã để cửa sỗ mở toang, nên khi giựt mình thức dậy, ánh sáng trong suốt của núi tràn đầy phòng. Tấm mền len và drap giường trắng lóa như được phủ lân tinh. Không một tiếng động nào từ dưới đường phố vọng lên. Chỉ có hơi lạnh. Tôi nằm co ro và nghĩ đến ly cà-phê đen. Mùi thơm sẽ bốc lên cùng hơi nóng, rồi tan dần vào không khí. Giống như ký ức. Đôi giày đóng đầy đất bùn và gậy trekking đã xếp gọn gàng trong bao duffle cùng với áo quần đi núi từ đêm hôm qua. Chúng nằm bên cửa, sẵn sàng lên đường. Bên ngoài cửa sổ, rặng núi Mont Blanc vẫn kia, vẫn vĩ đại, vẫn trùng điệp, vẫn lặng lẽ xa xăm. Tôi nghĩ đến 11 ngày vừa qua và cảm thấy buồn buồn, làm như có điều gì tôi đã đánh mất, hay đã để quên trên ngọn núi kia, ở đâu đó, trong quãng đường dài tôi đã đi.
Năm nào cũng vậy, tháng 7 tháng 8, mùa mưa, mùa lũ lụt lại về trừng phạt quê hương Việt Nam. Từ rất xa xôi, người Việt khắp nơi thấp thỏm buồn rầu và lo sợ cho cảnh ngập lụt, bão tố hoảng loạn ở nhà, không riêng chỉ miền Trung mà cả miền Nam cũng lụt, miền Bắc và Bắc trung phần bị càn quét dữ dội do bão Bualo, rồi kế đến là bão Matno. Miền Bắc và cả thủ đô Hà Nội mưa bão trước chưa kịp khô, lại ngập nước, đường phố hóa thành sông do vỡ đập nước Lạng Sơn, nước sông dâng cao đỉnh điểm, tại thành phố còn có một số tổ chức cứu trợ, nhưng kẹt là ở các tỉnh miền cao, nước lên quá mau, đa số dân cư phải leo vội lên trú trên những mái nhà cao hơn. Cũng tại xả nước các đập thủy điện nữa v.v…


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.